QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN THÔNG QUA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ NỘI - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;;
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------O0O---------

VŨ THỊ DIỄM LỆ

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
THÔNG QUA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội, 2014
1


BỘ GIÁO
GIÁO DỤC
DỤC VÀ
VÀ ĐÀO
ĐÀO TẠO
TẠO
BỘ
TRƯỜNG ĐẠI
ĐẠI HỌC
HỌC SƯ
SƯ PHẠM
PHẠM HÀ
HÀ NỘI
NỘI


ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS
Đàodẫn
Thịkhoa
Oanhhọc
Người
hướng
PGS.TS Đào Thị Oanh

Hà Nội, 2
Hà Nội, 2014

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xu hướng chủ đạo trong sự đổi mới quá trình dạy
học, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, về mặt quan điểm, định hướng là chuyển
sang quan điểm dạy học tích cực (hay còn gọi tắt là dạy học lấy người học làm
trung tâm) mà ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, tự chủ trong quá
trình học tập. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam
khóa VIII cũng đã xác định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình
dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là
sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng” [4].

Cao đẳng cộng đồng Hà Nội bắt đầu áp dụng hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ.
Việc chuyển đổi hình thức từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ
có giá trị như một cuộc cải cách về đào tạo trong Nhà trường, việc nâng cao chất
lượng giáo dục đào tạo ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội cốt lõi là nâng cao
chất lượng quá trình dạy học. Một trong các yếu tố quyết định chất lượng quá trình
dạy học là chất lượng hoạt động tự học của sinh viên, hoạt động tự học là hoạt động
tổ chức nhận thức nhằm đạt tới mục đích nhất định, do chính người học tiến hành
trong quá trình học tập, tự học giúp người học nâng cao tri thức kỹ năng và biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Vì vậy, phẩm chất và năng lực của người
cán bộ tương lai phụ thuộc rất nhiều vào việc tự học của họ trong nhà trường.
Trong những năm qua Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội đã có nhiều cố
gắng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Thành phố Hà Nội và các Tỉnh lân
cận. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động tự học của sinh viên vẫn còn hạn chế, chưa
đáp ứng được yêu cầu của nhà trường. Sinh viên khi vào trường hầu hết chưa có
thói quen chủ động và tích cực trong việc tự học, chưa có kỹ năng tự học, việc học
tập chủ yếu trông chờ vào việc truyền thụ kiến thức của giảng viên. Hơn nữa sinh
viên lại thờ ơ với việc tự học, lười học, lười đọc sách báo. Trong đó, có nhiều
nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên như: định hướng của
nhà trường, khoa, giảng viên trong quá trình đào tạo, về mặt trái của nền kinh tề thị
trường làm cho việc quản lý hoạt động tự học của sinh viên còn gặp khó khăn bất
cập. Ngoài ra, theo lộ trình đổi mới, Giáo dục đại học Việt Nam từ năm 2010 các

2


trường đại học, cao đẳng trong cả nước sẽ áp dụng hình thức đào tạo theo học chế
tín chỉ thay hình thức đào tạo theo niên chế. Hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ,
vai trò của người học được phát huy tích cực tối đa dựa trên sự giúp đỡ của giảng
viên và công tác quản lý học tập của nhà trường.
Vì vậy, vấn đề đặt ra là chúng tôi cần có sự xem xét, đánh giá tình hình thực

