TÍN HIỆU THẨM MỸ MƯA TRONG THƠ HOÀNG CẦM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến
ThS. Đặng Thị Thu Hiền, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn và giúp
đỡ em suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ bộ môn Lý
luận ngôn ngữ, khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin gửi lời cảm ơn và tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã luôn động
viên, khích lệ, giúp đỡ trong thời gian tôi học tập và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Trịnh Thị Huế

1


MỤC LỤC

2


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Mặc dù được xem là một trường phái khá non trẻ và vẫn còn có
những quan niệm, hướng tiếp cận nghiên cứu chưa thống nhất, nhưng hiện nay,
Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) là một trong những khuynh hướng
thu hút được sự quan tâm nhất của giới ngôn ngữ học. Đối tượng cụ thể của
ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ với tư cách là một trong những ứng dụng tri
nhận của con người. Ngôn ngữ học tri nhận, một mặt xem xét lại những vấn đề
ngôn ngữ của Ngôn ngữ học truyền thống (chẳng hạn như: phạm trù, ý niệm, ẩn

Dựa vào hệ thống tín hiệu thẩm mỹ “mưa” và việc vận dụng lí thuyết
của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi đi tìm hiểu tín hiệu thẩm mỹ “mưa”
trong thơ Hoàng Cầm trong sự tương quan với các ý niệm khác để từ đó cung
cấp thêm một cái nhìn về thơ ông trên các phương diện: năng lực tư duy, sáng
tạo ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là dấu ấn tư duy – văn hóa dân tộc phản
chiếu trong thế giới quan, nhân sinh quan của tác giả.
Khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có một
công trình nào thực sự lấy tín hiệu“mưa” trong thơ Hoàng Cầm làm đối tượng
nghiên cứu từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận. Xuất phát từ những lí do trên,
chúng tôi lựa chọn “Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ
góc độ ngôn ngữ học tri nhận” làm đề tài cho khóa luận của mình.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận
2.1.1. Trên thế giới
Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive linguistics) là một phương hướng
nghiên cứu liên ngành phát triển vào cuối những năm 1950 của TK XX. Nó là
sự kết hợp của ngôn ngữ học với khoa học tri nhận. Ngôn ngữ học tri nhận
liên quan đến sự khảo sát các quá trình tâm trí trong việc thụ đắc và sử dụng
tri thức và ngôn ngữ. Ngôn ngữ học tri nhận là một cách tiếp cận ngôn ngữ

4


dựa trên kinh nghiệm của chúng ta về thế giới và cách thức chúng ta tri giác
và ý niệm hóa thế giới. Bản thân hoạt động tri nhận khó có thể quan sát được
cho nên ngôn ngữ trở thành cửa sổ quan sát và nghiên cứu tri nhận.
Những vấn đề của ngôn ngữ học tri nhận đã được nghiên cứu từ những
năm 50 của thế kỉ trước, nhưng các thuật ngữ ngôn ngữ học tri nhận
(cognitive linguistics), ngữ nghĩa học tri nhận (cognitive semantics), và ngữ
pháp tri nhận (cognitive grammar) thì mới xuất hiện lần đầu trong tác phẩm

tiếng Việt(NXB KHXH, HN, 2005) [30]. Đây có thể coi là công trình tiên
phong về lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận ở nước ta. Ngay chương đầu cuốn
sách, tác giả giới thiệu về sự ra đời và phát triển, những vấn đề cơ bản nhất
của ngôn ngữ học tri nhận: các nguyên lí cơ bản, sự ý niệm hóa và các quá
trình ý niệm, điển dạng và các phạm trù tri nhận,… Các chương tiếp theo
trình bày các đặc điểm tri nhận không gian của người Việt – kết quả ứng dụng
lí thuyết tri nhận vào nghiên cứu thực tiễn tiếng Việt của tác giả.
Nối tiếp thành tựu nghiên cứu của Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ cho
xuất bản cuốn Ngôn ngữ học tri nhận (ghi chép và suy nghĩ) (NXB KHXH,
2007) [64] trình bày kĩ lưỡng về các khái niệm, thuật ngữ của ngôn ngữ học
tri nhận cùng những cảm nhận, suy ngẫm của mình cũng như định hướng, gợi
mở các vấn đề nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận.
Năm 2008, ông xuất bản cuốn Khảo luận ẩn dụ tri nhận [68], trong đó trọng
tâm là vấn đề ẩn dụ ý niệm, có trích dịch, giới thiệu công trình Metaphor we
live by [15] của G. Lakoff và M. Johnson. Mới đây, trong bài viết Việt ngữ
học tri nhận (Phác thảo một hướng nghiên cứu tiếng Việt) đăng tải trên tạp
chí Ngôn ngữ, số 11/2010, Trần Văn Cơ cũng đã khái quát quá trình phát triển
của ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam và đề xuất thành lập bộ môn Việt ngữ
học tri nhận như một sự ghi nhận đóng góp của ngôn ngữ học tri nhận với
việc nghiên cứu tiếng Việt cũng như các định cụ thể hơn đối tượng và phạm vi
nghiên cứu, hướng phát triển của bộ môn này.

