Đề tài: Phân tích tác động của chính sách tiền tệ đến sản
lượng và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2010 -2014
Chương I. LÝ THUYẾT CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.
-
-
-
-
-
-
Khái niệm, mục tiêu, công cụ của chính sách tiền tệ
1.1.
Khái niệm, phân loại
1.1.1. Khái niệm
Chính sách tiền tệ (CSTT) là quá trình quản lí cung tiền của cơ quan quản lí tiền
tệ (có thể là ngân hàng trung ương), thường là hướng tới một lãi suất mong
muốn để đạt được những mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế - như kiềm
chế lạm phát, duy trì ổn định tỉ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay
tăng trưởng kinh tế.
CSTT bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián
tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, quy định mức dự trữ bắt buộc hoặc
trao đổi trên thị trường ngoại hối.
1.1.2. Phân loại
CSTT có hai loại là CSTT mở rộng và CSTT thắt chặt. Tùy theo tình hình hoạt
Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ
Thông qua chính sách tiền tệ, Ngân hàng trung ương góp phần quan trọng
trong việc kiểm soát lạm phát thông qua việc thực thi chính sách tiền tệ mở rộng
hay thắt chặt. Kiểm soát lạm phát trước hết ổn định giá trị đối nội của đồng tiền
tức là sức mua của nó với hàng hóa và dịch vụ trong nước. Bên cạnh đó, nó còn
được biểu hiện giá trị đối ngoại của đồng tiền, được đo bằng giá hối đoái thả
nổi.Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền cũng không đồng
nghĩa với tỷ lệ lạm phát bằng không vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển
được bởi để có một tỷ lệ lạm phát giảm xuống thì phải chấp nhận một tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên.
1.2.2.
Tạo công ăn việc làm
Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng đến việc sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng
đến tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu công ăn
việc làm cao không đồng nghĩa với tỷ lệ thất nghiệp bằng không. Bởi vì trong
thực tế một số người thất nghiệp là có lợi cho nền kinh tế. Đó là những người
rời bỏ công việc hiện tại để tìm một công việc mới thích hợp hơn, hoặc để theo
đuổi những mục đích khác như học tập, lao động, du lịch...Và khi họ quyết định
trở lại lao động thì phải mất một thời gian nhất định để tìm một công việc mới.
Mặt khác, thông thường để có một tỷ lệ thất nghiệp thấp thì thường phải chấp
nhận một tỷ lệ lạm phát cao. Hai mục tiêu này triệt tiêu nhau trong quá trình
thực thi chính sách tiền tệ.
1.2.3.
Tăng trưởng kinh tế
mà không được dùng cho vay hoặc đầu tư, mức dự trữ này do Ngân hàng trung
ương quy định và bằng một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi của khách
hàng tại các tổ chức tín dụng.
- Tác động: Việc thay đổi dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân
tiền (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các ngân hàng thương mại.
Mặt khác, tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lãi suất cho vay của hệ thống
ngân hàng thương mại. Khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho
vay của các ngân hàng thương mại giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng
(giảm), từ đó làm lượng tiền cung ứng giảm (tăng).
1.3.3. Chính sách tái chiết khấu
- Khái niệm: Đây là hoạt động mà Ngân hàng trung ương thực hiện cho vay
ngắn hạn đối với các ngân hàng thương mại thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu
bằng việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho
vay tái chiết khấu (cửa sổ chiết khấu)
- Cơ chế tác động: Khi ngân hàng trung ương tăng (giảm) lãi suất chiết khấu
sẽ hạn chế (khuyến khích) việc các ngân hàng thương mại vay tiền tại ngân
4
hàng trung ương, làm cho khả năng cho vay của ngân hàng thương mại giảm
(tăng). Từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm (tăng). Mặt khác
khi Ngân hàng trung ương muốn hạn chế ngân hàng thương mại vay chiết khấu
của mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại.
Ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến làm
công cụ tái chiết khấu) thì Ngân hàng Trung ương còn thực hiện nghiệp vụ này
thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các ngân hàng thương mại.