(ngoài giờ học trên lớp).
- Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên mà đề tài đề xuất để hiệu
trưởng sử dụng được hướng vào đội ngũ giảng viên đang trực tiếp giảng dạy sinh
viên. Đó là vì giảng viên là những người gần gũi sinh viên nhất, đồng thời cũng là
người có trách nhiệm phải giúp sinh viên tự học. Công tác quản lí của hiệu trưởng
đối với hoạt động tự học của sinh viên sẽ đạt hiệu quả mong muốn khi được tiến
hành thông qua đội ngũ giảng viên.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên sinh viên (200 sinh viên) và giảng viên
(30 cán bộ quản lý) đang học tập và giảng dạy của hệ cao đẳng ở một số khoa
thuộc Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014.
5. Giả thuyết khoa học
Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Cao đẳng Cộng
đồng Hà Nội đã được triển khai song kết quả còn hạn chế. Nếu vận dụng cơ sở lý
luận về tự học, đồng thời căn cứ vào thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học
của sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội thì có thể đề xuất được một số
biện pháp quản lý hoạt động tự học ở sinh viên cho hiệu trưởng có tính phù hợp và
khả thi.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên.
6.2. Khảo sát thực trạng quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động tự học
của sinh viên ở Trường Cao đẳng cộng đồng Hà Nội.
6.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý cho hiệu trưởng thông qua đội ngũ
giảng viên đối với hoạt động tự học của sinh viên ở trường Cao đẳng cộng đồng Hà
nội nhằm nâng cao kết quả tự học cho sinh viên của trường.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

4

bất phục dã” (không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì
không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, mà
không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa) [35].
Mạnh Tử đòi hỏi người học phải tự suy nghĩ, không nên nhắm mắt theo sách.
“Tận tín thư bất như vô thư” (Tin cả ở sách thì chi bằng không có sách). Người học
phải cố gắng tìm hiểu [21].
Nhà sư phạm vĩ đại J.A.Comenxki người Slovaquya đưa ra những yêu cầu
cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học. Theo ông, dạy học là phải làm thế nào để người học thích thú học tập và có
những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho
học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng
dụng tri thức vào thực tiễn” [8, tr.56].
Các Nhà giáo dục thế kỷ 18 và 19 như J.J. Rousseau Pestalogie, DiStecvec,
Usinxki khi xây dựng quan điểm dạy học đã cho rằng cần hướng cho người học
nắm lấy kiến thức bằng cách tự tìm hiểu, tự khám phá, tự tìm tòi và sáng tạo.
Những tư tưởng tiến bộ về tự học của các Nhà giáo dục tiền bối cho đến nay
vẫn còn giữ nguyên giá trị, chúng đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của nền
giáo dục hiện đại, soi đường chỉ lối cho thế hệ sau nghiên cứu về hoạt động tự học
của người học.
Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật T.Makiguchi, trong những năm 30 của
thế kỷ 20 đã cho rằng: “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và

6


đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh. Giáo dục xét như là quá trình
hướng dẫn học sinh tự học” [34].
Raja Roy Singh, Nhà giáo dục người Ấn Độ cho rằng: “Sự học tập do người
học chủ đạo” [40, tr.110]. Trong hệ thống dạy học, người học vừa là chủ thể vừa là
mục đích của quá trình học tập. “Vị trí của người học ở trung tâm hay ngoại biên là

học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn
luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng ” [7].
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”.
Người khuyên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự
động học tập” [32,18].
Nguyên Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam Đỗ Mười đã nhấn
mạnh: “Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi con người
trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau; đó cũng là truyền
thống quý báu của người Việt Nam và cả dân tộc Việt Nam. Chất lượng và hiệu quả
giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực tự học, sáng tạo của người học,
khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục” [30].
Công tác quản lý của Hiệu trưởng với hoạt động của sinh viên là một khía
cạnh trong hoạt động giáo dục đào tạo. Gần đây, một số luận văn thạc sĩ, luận án
tiến sĩ đã đề cập đến vấn đề tự học ở những khía cạnh khác nhau, ví dụ, chỉ ra
những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức tự học của sinh viên; chỉ ra những điểm
yếu của sinh viên trong tổ chức tự học; đề xuất các biện pháp nâng cao kĩ năng tự
học ở sinh viên; đề xuất các biện pháp quản lí của các tổ chức đoàn thể trong trường
cao đẳng nhằm giúp nâng cao khả năng tự học ở sinh viên. Cụ thể một số luận văn
như: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học của sinh viên Học viên
Quân y” của tác giả Quản Thành Minh, “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của
sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Yên Bái” của tác giả Nguyễn Thị An....
Những công trình nghiên cứu trực tiếp về cách quản lý hoạt động tự học ở sinh viên
của Hiệu trưởng dường như còn rất ít. Vấn đề này thường được đề cập đến như là
một nội dung nhỏ trong một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo dục học hay tâm lí
học. Vì vậy, việc sưu tầm tài liệu để tham khảo về vấn đề quản lý của Hiệu trưởng
đối với hoạt động tự học của sinh viên khá hạn chế.
Các nghiên cứu đi trước cho thấy tự học ngày càng có vai trò quan trọng đối
với phát triển giáo dục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nói
riêng. Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp hữu hiệu để tổ chức có hiệu quả hoạt


