ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
NGHIÊM NỮ DIỄM THUỲ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ
NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀ NỘI – 2008
HÀ NỘI – 2008 MỤC LỤC môc lôc
Më ®Çu
Trang
1.
Lý do chọn đề tài
1
2.
Mục đìch nghiên cứu
2
3.
Nhiệm vụ nghiên cứu
2
4.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2
5.
Giả thuyết khoa học
3
6.
Phạm vi nghiên cứu
3
7.
10
1.2.7.
Mối quan hệ giữa kết quả kiểm tra - đánh giá và chất lượng đào tạo nñi
chung
11
1.3.
Lý luận về kiểm tra - đánh giá
12
1.3.1.
Tổng quan về kiểm tra - đánh giá
12
1.3.2.
Vị trì, chức năng, vai trò của kiểm tra đánh giá trong quá trính dạy
học
13
1.3.3.
Nguyên tắc kiểm tra - đánh giá
16
1.3.4.
Các yêu cầu của kiểm tra - đánh giá
19
1.3.5.
Các hính thức kiểm tra - đánh giá và phương thức kết hợp các hính
19 thức này trong các kỳ kiểm tra - đánh giá khác nhau
1.3.6.
Đánh giá thực kết quả học tập của người học
25
Thực trạng cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh
viên ở Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
46
2.2.1.
Hính thức, phương pháp kiểm tra - đánh giá
48
2.2.2.
Thực trạng khâu chuẩn bị câu hỏi thi, đề thi
50
2.2.3.
Thực trạng cóng tác tổ chức thi, kiểm tra
55
2.3.
Thực trạng quản lý cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của
sinh viên ở trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
60
2.3.1.
Việc tuân thủ nguyên tắc, yêu cầu, qui trính kiểm tra - đánh giá
60
2.3.2.
Đánh giá chung, nguyên nhân
64
Chƣơng 3: các biện pháp quản lý công tác kiểm tra - đánh giá kết quả
học tập của sinh viên ở trƣờng Cao đẳng Du lịch Hà Nội
68
3.1.
Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
68
3.2.
Các biện pháp quản lý
2.
Khuyến nghị
99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BỘ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
BỘ LĐ - TB – XH Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
CB Cán bộ
GV Giảng viên
SV Sinh viên
mỗi Quốc gia.
Giáo dục Việt Nam sau 20 năm đổi mới đã đạt được rất nhiều thành quả quan
trọng về mở rộng quy mó, đa dạng hoá các hính thức giáo dục và nâng cao cơ sở vật
chất cho nhà trường. Tuy nhiên, giáo dục nước ta còn nhiều bất cập, chất lượng và hiệu
quả giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của nước ta
trong giai đoạn hiện nay. Chình ví vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục đang được
Đảng Nhà nước và toàn xã hội quan tâm.
Mục tiêu của giáo dục nñi chung và giáo dục đại học nñi riêng đñ là, giáo dục
phải đào tạo nên nguồn nhân lực cñ đầy đủ các phẩm chất, năng lực, cñ khả năng làm
việc độc lập, sáng tạo để cñ thể thìch nghi cao với thị trường lao động trong thời kỳ hội
nhập. Để thực hiện được mục tiêu ngoài việc đổi mới chương trính, nội dung, phương
pháp… kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên là khâu vó c÷ng quan trọng.
Hoạt động kiểm tra - đánh giá gắn liền với mục tiêu và nội dung đào tạo, thóng qua
kiểm tra - đánh giá chöng ta biết được quá trính dạy học và kết quả học tập của sinh
viên cñ đạt được mục tiêu đề ra hay khóng để từ đñ cñ các biện pháp điều chỉnh kịp
thời hoạt động dạy học. Thực tiễn giáo dục cho thấy một khi cóng tác đánh giá được tổ
chức đều đặn và thìch hợp thí chất lượng giáo dục sẽ khóng ngừng được nâng cao. Tuy
nhiên trên thực tế, giáo viên dường như chưa nhận thức hết được ý nghĩa, vai trò của
kiểm tra - đánh giá trong quá trính dạy học, chưa quan tâm đến việc kiểm tra - đánh giá
liên tục cũng như chưa thực sự coi trọng những thóng tin phản hồi từ các bài kiểm tra.