1.3.4. Quản lí hạn mức tín dụng
- Khái niệm: là việc Ngân hàng trung ương quy dịnh tổng mức dư nợ của
các ngân hàng thương mại không được vượt quá một mức nào đó trong một thời
gian nhất định (thường là một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung
2.2.
-
5
Mục tiêu của chính phủ:
+ Kiềm chế lạm phát
+ Ổn định mưc sản lượng
làm cung tiền giảm, sản lượng giảm, lạm phát giảm
Kết quả: kinh tế đạt trạng thái cân bằng tại mức sản lượng tiềm năng, toàn dụng
nhân công, không gây lạm phát.
3. Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc sử dụng các công cụ của
chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế:
3.1. Tình hình lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc
năm 2011:
Có thể nói năm 2011 là một năm đầy biến động đối với nền kinh tế Trung Quốc
với mức lạm phát cao nhất và tốc độ tăng trưởng kinh tế đầy khó khăn.
Ngay từ nửa cuối năm 2010 lạm phát ở Trung Quốc đã diễn biến hết sức phức
tạp, bước sang năm 2011, CPI liên tục tăng cao và đạt mức kỷ lục 6,5% vào
tháng 7 - mức cao nhất trong vòng 37 tháng. Sau khi đạt mức kỷ lục trong tháng
7, CPI đã liên tục suy giảm và mức độ suy giảm ngày càng lớn. Mặc dù vậy,
tính chung cả năm 2011 CPI vẫn tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn
nhiều so với mục tiêu đề ra là 4%
Diễn biến lạm phát ở Trung Quốc năm 2011
-
-
năm GDP tăng trưởng 9,2%. Nếu phân theo ngành nghề thì khu vực I (nông
nghiệp) tăng trưởng 4,5%; khu vực II (công nghiệp và xây dựng) tăng trưởng
10,6%; khu vực III (dịch vụ) tăng trưởng 8,9%.
Một số liệu thống kê khác cũng cho thấy những động lực thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng đang suy giảm, cả năm đầu tư cho cơ sở hạ tầng tăng trưởng 5,9% giảm
đến 14,3% so với cùng kì năm trước. Bên cạnh những giảm sút của đầu tư và
tiêu dùng còn phải kể đến xuất khẩu. Năm 2011, thặng dư thương mại của
Trung Quốc có xu hướng thu hẹp, chỉ chiếm 2% GDP và chiếm chưa đến 4,3%
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Cả năm tỷ lệ đóng góp trong tăng trưởng GDP
6
của xuất khẩu ròng còn âm (-5,8%), của tiêu dùng là 51,6% và của đầu tư là
54,2%.
3.2. Giải pháp của Trung Quốc
Với tình hình trên thì việc kiềm chế lạm phát và thúc đấy tăng trưởng kinh tế
là ưu tiên số 1 trong hoạch định và thực thi chính sách của Trung Quốc. Ngân
hàng Nhân dân Trung Quốc (PBC) đã đưa ra những mục tiêu và công cụ của
chính sách tiền tệ để giải quyết bài toán khó trên.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đưa
ra lúc bấy giờ là duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Cũng giống như NHNN Việt Nam, PBC sử dụng các công cụ: dự trữ bắt
buộc, thị trường mở, tái chiết khấu, tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá để thực hiện
chính sách tiền tệ.
Một là, công cụ dự trữ bắt buộc: Năm 2011, để kiềm chế lạm phát, kiểm soát
tăng trưởng kinh tế và tổng phương tiện thanh toán(M2), PBC điều chỉnh tăng
tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Cụ thể ngày 20/6, PBC đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp
dụng đối với các tổ chức tín dụng lớn lên mức 21,5%/năm, các tổ chức tín dụng
nhỏ và vừa lên 19,5%/năm.
Việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc được phân thành hai khối là: các tổ chức
phẩm hạ nhiệt xuống 1,8%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 7,8% so với cùng kì
năm trước. Đây là 1 dấu hiệu tốt cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang dần
được phục hồi. Tuy còn chậm nhưng đảm bảo vức chắc tốc độ tăng trưởng, đẩy
lùi lạm phát.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà những giải pháp trên mang lại,
còn có những hạn chế, cụ thể là việc thay đổi tính linh hoạt dẫn tói chính sách
rối loạn, sự không chắc chắn của các khoản đầu tư, đặc biệt khi lãi suất nhạy
cảm. Thêm vào đó, lãi suất có tính phản hồi vì lãi suất là chi phí và chịu ảnh
hưởng của lạm phát làm giảm sự thịnh vượng.
Mặc dù còn nhiều bất cập xong các công cụ của chính sách tiền tệ đã giúp
nhà nước Trung Quốc thoát khỏi tình trạng khó khăn, đẩy lùi lạm phát, tăng
trưởng kinh tế. Điều này rất đáng để các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam học tập.
Chương II. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN
SẢN LƯỢNG VÀ LẠM PHÁT
Năm 2010
Chính sách tiền tệ năm 2010
Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Ngân hàng nhà nước đã
quản lý tốt qua 4 lĩnh vực:
Dự trữ bắt buộc: Điều hành lượng tiền cung ứng thông qua các công cụ CSTT
để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của các NTTM và nền kinh tế, tác động làm
giảm mặt bằng lãi suất thị trường. Trong đó nổi bật là việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt
buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống
2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng, linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở với khối
1.
Năm 2010 kinh tế Việt Nam một lần nữa lại chứng kiến sự biến động mạnh
của lạm phát và những bất ổn đi kèm cần phải cân bằng hài hòa giữa tăng
trưởng và bình ổn lạm phát. Mục tiêu về lạm phát của năm là 7-8% và thực hiện
là 11,8%. Vào cuối năm, mức lạm phát dài hạn ở mức khoảng 8%. Năm 2010
lạm phát mục tiêu đề ra là 7-8%, thấp hơn nhiều so với mức bình quân đề ra của
3 năm trước đó (2007-2009: 13,9%). Điều này cho thấy kỳ vọng quá cao của
Chính phủ. Do vậy NHNN bắt buộc phải cắt giảm cung tiền và giảm tăng
trưởng tín dụng đột ngột gây ra các hệ quả không như mong muốn.
Sản lượng 2010:
•
Tổng sản phẩm trong nước tăng khoảng 6,5%, chỉ số giá tiêu dùng tăng
không quá 7%, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế ở mức thấp,
tổng cầu của nền kinh tế gia tăng do tác động theo độ trễ của CSTT nới lỏng
trong năm 2009 và mở rộng đầu tư vào năm 2010. Tổng sản lượng lương thực
có hạt trong năm ước đạt 44,6 triệu tấn và tăng 2,9% so với năm 2009.
3.
Đánh giá chính sách tiền tệ năm 2010
9
•
o
o
Việc bơm tiền ra để đầu tư kích thích tăng trưởng kinh tế, song hệ số ICOR
Về thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã ổn định, nguồn cung ngoại tệ được
cải thiện đáng kể, tỷ giá diễn biến phù hợp với mục tiêu khuyến khích xuất
khẩu, góp phần hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế (đến
ngày 15/12/2010, tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng thương mại tăng
5,53% so với cuối năm 2009. Giá vàng trong nước diễn biến tương đối sát với
giá vàng thế giới, sự chênh lệch ngày càng được thu hẹp.
Về hoạt động tín dụng: tính đến 31/12/2010 ước tăng 29,81% so với cuối năm
2009, trong đó tín dụng VND tăng 25,3%, tín dụng ngoại tệ tăng 49,3%. Nếu
trư hư số do tỷ giá và giá vàng tăng thì tổng dư nợ tăng 27,6%, trong đó, tín
dụng VND tăng 25,3% tín dụng ngoại tệ tăng 37,7%.
Hạn chế: Mặc dù năm 2010 đã được phục hồi sau những năm khủng hoảng
toàn cầu nhưng nhìn chung chưa thực sự ổn định và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố
bất lợi có ảnh hưởng nhiều mặt đến kinh tế tài chính ở nước ta như:
o Kết cấu hạ tầng còn yếu kém, hiệu quả đầu tư thấp
Các cân đối về CSTT chưa vững chắc: bội chi lớn, nhập siêu cao, cán cân thanh
toán tổng thể vẫn còn thâm hụt, dự trữ ngoại tệ giảm, lãi suất cho vay cao.