Các loại hình trường cao đẳng bao gồm: Trường cao đẳng công lập và
Trường cao đẳng tư thục trong đó Trường cao đẳng công lập do Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo quyết định thành lập. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh

9


phí cho các hoạt động của trường, chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm. Còn
Trường cao đẳng tư thục do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh
tế hoặc cá nhân đầu tư và được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành
lập. Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, và kinh phí hoạt động của trường là nguồn
vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Với các loại hình trường cao đẳng thì mục tiêu đào tạo trình độ cao đẳng
không khác biệt, được thể hiện cụ thể tại Điều lệ trường Cao đẳng như sau:
Nhà trường đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức
phục vụ nhân dân; có khả năng tự học, kỹ năng giao tiếp và làm việc theo nhóm; có
sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhà trường đào tạo người
học có kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng thực hành cơ bản, có thái độ và
đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, chú trọng rèn luyện kỹ năng và năng lực thực hiện
công tác chuyên môn, có khả năng tìm kiếm và tham gia sáng tạo việc làm.
1.2.2. Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường cao đẳng
a, nhiệm vụ của trường Cao đẳng
Trường Cao đẳng là nơi cung cấp, đào tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề cho
xã hội, chính vì vậy mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều chính sách, quy
định đối với loại hình đào tạo này. Loại hình trường Cao đẳng có rất nhiều nhiệm
vụ và chức năng nhưng nhiệm vụ và chức năng chính là đào tạo nhân lực trình độ
cao đẳng có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp
phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năng hợp tác trong hoạt động nghề
nghiệp, tự tạo được việc làm cho mình và cho xã hội.
Trường Cao đẳng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ

Cơ cấu tổ chức của trường cao đẳng bao gồm:
1. Hội đồng Trường hoặc Hội đồng Quản trị (đối với trường tư thục);
2. Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng;
3. Ban kiểm soát (đối với trường tư thục);
4. Hội đồng khoa học và đào tạo và các Hội đồng tư vấn khác;
5. Các phòng ban chức năng;
6. Các khoa và bộ môn trực thuộc;
7. Các bộ môn thuộc khoa;
8. Các tổ chức nghiên cứu và phát triển;
9. Các cơ sở phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học;
10. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam;

11


11. Các đoàn thể và tổ chức xã hội.
1.2.3. Đặc điểm tâm lí – xã hội của sinh viên cao đẳng
Sinh viên là những người đang theo học ở các trường đại học, cao đẳng - nơi
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Thuật ngữ
“sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “Student” - có nghĩa là người học tập,
nghiên cứu, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. Theo “Từ điển giáo dục học”:
“Sinh viên, người học của một cơ sở giáo dục Cao đẳng, Đại học. Có thể phân loại
sinh viên đại học theo những phạm trù khác nhau: Sinh viên tập trung, sinh viên
chính quy, sinh viên không tập trung….” [34]. Hiểu một cách chung nhất: Sinh viên
Việt Nam là những người đang học tại các trường Đại học, Cao đẳng trong và ngoài
nước, đang tích cực tích lũy tri thức, nghề để đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đặc điểm tâm lý – xã hội của sinh viên cao đẳng:
Sinh viên thuộc nhóm lứa tuổi từ 17 đến 23 tuổi. Đây là giai đoạn cơ thể
phát triển hoàn chỉnh, ổn định và là giai đoạn sung sức nhất của cuộc đời. Hệ thần