Bên cạnh đñ cóng tác tổ chức thi, kiểm tra còn lỏng lẻo, hính thức thi còn đơn điệu,
chưa kiểm soát, đánh giá được mục tiêu đào tạo toàn diện. Do đñ kiểm tra - đánh giá ở
các trường Đại học, Cao đẳng vẫn chưa chặt chẽ, chưa khách quan và chưa phản ánh
đöng thực chất kết quả đào tạo.
Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, từ khi thành lập đến nay là một cơ sở đào tạo
cñ uy tìn trong các trường đào tạo nghề Du lịch ở khu vực phìa Bắc. Hơn ba mươi năm qua, nhà trường đã đñng gñp đáng kể cho nguồn nhân lực đã qua đào tạo cho ngành Du
lịch. Tuy nhiên, số lượng, chất lượng và hiệu quả đào tạo vẫn chưa tương xứng với thế
6. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh
viên hệ cao đẳng chình quy tại khoa QT Khách sạn – Nhà hàng trường Cao đẳng Du
lịch Hà Nội.
- Khảo sát và sử dụng số liệu từ các năm học 2004-2005 trở lại đây.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm các phương pháp phân tìch, tổng
hợp, xử lý tài liệu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, thu thập thóng tin,
lấy ý kiến cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng để sử lý các số liệu thu được từ khảo sát
thực tế.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận
văn được trính bày trong ba chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra - đánh giá và kiểm tra - đánh giá kết quả
học tập.
Chƣơng 2: Thực trạng cóng tác kiểm tra - đánh giá và quản lý cóng tác kiểm
tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trường Cao đẳng Du lịch HN.
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của
sinh viên ở trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ
1.1. Lịch sử nghiên cứu
Từ lâu trong lịch sử giáo dục người ta nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thi,
kiểm tra với chất lượng dạy học, nên đã sử dụng thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học
tập của người học. Từ thời Phục hưng, ở Châu Âu c÷ng với việc đưa ra các tư tưởng
tiến bộ, các nhà giáo dục cũng bước đầu thay đổi cách thức kiểm tra - đánh giá và thi
cử. Đến thế kỷ XIV – XV tiêu biểu là: J.A.Comenxky óng yêu cầu thi, kiểm tra phải
Hà Nội 2003.
*Nguyễn Đức Chình - Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu,
tập bài giảng, khoa Sư phạm, Hà Nội 2005.
* Trần Khánh Đức, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng, khoa
Sư phạm, Hà Nội 2006.
* Dương Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, Nxb Khoa
học xã hội, 2005.
* Lâm Quang Thiệp, Đo lường đánh giá trong giáo dục, 2003.
Để nâng cao chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, đã cñ các
đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực quản lý trong nhà trường như: Quản lý đội ngũ quản lý, quản lý đội ngũ giảng viên, quản lý hoạt động tự học của sinh viên, quản lý chương
trính đào tạo, quản lý hoạt động giảng dạy các món chuyên ngành… Tuy nhiên, đến
nay chưa cñ đề tài nào nghiên cứu về quản lý cóng tác kiểm tra - đánh giá kết quả học
tập của sinh viên. Do vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn là vấn đề mang tình cấp thiết
trong cóng tác đào tạo của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Các khái niệm của đề tài
1.2.1. Quản lý
Khoa học quản lý xuất hiện c÷ng với sự phát triển của xã hội loài người. Nñ là
phạm tr÷ tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ
xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia, mọi thời đại.
Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trì tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của
con người nhằm điều khiển lao động thöc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bính diện,
khoa học quản lý gắn liền với tiến trính phát triển của xã hội loài người, mang tình lịch
sử, giai cấp, dân tộc, thời đại. Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều món
khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khón khéo và tinh
tế cao độ để đạt được mục đìch. Chình ví vậy người ta cñ thể tiếp nhận khái niệm quản
lý theo nhiều cách khác nhau.
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tình chất xã hội hoá lao
(người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được
mục đìch của tổ chức”. [9, tr.1]
Từ các cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa
chung đñ là:
Quản lý là quá trính hoạt động lao động cñ mục đìch để điều khiển lao động.
Cñ sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Liên quan tới mói trường xác định.
Từ các dấu hiệu chung này, chöng ta cñ thể khái quát như sau: Quản lý là một
hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đìch của chủ thể quản lý nhằm sử
dụng cñ hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của
tổ chức đặt ra trong một mói trường luón luón thay đổi.
1.2.2. Biện pháp quản lý
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) do Nguyễn Như ý chủ biên, biện pháp là “cách
làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể”. [26, tr.161]
Biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề
trong cóng tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý
đã đề ra và ph÷ hợp với quy luật khách quan, nâng cao khả năng hoàn thành cñ kết quả
các mục tiêu đặt ra. Biện pháp quản lý đòi hỏi sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa
chủ thể và khách thể quản lý.
Cñ 4 loại biện pháp quản lý cơ bản là: Biện pháp hành chình tổ chức, biện pháp
tâm lý- giáo dục, biện pháp thuyết phục và biện pháp kinh tế.
Biện pháp hành chính tổ chức: là cách tác động trực tiếp của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chình bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định.
Biện pháp tâm lý-giáo dục: (còn đượcgọi là biện pháp tuyên truyền giáo dục)
là cách tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý dựa trên cơ sở vận dụng các
quy luật tâm lý ứng dụng thành tựu các khoa học như Tâm lý học, Khoa học giáo dục
quá trính học tập của học sinh. Mục đìch của kiểm tra là tìch cực hña hoạt động của học sinh, tăng cường chất lượng học tập. Kiểm tra là khâu quan trọng trong quá trính dạy học
nhằm đánh giá kết quả học tập” [25].
Theo GS Nguyễn Đức Chình (2005) “ Đo lường (kiểm tra) là quá trính thu thập
thóng tin một cách định lượng và định tình về các đại lượng đặc trưng như nhận thức,
tư duy, kỹ năng và các phẩm chất nhân cách khác trong quá trính giáo dục” [10, tr.1].
1.2.4. Đánh giá
Theo định nghĩa tổng quát, đánh giá là sự hính thành nhận định, phán đoán về đối
tượng thóng qua sự phân tìch thóng tin thu được trên cơ sở đối chiếu với các mục tiêu, tiêu
chuẩn đề ra, nhằm đề xuất các quyết định thìch hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng
cao chất lượng hiệu quả cóng việc.
Theo GS Nguyễn Đức Chình, thuật ngữ đánh giá được định nghĩa: “ Đánh giá
là quá trính thu thập và sử lý thóng tin một cách cñ hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã
và đang đạt được ở mức độ nào”
Hoặc “ Đánh giá là quá trính thu thập và xử lý thóng tin một cách hệ thống để
đưa ra các quyết định”. [19]
Trong giáo dục thí “Đánh giá là quá trính thu thập thóng tin và dữ liệu một cách
hệ thống nhằm mục đìch giöp người học hoạch định chình sách lựa chọn một phương
pháp khả thi để tiến hành cóng việc giáo dục của mính”.
Như vậy, đánh giá trong giáo dục là sự xem xét, so sánh độ tương thìch giữa
những thóng tin thu nhận được về quá trính giáo dục với chuẩn mực, tiêu chuẩn tương
ứng nhằm đưa ra quyết định ph÷ hợp. Đối với kiểm tra - đánh giá trong giáo dục, tiêu
chì đánh giá cñ vai trò đặc biệt quan trọng. Đñ là chuẩn để so sánh, đối chiếu, xác định
mức độ kết quả của đối tượng cần được đánh giá.