Năm 2011
10
1.
Chính sách tiền tệ năm 2011
Năm 2011 nhà nước ta sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt. Các công cụ sử
dụng:
- Lãi suất: Sau khi tăng lãi suất (LS) cơ bản tháng 11/2010, điều chỉnh
giảm giá VND (giảm 9,3% giá trị VND so với USD) và thu hẹp biên độ dao
hàng Nhà nước thực hiện thắt chặt tiền tệ, và việc đưa kinh doanh vàng vào
khuôn khổ luật pháp.
2.
Các tác động của chính sách tiền tệ năm 2011 đến sản lượng và lạm phát:
a, Lạm phát:
Năm 2010
Tính chung trong cả năm 2010, giáo dục là nhóm tăng giá mạnh nhất
trong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%). Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở vật liệu xây dựng (15,74%). Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá
với mức giảm gần 6% trong năm 2010.
Năm 2011:
12
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) chín tháng năm 2011 ước tính tăng
5,76% so với cùng kỳ năm 2010. CPI cả nước tháng 10 tăng 21.59% so với
cùng kỳ năm trước và tăng 17.05% so với tháng 12 năm 2010. Tính chung 10
tháng, CPI tăng 18.5% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số lạm phát năm 2011 tăng cao so với 2010
b, Sản lượng
- Do phải tập trung mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
nên tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2011 có bị ảnh hưởng,
ước đạt 5,57%.
✓ Kiểm soát được gia tăng khối lượng tín dụng đối với nền kinh tế
định
✓ Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán hàng năm nhìn chung giữ ổn
✓ Đã thực hiện tốt yêu cầu ổn định tỷ giá ngoại tệ, cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế, góp phần ổn định giá cả nói chung.
b, Một số hạn chế
Đối với kinh tế vĩ mô:
- Diễn biến kinh tế và thị trường thế giới có nhiều rủi ro, khó dự báo
được chính xác mức độ ảnh hưởng đối với kinh tế trong nước, do độ mở cao của
nền kinh tế nước ta (năm 2010, kim ngạch xuất-nhập khẩu so với GDP là
140,9%).
- Chênh lệch “âm” khá lớn giữa tiết kiệm và đầu tư so với GDP trong
nhiều năm (2010: -11,5%; 2009: -10,8%; 2008: -13,1%), phải huy động vốn từ
nước ngoài để bù đắp, hiệu quả đầu tư thấp, gây sức ép đối với lãi suất thị
trường và các cân đối vĩ mô (năm 2009, nhiều nước ASEAN có chênh lệch
“dương”, Thái Lan: 9,9%, Philippines: 1%, Singapore: 21,1%, Indonesia:
0,8%,...).
- Chỉ số giá tiêu dùng 2010 tăng ở mức cao (tăng 11,75%) là do chi phí
đẩy, gia tăng tổng cầu và yếu tố tâm lý, tác động tiêu cực đối với hoạt động sản
xuất - kinh doanh và an sinh xã hội, nhất là đời sống của những người làm công
ăn lương, có thu nhập thấp.
14
- Nhập siêu ở mức cao, do cơ cấu kinh tế chậm thay đổi và diễn biến
phức tạp của kinh tế thế giới, làm tăng áp lực lên cán cân thanh toán quốc tế, tỷ
giá và lạm phát (nhập siêu 2010 là 12,4 tỷ USD, cao hơn năm 2009; trong khi
và ổn định kinh tế vĩ mô.
a.
-
Cơ chế điều hành các loại lãi suất năm 2012 được điều chỉnh linh hoạt:
Các lãi suất chủ chốt của NHNN được điều hành theo cơ chế: “trần” là lãi suất
tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu, biên độ giao động +/- 2% để điều tiết
15
-
-
thị trường, lãi suất cơ bản và lãi suất thị trường mở được ấn định biến động
trong biên độ giữa lãi suất tái cấp vốn(trần) và lãi suất chiết khấu(sàn).