6


Nguyễn Văn Hiệp với bản dịch: Nhập môn ngôn ngữ học (Sematics –
An introduction) [22] của John Lyons cũng có đề cập đến một số vấn đề của
tri nhận luận. Ở một công trình khác, Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
(2008) [53], Nguyễn Văn Hiệp dành chương đầu tiên để trình bày “những
quan điểm về vai trò của nghĩa trong phân tích và miêu tả cú pháp” – trong đó

ra đời. Bài thơ đã nâng tên tuổi Hoàng Cầm lên trên đài thơ, đứng cạnh các bậc
liền anh như Thế Lữ, Nguyễn Bính, Xuân Diệu,… và cùng với Lá diêu bông,
Quả vườn ổi,... thơ Hoàng Cầm làm say lòng độc giả bằng cách riêng của nó, thu
hút mạnh mẽ sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học.
Khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thơ Hoàng Cầm, chúng tôi nhận thấy
rất khá nhiều công trình nghiên cứu thơ Hoàng Cầm. Dưới hình thức luận án
tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, tiểu luận, những bài viết ngắn,… giới nghiên cứu, phê
bình, người giảng dạy và độc giả yêu mến thơ Hoàng Cầm đã xuất phát từ
nhiều góc độ khác nhau khám phá ra được những giá trị nhất định của thế giới
thơ ông, khẳng định sự cống hiến to lớn của thi nhân trong nền văn học hiện
đại. Tuy nhiên, nghiên cứu thơ Hoàng Cầm dưới ánh sáng của ngôn ngữ học
tri nhận thì rất ít và hầu như chưa có.
Nghiên cứu thơ Hoàng Cầm, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có một
số khuynh hướng chính như sau:
2.2.1. Hướng nghiên cứu từ góc độ thi pháp học
Dưới góc nhìn thi pháp học, Đỗ Đức Hiểu trong bài viết Thơ mới – cuộc
nổi loạn của ngôn từ thơ[9] đã nhận thấy Hoàng Cầm là người kế tục (xa, rất
xa) thơ Mới, thế giới thơ Hoàng Cầm là một “thế giới ảo” tràn ngập những hình
ảnh siêu thực. Ở một phương diện cụ thể, từ việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật
Mưa Thuận Thành, tác giả khẳng định: “Mưa Thuận Thành” là một thế giới
siêu Thuận Thành, siêu Kinh Bắc, siêu mưa” [9; 30] và rút ra nhiều nhận xét độc
đáo về thi pháp thơ Hoàng Cầm. Đó là một loại hình thơ có nhiều “cái lặng”,

8


“nhiều xót xa, nhiều bi kịch, không nói”, nó “âm u, lóe sáng, rồi mịt mù, xa tắp,
như những huyền thoại thuở hoang sơ” [9; 116].
Đọc thơ Hoàng Cầm, nhà nghiên cứu Thụy Khê có một số cảm nhận riêng
trên phương diện thi pháp học lịch sử. Chị gọi thế giới thơ Hoàng Cầm bằng một