quá trình nhận thức có tính nghiên cứu. Bản chất tâm lí của tự học là sự huy động
đồng thời các chức năng tâm, sinh lí, xã hội của một người vào quá trình học tập mà
không có sự giám sát của người khác: Sinh viên phải tập trung chú ý cao độ; phải sử
dụng trí nhớ dài hạn để huy động các kiến thức, kinh nghiệm đã có; phải tưởng
tượng để hình dung ra kết quả cuối cùng của nhiệm vụ cần giải quyết; phải tự thúc
đẩy mình kể cả khi gặp những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp; phải biết thông qua
các mối quan hệ với bạn bè, thầy cô giáo để bổ sung những thiếu hụt của bản thân
về kiến thức, kĩ năng…nhằm giải quyết hiệu quả nhiệm vụ được giao…Tất cả
những yêu cầu trên đây, về mặt lí thuyết, sinh viên cao đẳng đều đã có và đó là
những tiền đề tốt giúp họ có thể làm tốt việc tự học. Trong những năm gần đây,
thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục đại học, nhiều trường cao đẳng đã và đang
triển khai phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Phương thức đào tạo này coi
trọng vai trò trung tâm của sinh viên, tạo cho sinh viên năng lực chủ động, sáng tạo
trong phương pháp học của mình do đó sẽ giúp thúc đẩy mạnh mẽ hơn hoạt động tự
học ở sinh viên cao đẳng.
1.3. Hoạt động tự học
1.3.1. Khái niệm tự học
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về
tự học.

13


N.A Rubakin nói: "Tự đi tìm lấy kiến thức - có nghĩa ta tự học" ; Tự học (Self
- learning) là quá trình người học nỗ lực chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của
chính mình, hướng tới mục đích nhất định.
Trong cuốn "Học tập hợp lí" R.Retxke chủ biên, coi "Tự học là việc hoàn
thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy" [32, Tr. 97].
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Tiến sĩ Hà Thị Đức trong cuốn "Lý luận dạy
học đại học" thì "Tự học” là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là

học, cách tư duy của chính mình. Thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho
trò biết cách tự học chữ, tự học nghề, tự học nên người
Nhìn chung, các quan niệm đều cho rằng: Tự học là quá trình học với sự tích
cực, chủ động, độc lập cao của người học, thông qua các thao tác trí tuệ, chân tay,
bằng cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của mỗi cá nhân để chiếm lĩnh tri thức,
kinh nghiệm của nhân loại biến thành tri thức, vốn sống, kinh nghiệm của bản thân
và đạt được các mục tiêu học tập.
Từ nghiên cứu các cách hiểu của những tác giả đi trước, đề tài đưa ra cách
hiểu theo nghĩa rộng và cách hiểu theo nghĩa hẹp về tự học như sau:
- Theo nghĩa rộng, tự học là quá trình người học tự quyết định việc lựa chọn
mục tiêu học tập, nội dung học tập, cách thức học tập, các hoạt động học tập và
các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá thích hợp. Từ đó tổ chức xây dựng,
kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân mình. Nhìn chung, tự học theo
nghĩa này được hiểu là quá trình học tập một cách tự giác, chủ động và độc lập
nhằm chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội.
- Theo nghĩa hẹp, tự học là quá trình người học giải quyết các nhiệm vụ học
tập theo yêu cầu của giáo viên ở ngoài giờ học trên lớp, hay, là quá trình người học
tự giác, độc lập giải quyết một cách hiệu quả những nhiệm vụ học tập mà giáo viên
giao cho. Theo cách hiểu này thì tự học được xem như một giai đoạn hay một khâu
của quá trình học tập.
Trong đề tài này, khái niệm tự học theo nghĩa hẹp được quan tâm vận dụng
vào nghiên cứu.
1.3.2. Khái niệm hoạt động tự học
Về bản chất, hoạt động tự học là quá trình nhận thức mang tính cá nhân,
không có người hướng dẫn, giám sát, người học hoàn toàn tự giác, độc lập, tự điều
khiển việc thực hiện các nhiệm vụ học tập do mình đề ra, nhằm đáp ứng nhu cầu
hiểu biết của bản thân. Có thể đưa ra một số nét đặc trưng của hoạt động tự học như
sau:
- Thể hiện vai trò hoàn toàn chủ động, tự giác của người học
- Là một hoạt động có mục đích, có kế hoạch rõ ràng