Các lãi suất điều hành của NHNN và lãi suất huy động vốn của NHTM được
điều chỉnh giảm xuống theo xu hướng giảm thấp của CPI (3/2012-10/2012),
đảm bảo nguyên tắc thực dương, nguồn vốn huy động 10 tháng tăng +14.2%,
thanh khoản của hệ thống Ngân hành được cải thiện bằng nguồn vốn hút vào từ
nền kinh tế chứ không phải từ nguồn tái cấp vốn như năm 2011
Cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với lãi suất huy động vốn trên 12 tháng và lãi suất
cho vay trung dài hạn Cơ chế lãi suất huy động lãi suất thỏa thuận được thực
hiện theo Thông tư 19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012: “Lãi suất tiền gửi có kỳ
hạn 12 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung cầu vốn thị trường”.
b. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Từ năm 2009 -2012, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD đối với tiền gửi
VND cố định 3% và không thay đổi.
Tái cấp vốn
lượng tiền tệ cung ứng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục
tiêu giảm lãi suất huy động và cho vay của TCTD, giải quyết khó khăn cho
doanh nghiệp
e. Kiểm soát hạn mức tín dụng
Năm 2012 là lần đầu tiên NHNN quyết định phân bổ hạn mức tín dụng cho
từng NHTM theo các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn,
năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực và tuân thủ các
quy định. Theo đó, các nhóm được phân loại bởi NHNN được áp dụng các hạn
mức như sau: Nhóm thứ 1tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 17%; nhóm thứ 2
tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 15%; nhóm 3 được tăng trưởng 8%; nhóm 4
thuộc diện phải cơ cấu lại, không được tăng trưởng tín dụng.
2. Tác động đến sản lượng và lạm phát
Năm 2012 là năm có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất trong 10 năm liên
tiếp. Nhưng nếu nhìn riêng từng quý trong năm 2012 thì thấy quý sau tăng
trưởng hơn quý trước. Điều này cho thấy nền kinh tế có dấu hiệu tự chuyển
biến, cộng thêm sự tác động của điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp
Tốc độ tăng GDP năm 2012 chỉ đạt hơn 5,03% (thấp nhất trong nhiều năm
trở lại đây), chỉ cao hơn so với tốc độ tăng trưởng 4,77% năm 1999 nhưng lại
thấp hơn cả tốc độ tăng 5,32% năm 2009. Rõ ràng những bất ổn kinh tế vĩ mô
tích tụ trong mấy năm gần đây đã buộc Việt Nam phải chuyển trọng tâm chính
sách từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế
lạm phát.
GDP quí I chỉ tăng có 4,64%, quí II nhích lên 4,8% và quí III tăng 5,05% đều là những quí có tốc độ tăng trưởng thấp hơn hẳn trong vòng 5 năm qua,
song Việt Nam vẫn cố duy trì mục tiêu tăng trưởng ban đầu 6-6,5% và chỉ chấp
nhận không thể đạt được mục tiêu này vào mấy tháng cuối năm.
Biểu hiện rõ nhất của cố gắng tăng trưởng là tiếp tục đẩy mạnh đầu tư mặc
dù hiệu quả đầu tư chưa được cải thiện và chương trình cơ cấu lại đầu tư, trong
đó tập trung cơ cấu lại đầu tư công diễn ra chậm chạp do gặp nhiều trở ngại cả
từ tư duy, quy hoạch, cơ chế quản lý cũng như kiểm tra giám sát. Tổng vốn đầu
Những kết quả tích cực
Thứ nhất, các chỉ tiêu tiền tệ tăng trưởng hợp lý (tổng phương tiện thanh
toán cả năm 2012 tăng khoảng 20%, tín dụng tăng khoảng 7%) phù hợp với
mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức thấp 6,81%, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ
tăng trưởng kinh tế ở mức 5,03%.
Thứ hai, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh về mức định
hướng của NHNN đề ra ngay từ đầu năm, nhưng với lộ trình giảm nhanh hơn
dự kiến, phù hợp với diễn biến kinh tê vĩ mô, đặc biệt là diễn biến của lạm phát.