Trong dạy học “ Đánh giá là quá trính thu thập thóng tin về năng lực, phẩm chất
của một học sinh và sử dụng thóng tin đñ để đưa ra những quyết định về người học và
việc tổ chức quá trính dạy học”.
Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra bao giờ cũng đi liền với
cực trong nhận thức, hành vi của người học. Trong khoa học cũng như trong thực tế,
kết quả học tập được hiểu theo hai nghĩa:
- Mức độ mà người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định (theo tiêu chì)
- Mức độ mà người học đạt được so với các người c÷ng học khác (theo tiêu
chuẩn)
D÷ được hiểu theo nghĩa nào thí kết quả học tập đều thể hiện ở mức độ đạt được
của các mục tiêu dạy học. Theo Nguyễn Đức Chình (2005): “Kết quả học tập là mức độ
kiến thức, kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực (món học) nào đñ.
Chỉ cñ bài kiểm tra (trắc nghiệm) kết quả học tập là cñ thể đo lường một cách trực tiếp
những gí người ta thiết kế để đo” [10, tr.3]. Kết quả học tập của sinh viên là thước đo
của quá trính đào tạo, do vậy đánh giá được chình xác kết quả học tập của sinh viên là
điều vó c÷ng cần thiết.
1.2.7. Mối quan hệ giữa kiểm tra - đánh giá và chất lượng đào tạo nói chung.
Nếu xem chất lượng của quá trính giáo dục là sự “tr÷ng khớp với mục tiêu” thí kiểm tra - đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của quy trính đào tạo.
Kiểm tra - đánh giá là khâu quan trọng bởi lẽ nñ khóng chỉ cho ta biết thóng tin
của quá trính đào tạo cñ đạt được mục tiêu hay khóng mà còn cung cấp các thóng tin
hữu ìch để điều chỉnh toàn bộ hoạt động xảy ra trước đñ.
Kiểm tra - đánh giá giöp nhận định về năng lực và kết quả học tập của sinh
viên, tạo cơ hội cho sinh viên phát triển kỹ năng tự đánh giá, giöp họ nhận ra sự tiến bộ
của mính trong từng món học từ đñ khuyến khìch, động viên, thöc đẩy việc học tập của
sinh viên.
Cóng tác Kiểm tra - đánh giá cñ hệ thống thường xuyên cung cấp kịp thời những
thóng tin “liên hệ ngược trong”, chỉ cho người học thấy được những thiếu hụt kiến thức
của mính trong khi tiếp nhận các kiến thức mới, đồng thời giöp họ điều chỉnh kịp thời hoạt
động học tập để đạt kết quả cao hơn.
Thóng qua kiểm tra - đánh giá, sinh viên cñ điều kiện phát triển năng lực nhận
thức, tiến hành các hoạt động trì tuệ như: ghi nhớ, tái hiện, chình xác hoá, hệ thống hoá
1.3.2.1. Vị trí của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học
Xét trên quan điểm hệ thống quy trính đào tạo được xem như là một hệ thống
bao gồm các yếu tố: Mục tiêu, chương trính đào tạo, nội dung, hính thức tổ chức dạy –
học, phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò và cuối c÷ng là kiểm tra -
đánh giá kết quả của người học. Cñ thể cụ thể hoá mối quan hệ giữa các thành tố trong
hệ thống quy trính đào tạo theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Hệ thống quy trình đào tạo
Yêu cầu xã hội
Mục tiêu
Chương trính và nội dung đào tạo
dạy và học hiện nay.