không khẳng định ngay ở đây rằng thơ Hoàng Cầm là hay, là tuyệt tác, hình
thức thơ Hoàng Cầm ở đây là tân kì, sáng tạo, song tôi biết rằng dù thích hay
không nhiều người vẫn thấy thơ Hoàng Cầm là lạ, là một cái gì khang khác
trong giọng điệu trong hình thức” [12; 60].
Hoài Việt trong bài viết Đến với Hoàng Cầm [18] có đưa ra một so sánh
rất hay: “Con chữ trong tay anh như âm binh trong tay phù thủy” và có những
nhận xét khá tinh về sự sáng tạo ngôn ngữ trong thơ Hoàng Cầm: “… cũng là ở
con người mái tóc bụi tro này là việc mày mò tìm ra cái lần đằng sau chữ, tầng
tầng lớp lớp chồng lên nhau tạo nên bề dày chữ nghĩa không chỉ nổi mà chìm do
đó sẽ dễ gây những cách hiểu khác nhau trong vùng mờ. Chữ nghĩa anh dắt díu
nhau vào cuộc đời không là trò rồng rắn mà cứ quay vòng xoắn xuýt lấy nhau
để rồi bật lên sức gợi cảm lay động cả tâm thức người đọc” [18; 38].
Một số bài viết có đề cập đến thi pháp thơ Hoàng Cầm và đều thống
nhất một nhận xét về thơ ông là lối thơ siêu thực, phạm trù siêu thực: “Tính
hiện đại ở thơ Hoàng Cầm không phải là như ở thơ Vũ Hoàng Chương, mà là
một vùng cây cỏ, sông hồ nhẹ bay của thôn quê Kinh Bắc, được siêu thực hóa
thành Cỏ Bồng Thi, cầu Bà Sấm, bến Cô Mưa và Lá diêu bông, hay những
người con gái mờ ảo, những mối tình hư ảo xứ Kinh Bắc, xóa nhòa trong
mưa bụi bay” [23; 30].
Tiếp tục ý kiến bàn về chất siêu thực trong thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng
Điệp trong bài Hoàng Cầm – người dệt từ những giấc mơ [35] có viết: “chính
hồn vía Kinh Bắc, chính niềm khát khao cháy bỏng về một tình yêu lớn dành cho
quê hương, cho cái đẹp một khi sâu sắc đến tràn bờ liền cất cành thành thơ. Đó
là tiếng vọng của cõi mơ, là sự siêu thăng của vô thức”[35; 52]. Đúng vậy, hiện

10


thực trong thơ Hoàng Cầm không phải là hiện thực thông thường mà là hiện
thực vô thức, hiện thực tâm linh. Như thế, đi theo con đường của thơ siêu thực,

“Hình như có một không gian Kinh Bắc, một thời gian Kinh Bắc rất đỗi cổ
kính trong thơ anh. Và trên cái nền thời gian, không gian ấy, cứ thấp thoáng
một cô gái quê Kinh Bắc của một thuở nào, có vẻ duyên dáng, tình tứ…”
Nguyễn Xuân Lạc khi nói về cảm hứng thơ Hoàng Cầm có viết: “Người
thơ mang tên vị thuốc đắng ấy lại sinh ra và lớn lên trong một vùng đất thơ ngọt
ngào. Đó là xứ Kinh Bắc – một trong ba cái nôi lớn của dân tộc Việt Nam… Xứ
Kinh Bắc thơ mộng hữu tình… Vùng đất thơ ấy bồi đắp cho Hoàng Cầm, từ
nhiều phía, nhiều nguồn”,ra đi kháng chiến, Hoàng Cầm “đem theo cả một
hành trang Kinh Bắc trong hồn thơ Thanh niên của mình” [55; 14-15].
Năm 2007, cuốn sách Thơ Hoàng Cầm với văn hóa Kinh Bắc của
Nguyễn Thị Minh Bắc có đề cập đến góc độ văn hóa, nhưng chưa thực sự chỉ
ra được những biểu tượng văn hóa trong thơ ông – điều cốt lõi làm nên những
thành công về bản sắc, phong cách nghệ thuật và tài năng thơ Hoàng Cầm.
Năm 2012, Luận án Tiến sĩ của Lương Minh Chung với đề tài Thơ
Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa [27] đã xác định điểm nhìn văn hóa trong
việc nghiên cứu thơ Hoàng Cầm. Tác giả đã đi sâu vào các vấn đề lý thuyết, lí
luận chung về mối quan hệ giữa môi trường văn hóa và con người, dưới góc
nhìn văn học như một công cụ để khai thác.
Tiếp cận và phát triển hướng nghiên cứu trên, Trần Đức Hoàn trong
Luận án Tiến sĩ với đề tài Văn hóa Kinh Bắc – vùng thẩm mỹ trong thơ Hoàng
Cầm [60] đã giải mã một cách khoa học, tương đối thấu đáo về thơ Hoàng Cầm
từ góc độ văn hóa học trong mối liên hệ với vùng thẩm mỹ Kinh Bắc dưới góc
độ biểu tượng văn hóa và hệ thống ngôn ngữ. Từ đó khẳng định: “Văn hóa
Kinh Bắc”chính là“vùng thẩm mỹ độc đáo trong thơ Hoàng Cầm”.
2.2.3. Hướng nghiên cứu thơ Hoàng Cầm từ góc độ phân tâm học