Lãi suất huy động giảm từ 3 - 6%/năm, lãi suất cho vay giảm 5 - 9%/năm so với
cuối năm 2011 và đã trở về với mức lãi suất cuối năm 2007.
Thứ ba, tuy tín dụng tăng trưởng thấp, nhưng cơ cấu tín dụng chuyển dịch
theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương của Chính phủ. Đến ngày
20/12/2012, tín dụng tăng 6,45% so với cuối năm 2011, trong đó tín dụng bằng
VND tăng 8,92%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 3,51%; tín dụng đối với xuất
khẩu, nông nghiệp, nông thôn tăng cao hơn tăng trưởng tín dụng chung, tỷ trọng
dư nợ cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích giảm so với cuối năm 2011.
Thứ tư, tính đến ngày 20/12/2012 dư nợ cho vay bằng VND có mức lãi suất
trên 15%/năm chỉ chiếm tỷ trọng 18,7%, giảm so với mức 65% trước ngày
15/7/2012.
Thứ năm, thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) được cải
thiện, số dư tiền gửi của TCTD tại NHNN luôn cao hơn so với yêu cầu dự trữ
bắt buộc, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn bằng VND giảm xuống mức khoảng 95%;
lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh từ 10 - 11%/năm so với cuối
năm 2011 và hiện ổn định ở mức thấp.
Thứ sáu, nợ xấu của các TCTD sau khi tăng mạnh vào những tháng đầu
năm đã được khống chế và từng bước xử lý.
Thứ bảy, thị trường ngoại hối và tỷ giá ổn định, đến ngày21/12/2012 tỷ giá
mua trung bình của các ngân hàng thương mại (NHTM) giảm 0,96% so với cuối
Đối với việc giảm lãi suất và áp trần lãi suất cho vay cho tất cả các đối
tượng mục tiêu nền tảng của nước ta vẫn là kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô.
Trong chiều hướng chung, có thể chúng ta kiềm chế lạm phát, nhưng nguy cơ
lạm phát vẫn tăng trở lại là không nhỏ. Do vậy, mỗi bước đi của NHNN về lãi
suất phải thận trọng.
Trong năm 2012, NHNN cam kết bình quân mỗi quý giảm 1% lãi suất, song
có những giai đoạn giảm rất nhanh xuống 9%/năm do biến động lạm phát không
lớn. Đến tháng 9 lạm phát tăng cao bất thường, do đó chỉ khi NHNN đánh giá
chắc chắn lạm phát tháng 11, tháng 12 ở mức kiểm soát được thì mới giảm lãi
suất xuống 8%/năm.
Năm 2013
1.
Bối cảnh 2013
20
Năm 2012, với hệ quả của các biện pháp giảm tổng cầu (chính sách tiền tệ
và tài khóa thắt chặt theo Nghị quyết 11 của Chính phủ) đã tác động kìm hãm
sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Số lượng doanh nghiệp
(DN) ngưng hoạt động, phá sản, giải thể có xu hướng tăng nhanh từ đầu năm.
Khó khăn dồn cả sang năm 2013:
•
Bước vào năm 2013, tuy tình hình có cải thiện hơn, nhưng về cơ bản nền kinh tế
đang đối diện với 4 thách thức ngắn hạn
thuế, thời hạn nộp tiền sử dụng đất, miễn giãm thuế... Tại Kỳ họp thứ 5 (tháng
5-6/2013), Quốc hội đã sửa đổi một số điều của Luật Thuế thu nhập DN và Luật
21
Thuế giá trị gia tăng nhằm miễn giảm thuế cho một số đối tượng để kích thích
thị trường và giảm khó khăn cho DN. Áp dụng thuế suất thu nhập DN là 22% từ
tháng 1/2014 và 20% từ tháng 01/2016 để khuyến khích DN mở rộng đầu tư,
giảm 50% thuế giá trị gia tăng cho nhà giá thấp….