bậc Cao đẳng. Hoạt động tự học là hoạt động bắt buộc đối với sinh viên. Sinh viên
muốn có thông tin, muốn hiểu rõ một vấn đề nghiên cứu thì học trên lớp là chưa đủ.
Vì vậy, tự học là quá trình sinh viên tìm tòi những kiến thức, kỹ năng, thông qua kế

17


hoạch tự học, nội dung tự học, phương pháp tự học để đạt được kết quả tốt trong
việc học tập.
Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, kế hoạch học tập
cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học. Sinh viên có nhiệm vụ và quyền
được lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh, chậm phù hợp với
điều kiện của mình. Phương thức này tạo cho sinh viên năng lực chủ động trong
việc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện, biện pháp để
thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó. Khi đó người sinh viên phải
ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu sao cho quá trình học tập hiệu quả
nhất. Hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ qui định hoạt động tự
học của sinh viên như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu và là một nội
dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập.
Từ đó, đề tài đưa ra cách hiểu về “Hoạt động tự học” là quá trình cá nhân
tự giác, độc lập tổ chức thực hiện một chuỗi các hành động liên tiếp nhau, bắt đầu
từ xác định mục đích tự học cho đến tự kiểm tra đánh giá kết quả tự học để rút kinh
nghiệm, điều chỉnh việc tự học nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập
của bản thân.
Còn “Hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng” là quá trình mỗi sinh viên
cao đẳng tự giác, độc lập tổ chức thực hiện một chuỗi các hành động, từ xác định
mục đích tự học cho đến kiểm tra đánh giá kết quả tự học nhằm giải quyết có hiệu
quả các nhiệm vụ học tập nghề nghiệp của bản thân.
1.3.3. Vai trò của tự học đối với sinh viên đại học, cao đẳng
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở Đại học nói riêng giảng viên

sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có trong họ, tạo nên động lực nội
sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài. Khả
năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo.
1.3.4. Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên
Vấn đề tự học được đặt ra có ý nghĩa rất lớn, rất thời sự khi chúng ta chủ
trương tiến hành xây dựng một xã hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt
đời. Thực chất tự học nói chung và tự học của sinh viên cao đẳng nói riêng là một
quá trình học tập, một quá trình nhận thức không trực tiếp có giáo viên, đó là một
quá trình “lao động khoa học” tiệm cận với phương pháp nghiên cứu. Có thể nói
quá trình tự học của sinh viên là một quá trình tự nỗ lực, quyết tâm, tích cực để đạt
được mục tiêu học tập. Nếu thiếu sự nỗ lực thì sinh viên không thể đạt kết quả tốt,
đây cũng chính là điều kiện để sinh viên nâng cao chất lượng học tập của bản thân
và các trường đại học nâng cao chất lượng giáo dục.
Để làm tốt nhiệm vụ của người học, sinh viên cần phải quan tâm đến những
vấn đề sau: phương pháp (cách) nghe giảng, cách ghi chép, cách đọc giáo trình,