1.3.2.2. Chức năng của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học
* Chức năng định hƣớng:
Đánh giá giáo dục tiến hành trên cơ sở mục tiêu giáo dục, nñ tiến hành phán
đoán độ sai lệch giữa hiện trạng thực tế và mục tiêu đề ra trước đñ, làm cho khoảng
cách ngày càng ngắn hơn. Chình ví vậy kiểm tra - đánh giá là cái đìch để người dạy
hướng dẫn người học c÷ng vươn tới, hơn nữa kiểm tra - đánh giá giöp nhà trường lập
kế hoạch dạy và học để c÷ng hướng tới việc đạt mục tiêu.
* Chức năng đốc thúc, kích thích tạo động lực:
Thóng qua kiểm tra - đánh giá cñ thể kìch thìch tinh thần học tập hăng say của người học. Các kết quả sau mỗi bài kiểm tra sẽ cho học sinh biết được mức độ nắm
kiến thức của bản thân để cñ hướng phấn đấu. Với những học sinh giỏi, kết quả học tập
tốt sẽ động viên, khuyến khìch các em hăng say học tập, còn đối với học sinh yếu kết
quả sẽ là một minh chứng thói thöc các em cố gắng vươn lên. Như vậy sẽ tạo ra một
mói trường cạnh tranh lành mạnh giữa các đối tượng được đánh giá.
* Chức năng sàng lọc, lựa chọn:
Trong quá trính giảng dạy người giáo viên phải tiến hành lựa chọn sàng lọc,
phân loại học sinh. Giáo viên cñ thể dựa trên kết quả kiểm tra - đánh giá làm cơ sở để
thực hiện điều đñ. Việc phân loại này nhằm mục đìch giöp người dạy cñ chiến lược ph÷
hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể, điều đñ sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động
giảng dạy.
1.3.2.3. Vai trò của kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học
Đối với giáo viên, việc kiểm tra - đánh giá sẽ giöp giáo viên biết được hiệu quả
và chất lượng giảng dạy. Thóng qua việc kiểm tra - đánh giá, giáo viên thu thập được
các thóng tin một cách trực tiếp và nhanh nhất. Họ biết được mức độ nắm bắt kiến thức
của học sinh, những kỹ năng, kỹ xảo học sinh đạt được và những phần học sinh còn
thiếu hụt, cần bổ xung để từ đñ cñ những biện pháp ph÷ hợp tác động, hưñng dẫn học
sinh hoàn thiện hoạt động học của mính.
- Tình pháp lý của việc kiểm tra - đánh giá?
* Tính khách quan:
Tình khách quan là nguyên tắc đầu tiên và tiên quyết của quá trính kiểm tra
đánh giá trong giáo dục, bởi lẽ chỉ khi đảm bảo được yêu cầu này thí kết quả kiểm tra -
đánh giá mới cñ độ tin cậy cần thiết, mới phản ánh đöng những gí muốn đo, muốn đánh
giá. Việc kiểm tra - đánh giá khách quan cñ tác dụng kìch thìch động cơ và tình tìch
cực của người học. Ngược lại, sự đánh giá thiếu khách quan sẽ dễ nảy sinh các tác động
xấu, tiêu cực đến tâm lý và hoạt động của người học, làm giảm hiệu quả đìch thực của
việc học. Tình khách quan của kiểm tra - đánh giá phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực
nghiệp vụ của người đánh giá, phụ thuộc vào tình quy chuẩn của việc đánh giá và phụ
thuộc vào quan điểm, phương pháp và phương tiện đánh giá. Việc vi phạm tình khách
quan trong kiểm tra - đánh giá do nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, trong
đñ lý do chủ quan cần được hạn chế một cách triệt để. Đảm bảo tình khách quan trong
kiểm tra - đánh giá khóng những là yêu cầu tự thân của quá trính kiểm tra - đánh giá
mà còn gñp phần tạo nên các yếu tố tâm lý tìch cực đối với đối tượng được đánh giá,
qua đñ thöc đẩy việc phát huy sức sáng tạo của họ.