12


Năm 2003, PGS.TS. Đỗ Lai Thúy biên soạn, giới thiệu cuốn sách Phân

hóa truyền thống của quê hương Kinh Bắc. Trong đó, tác giả có thống kê và
phân loại “mưa”, ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng “mưa”.
Chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận thơ Hoàng
Cầm từ góc độthi pháp học, nghiên cứu thơ Hoàng Cầm từ góc độ văn hóa,
một số khác theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ. Tuy nhiên, chưa có một công
trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể “mưa” trong thơ Hoàng Cầm; ngay cả
Hệ thống biểu tượng trong thơ Hoàng Cầm (2009) [32] của Mai Thị Nhiên có
nghiên cứu đến “mưa” nhưng dưới lí thuyết biểu tượng và cũng chưa có công
trình nghiên cứu nào về “Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầmnhìn
từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”. Thêm nữa, kể từ khi công trình kinh điển
Metaphors We Live by (Ẩn dụ chúng ta đang sống) [15] của G. Lakoff và
Johnson (1980s) ra đời đến nay, lí thuyết về Ngôn ngữ học tri nhận trong
khoảng thời gian mấy mười năm qua đã không ngừng được phát triển trên
nhiều phương diện từ mở rộng phạm vi ngữ liệu khảo sát đến việc bổ sung
thêm những luận điểm học thuật mới. Tiếp thu hệ lí thuyết này, khi tìm hiểu
các sáng tác thơ Hoàng Cầm, chúng tôi lựa chọn đề tài Tín hiệu thẩm mỹ
“mưa” trong thơ Hoàng Cầmnhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhậnvới
mong muốn góp phần vào việc giới thiệu lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận ở
Việt Nam (đang là một vấn đề mới mẻ, thu hút nhiều sự chú ý), đồng thời ứng
dụng vào nghiên cứu thực tiễn tiếng Việt tìm ra những chứng cứ củng cố cho
quan điểm tri nhận, ý niệm và ý niệm hóa của Ngôn ngữ học tri nhận hiện
nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi đặt mục tiêu áp dụng lí thuyết của ngôn
ngữ học tri nhận vào thực tiễn ngôn ngữ tiếng Việt, cụ thể là“Tín hiệu thẩm
mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”,
nhằm chỉ ra sự tương quan giữa ý niệm “mưa” với các ý niệm khác; từ đó có

14



ngôn ngữ có từ “mưa” nhưng không thể hiện ý niệm không thuộc phạm vi
nghiên cứu của khóa luận.
Phạm vi tư liệu khảo sát: Để nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi tiến hành
khảo sát tư liệu Hoàng Cầm thơ, NXB Hội Nhà văn – Trung tâm Văn hóa
Đông Tây, 2003 của Lại Nguyên Ân (sưu tầm và biên soạn) gồm 267 bài thơ
[1]. Đây có thể coi là công trình tập hợp một cách hệ thống và đầy đủ nhất
những sáng tác thơ của Hoàng Cầm. Chọn cách sắp xếp theo trật tự thời gian
sáng tác, tác giả giữ nguyên những tập hợp hoàn toàn độc lập (Tiếng hát quan
họ, Về Kinh Bắc, Lá diêu bông,…), đồng thời tập hợp những sáng tác khác
thành những cụm nhất định, hoặc gần nhau về thời gian sáng tác hoặc trong
cùng một ấn phẩm; bao gồm:
- Tiếng hát quan họ (1956)
- Về Kinh Bắc (1959 – 1960)
- Những niềm tin (thơ dịch, 1965)
- Men đá vàng (1989)
- Mưa Thuận Thành (1991)
- Lá diêu bông (1993)
- 99 Tình khúc (1995)
- Đến từ hư không (1995 – 2000)
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khác nhau:
5.1. Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Chúng tôi tiến hành khảo sát sự xuất hiện của tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong
thơ Hoàng Cầm. Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” cho thấy trong mô hình tri nhận của
Hoàng Cầm, ý niệm về “mưa” gắn liền với các ý niệm “người phụ nữ”, “thời gian”,