20


sách, tài liệu tham khảo, tự xây dựng, quản lí thực hiện kế hoạch học tập cá nhân,
phương pháp tư duy, kỹ năng phân tích, tổng hợp, kỹ năng giải quyết vấn đề,…Tự
học ở trình độ cao đẳng có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giáo dục và tự
giáo dục. Nó thể hiện rõ nét ý thức tự giáo dục của sinh viên trong cuộc sống, đặc
biết là trong quá trình lập thân, lập nghiệp. Nó giúp sinh viên tự lực nắm vững tri
thức, kỹ năng kỹ xảo về nghề nghiệp và tương lai. Trong quá trình tự học mỗi sinh
viên tự vận động, từng bước chuyển hóa vốn kinh nghiệm, tri thức của loài người đã
tích lũy trong quá trình lịch sử thành vốn tri thức riêng của bản thân. Trong quá
trình đó, sinh viên đã thể hiện cao vai trò chủ thể nhận thức của mình, kết hợp và
thống nhất một cách hài hòa vai trò chủ thể nhận thức với vai trò đối tượng điều
khiển trong dạy học. Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao

như: Tính thụ động của sinh viên, lười đọc sách, ôn bài ở nhà, chỉ đợi đến giờ lên
lớp là vào học, không đầu tư kiến thức chuyên môn mặc dù đã có trang bị giáo
trình, bài giảng sẵn có trong tay. Sinh viên chỉ học những gì giáo viên nêu ở lớp,
nếu giáo viên tóm tắt vấn đề thì sinh viên mới nắm được, đây là kiểu học ở bậc phổ
thông, mang tính từ chương. Sinh viên chưa nắm được phương pháp tự học và cách
học ở bậc đại học, nhất là bước chuẩn bị nội dung ở nhà cho lần lên lớp kế tiếp.
Một trở ngại lớn nữa là vấn đề mưu sinh, sinh viên gặp phải điều kiện kinh tế khó
khăn, phải đi làm thêm, đôi khi không dự lớp và không có thời gian tự học, vì thế
chất lượng học tập kém và không theo nổi việc học. Vấn đề ngoại ngữ là một trở
ngại lớn đối với việc sinh viên tự học. Khi đã bước sang năm thứ 2 và 3, tất yếu là
sinh viên cần phải đọc thêm nhiều tài liệu chuyên môn, đa phần là sách nước ngoài,
tài liệu tiếng Việt không nhiều, vì thế sinh viên không thể tích lũy kiến thức chuyên
ngành theo kiểu tự học qua sách, tài liệu chuyên môn ngoại ngữ. Sinh viên khó
khăn trong việc học nhóm do thời khóa biểu khác nhau. Thiếu kỹ năng trong làm
việc nhóm, đôi khi còn đùn đẩy cho nhau, chưa phát huy hết tính tự giác trong học
tập. Nhà trường không có phòng cho sinh viên tự học đặc biệt là học nhóm.
1.3.5. Một số yêu cầu đối với hoạt động tự học của sinh viên cao đẳng
Trên cơ sở quỹ thời gian nói chung và quỹ thời gian tự học nói riêng, sinh
viên cần phải xây dựng được kế hoạch tự học, nội dung tự học và phương pháp tự
học, trong đó xây dựng được kế hoạch chi tiết thời gian tự học và phải đảm bảo một
số yêu cầu như sinh viên đảm bảo thời gian tự học cho từng môn tương xứng với
kiến thức của môn học đó. Không ức chế, đảm bảo xen kẽ, luân phiên một cách hợp
lý các dạng tự học, các môn có tính chất khác nhau. Chống mỏi mệt và tái sản xuất
sức khỏe, đảm bảo xen kẽ, luân phiên giữa tự học và nghỉ ngơi một cách hợp lý.
Sinh viên có kế hoạch và thời gian biểu tự học một cách mềm dẻo. linh hoạt. Nội

22


dung tự học lợp lý, có nội dung chương trình rõ ràng, biết khai thác các thông tin

23


Trích đoạn Nguyên tắc đề xuất biện pháp Biện pháp 2: Quản lý đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học của giảng viên theo hướng thúc đẩy hoạt động tự học ở sinh viên Kết quả khảo nghiệm Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận cho phép đưa ra cách hiểu về một số khái niệm cơ bản của đề tài. Đa số sinh viên học đã có nhận thức về vai trò tự học của bản thân Sinh viên biết và hiểu rõ về tầm quan trọng của việc tự học, là nhân tố quyết định trực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status