* Tính toàn diện:
Tình toàn diện ở đây được hiểu là đầy đủ các mặt, các khìa cạnh về kiến thức,
kỹ năng cần đạt được của quá trính giáo dục được quy định bởi mục tiêu giáo dục. Mỗi
bài thi, kiểm tra đều cñ trọng tâm kiến thức nhất định. Tuy nhiên, yêu cầu toàn diện
trong kiểm tra - đánh giá là cần thiết. Bởi chỉ cñ thực hiện việc đánh giá toàn diện mới
cho chöng ta cái nhín khách quan, chình xác về chất lượng giáo dục, tránh cái nhín phiến diện làm giảm hiệu quả của việc kiểm tra - đánh giá. Trong giáo dục, đánh giá
toàn diện khóng chỉ xét về mặt số lượng mà còn xét về mặt chất lượng, khóng chỉ quan
trọng về kiến thức mà còn xét đến kỹ năng, thái độ.
* Tính hệ thống:
Quá trính kiểm tra đánh giá cần thực hiện theo kế hoạch, cñ hệ thống. Kiểm tra
một cách cñ hệ thống giöp thu thập chình xác, đầy đủ thóng tin cần thiết cho việc đánh giá
quyết định để đảm bảo chất lượng kiểm tra - đánh giá. Cóng tác quản lý kiểm tra - đánh
giá hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Cñ mục tiêu, kế hoạch kiểm tra - đánh giá cụ thể.
- Cñ quy trính kiểm tra - đánh giá ph÷ hợp.
- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kiểm tra - đánh giá theo đöng quy trính.
- Kiểm tra sát sao hoạt động kiêm tra - đánh giá để cñ những điều chỉnh kịp thời
nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra - đánh giá.
1.3.5. Các hình thức kiểm tra - đánh giá và phương thức kết hợp các hình thức này
trong các kỳ kiểm tra - đánh giá khác nhau
Việc dạy và học đã xuất hiện trong lịch sử loài người hàng nghín năm trước
đây, và để tuyển dụng người tài, giỏi người ta phải tạo ra các hính thức thi, kiểm tra để
so sánh các thì sinh với nhau. Cñ nhiều hính thức kiểm tra - đánh giá khác nhau trong
đñ hính thức phổ biến nhất hiện nay là: Vấn đáp, tự luận, trắc nghiệm khách quan và
kiểm tra hỗn hợp.
1.3.5.1. Kiểm tra vấn đáp
Kiểm tra vấn đáp là phương thức đánh giá rất phổ biến trong dạy học. Trong
quá trính dạy học, giáo viên cñ thể đưa ra các câu hỏi ngắn và trực tiếp để sinh viên trả
lời (sinh viên cñ thể được chuẩn bị trước hoặc khóng được chuẩn bị trước câu hỏi). Căn
cứ vào vào câu trả lời, giáo viên sẽ biết được mức độ hiểu bài, nắm được kiến thức của
sinh viên mính.
Điểm mạnh của hình thức kiểm tra vấn đáp
* Linh hoạt, cơ động nên cñ thể d÷ng để đánh giá kiến thức đã được học và
những kiến thức mới học của sinh viên.
* Cñ thể kiểm tra khả năng tư duy và mức độ ghi nhớ của sinh viên.
* Thóng qua hính thức vấn đáp, giáo viên cñ điều kiện trao đổi trực tiếp với
từng sinh viên, kìch thìch tư duy của họ từ đñ cñ sự chuẩn đoán chình xác hơn đối với
từng đối tượng người học.
* Hính thức này cñ thể tiến hành trong và ngoài lớp học, d÷ng để đánh giá sinh
viên trước, trong và cuối khoá học
Hạn chế của kiểm tra vấn đáp:
Điểm mạnh của trắc nghiệm tự luận:
* Đo lường được các mục tiêu đã xác định trước, mất ìt thời gian và dễ dàng
trong khâu chuẩn bị
* Đánh giá được thái độ, kiến thức của sinh viên
* Tạo cơ hội cho sinh viên phát huy hết khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo và
bày tỏ được cảm xöc của bản thân.