Các công cụ của chính sách tiền tệ được nhà nước sử dụng là:
- Nghiệp vụ thị trường mở: điều chỉnh linh hoạt, kịp thời theo cả hai chiều
mua, bán kết hợp với phát hành tín phiếu NHNN để kiểm soát các chỉ tiêu tiền
tệ theo mục tiêu lạm phát, hỗ trợ thanh khoản, giảm mặt bằng lãi suất, ổn định
tỷ giá và thị trường ngoại hối trong điều kiện NHNN thực hiện mua ngoại tệ để
tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, đấu thầu tăng nguồn cung vàng cho nền kinh tế
và thực hiện tất toán huy động vàng
- Thay đổi lãi suất chiết khấu: Điều hành lãi suất theo hướng chủ động, dẫn
dắt thị trường và bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tiếp tục giảm mặt bằng
lãi suất, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng
kinh tế ở mức hợp lý
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc: tiếp tục giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho 7 tổ chức tín
dụng và tái cấp vốn để khuyến khích các tổ chức tín dụng hỗ trợ vốn tín dụng
cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Tính đến ngày 30/9/2013, dư nợ tín dụng
đối với các lĩnh vực nông, lâm và thủy sản tăng 16,75%.
3.
Tác động của chính sách tiền tệ tới sản lượng và lạm phát
Xét đồ thị biểu diễn IS - LM để thấy rõ tác động của nó:
hai lần mức tăng cùng kỳ năm trước.
+ Kim ngạch xuất khẩu đạt 62 tỷ USD, tăng 16,5%
+ Kim ngạch nhập khẩu đạt 63,4 tỷ USD, tăng 17,4%
•
Tác động tới lạm phát:
23
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 6/2013 tăng 2,4% so với tháng 12/2012 và tăng
6,69% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản được kiềm chế… Tuy đạt
được những kết quả nhất định nhưng nền kinh tế vẫn còn phải đối mặt với nhiều
khó khăn và ẩn chứa những rủi ro tác động đến kinh tế vĩ mô. Nợ xấu chưa
được giải quyết. Lạm phát dù đang ở mức an toàn nhưng vẫn tiềm ẩn những
biến động khó lường
Tác động của chính sách tiền tệ lỏng trong 6 tháng cuối năm:
•
Tác động tới sản lượng:
+ Do chi tiêu tiêu dùng hàng lâu bền thường được tài trợ một phần bằng đi
vay, do vậy lãi suất thấp hơn sẽ khuyến khích người tiêu dùng tăng chi tiêu tiêu
dùng lâu bền từ đó sẽ kích thích sản xuất sản lượng tăng
+Giá cổ phiếu tăng có thể khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn
cho hàng tiêu dùng lâu bền (KMR đã tăng từ mức 2.500 đồng/cp vào tháng
11/2012 lên mức 10.500 đồng/cp vào ngày 27/11/2013 (mức tăng gấp 4 lần
trong một năm). Nếu so sánh từ cuối năm 2012 tới nay, KMR tăng 148%).
+ Chi phí đầu tư rẻ hơn có thể mở rộng đầu tư, tổng cầu tăng làm tăng sản
lượng và giá cả (danh mục đầu tư chứng khoán của VietinBank tính đến cuối
khuyến khích việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho vay
của các NHTM tăng từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế tăng
4.
Đánh giá chính sách tiền tệ năm 2013
•
Kết quả đạt được:
+ Mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong công tác điều hành của NHNN là lạm
phát đã được kiềm chế, diễn biến theo xu hướng giảm và khá ổn định. Nếu lạm
phát của năm 2012 là 6,81% thì lạm phát của năm 2013 chỉ ở mức 6,04% - mức
thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây.
+ Chính sách lãi suất được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô,
đặc biệt là diễn biến của lạm phát. Tính chủ động của công cụ lãi suất trong việc
truyền dẫn tín hiệu tới thị trường đã được cải thiện rõ nét. Trong năm 2013, các
mức lãi suất điều hành của NHNN được điều chỉnh giảm hai lần. Hiện tại, lãi
suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm từ mức 9%/năm xuống còn 7%/năm; lãi
suất tái chiết khấu từ 7%/năm xuống còn 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm
trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong
25