* Cñ khả năng đo lường tốt ở mức độ hiểu, tổng hợp, đánh giá
Hạn chế của trắc nghiệm tự luận
* Khñ đánh giá được toàn diện mức độ nắm kiến thức của sinh viên mà chỉ cñ
thể tập trung vào một số phần chình. Ví vậy dễ dẫn đến tính trạng sinh viên học tủ, học đối phñ.
* Tốn nhiều thời gian trong khâu chấm bài.
* Bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố chủ quan từ phìa người chấm nên khñ đảm bảo
tình khách quan trong đánh giá. Do đñ đòi hỏi rất cao ở kỹ năng của người chấm bài.
- Trắc nghiệm khách quan (thường gọi là trắc nghiệm): Là hính thức kiểm tra
sử dụng bài trắc nghiệm khách quan làm cóng cụ để đánh giá kết quả học tập của sinh
viên theo mục tiêu đã định trước. Bài trắc nghiệm khách quan thường gồm nhiều câu
hỏi, mỗi câu trả lời bằng ký hiệu giản đơn, một từ hay một cụm từ.
Trắc nghiệm thường được chia thành hai loại:
+ Trắc nghiệm năng lực: Là các trắc nghiệm do năng lực của cá nhân như trắc
nghiệm trì tuệ, trắc nghiệm năng khiếu…
+ Trắc nghiệm thành quả học tập: Là trắc nghiệm đánh giá tri thức, kinh
nghiệm, kỹ năng, thái độ của sinh viên trong học tập.
Điểm mạnh của trắc nghiệm khách quan
* Đề thi, kiểm tra cñ thể bao quát hết kiến thức trong toàn bộ chương trính món
học. Từ đñ cñ thể thẩm định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học.
* Người soạn thảo bài thi trắc nghiệm cñ quyền tự do bộc lộ kiến thức và các
giá trị của mính qua việc đặt câu hỏi.
+ Câu trả lời ngắn gọn: là câu hỏi trong đñ các câu trả lời mang tình xác định
cao, thường trả lời bằng nội dung rất ngắn. Người trả lời cñ thể ghi nhanh kết quả ra
giấy hoặc trên máy tình.
Khi nào nên lựa chọn sử dụng trắc nghiệm hay luận đề:
Xét đến những ưu và khuyết điểm của trắc nghiệm và luận đề, ta thấy rằng cả
hai đều là những phương tiện khảo sát kết quả học tập hữu hiệu và đều cần thiết, miễn
là ta phải nắm vững phương thức soạn thảo và cóng dụng của mỗi loại. Theo ý kiến của
các chuyên gia về trắc nghiệm, ta nên sử dụng luận đề để khảo sát kết quả học tập trong
những trường hợp dưới đây:
* Khi nhñm học sinh được khảo sát khóng quá đóng và đề thi chỉ được sử dụng
một lần (khóng d÷ng lại nữa)
* Khi thầy giáo cố gắng tím mọi cách cñ thể được để khuyến khìch và tưởng
thưởng sự phát triển kỹ năng diễn tả bằng văn viết
* Khi thầy giáo muốn thăm dò thái độ hay tím hiểu tư tưởng của sinh viên về
một vấn đề nào đñ hơn là khảo sát kết quả học tập của chöng
* Khi thầy giáo tin tưởng vào tài năng phê phán và chấm bài luận đề một cách
vó tư và chình xác hơn là khả năng soạn thảo những câu trắc nghiệm thật tốt.
* Khi khóng cñ nhiều thời gian soạn thảo bài khảo sát nhưng lại cñ nhiều thời
gian để chấm bài.
Mặt khác, ta nên sử dụng trắc nghiệm trong những trường hợp sau:
* Khi ta cần khảo sát kết quả học tập của một số đóng sinh viên, hay muốn rằng
bài khảo sát ấy cñ thể sử dụng lại vào một löc khác.