16

chủ yếu qua sự kết hợp từ ngữ “mưa + từ ngữ khác”. Từ đó, cho thấy những
17


mối liên tưởng mà tác giả Hoàng Cầm đã thể hiện khi tri nhận “mưa” và ý
niệm hóa chúng thành ý niệm “mưa” trong thơ. Như vậy, khóa luận có ý
nghĩa thực tiễn đó là thông qua việc cung cấp một hệ thống ngữ liệu và những
phân tích, luận giải liên quan đến sự tri nhận và ý niệm hóa trên cơ sở đi sâu
vào lựa chọn ngữ liệu cụ thể - sáng tác thơ Hoàng Cầm, khóa luận có thể có
những đóng góp tích cực cho việc phát triển nghiên cứu và ứng dụng theo
đường hướng ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở cho
việc đưa vào ứng dụng những kết quả nghiên cứu được vào chương trình đào
tạo hoặc được sử dụng như tài liệu tham khảo cho ngành Ngữ văn và các
ngành liên quan như Văn hóa học, Tâm lí học,…
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận
triển khai thành 3 chương:
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 2. Ý NIỆM “MƯA” VÀ SỰ THỂ HIỆN Ý NIỆM “MƯA”
TRONG THƠ HOÀNG CẦM
Chương 3. VAI TRÒ CỦA Ý NIỆM “MƯA” TRONG VIỆC XÂY
DỰNG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ HOÀNG CẦM

18


Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong chương này chúng tôi trình bày khái quát những cơ sở ngôn ngữ
làm nền tảng cho việc ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào giải quyết

Nó phải có một hình thức cảm tính: cảm nhận được bằng giác quan.
Nó phải gợi ra, đại diện cho một cái gì đó khác với chính nó (phải mang một
nội dung ý nghĩa), “một tín hiệu là một khái niệm về quan hệ giữa cái biểu

-

đạt và cái được biểu đạt (ý nghĩa)”.
Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó.
Phải nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định.
Các nhà nghiên cứu Tín hiệu học đã phân các tín hiệu thành những
phạm trù khác nhau. Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra bảng phân loại tín hiệu theo
quan điểm riêng của mình. Theo ông, tín hiệu là một thực thể đa diện cho nên
căn cứ vào các phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại
khác nhau. Mỗi lần vận dụng một tiêu chí phân loại là có một kết quả phân
loại.Những tiêu chí phân loại mà Đỗ Hữu Châu đưa ra là:
1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện
2/ Dựa vào nguồn gốc của tín hiệu
3/ Dựa vào mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện
4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của tín hiệu
Dựa vào mặt thể chất của tín hiệu có thể phân chia ra được các loại tín
hiệu như: tín hiệu màu sắc, tín hiệu âm thanh,… trong đó tín hiệu ngôn ngữ
được coi là một loại tín hiệu đặc biệt.
1.1.2. Tín hiệu ngôn ngữ
Trên cơ sở lí thuyết Tín hiệu học, mỗi tín hiệu gồm có hai mặt là: cái
biểu đạt (hình thức vật chất cảm tính) và cái được biểu đạt (nội dung ý nghĩa).
F. de Saussure xác định tín hiệu ngôn ngữ như sau: “tín hiệu ngôn ngữ kết
liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với
một hình ảnh âm thanh”. Hai yếu tố này gắn bó khăng khít với nhau, trong đó
khái niệm là cái biểu đạt và hình ảnh âm thanh là cái được biểu đạt.



21


Thuyền về có nhớ bến chăng

(1)

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao)
(2)

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
(Tràng giang – Huy Cận)

"Thuyền" chỉ người con trai khi đặt trong ngữ cảnh của câu ca dao với
các từ ngữ chỉ dẫn xung quanh: bến,về, nhớ, một dạ, khăng khăng, đợi chỉ
hoạt động, trạng thái tình cảm của con người.
"Thuyền" trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận lại được hiểu theo
một nghĩa khác. “Thuyền” ẩn dụ cho kiếp người nhỏ bé lênh đênh giữa dòng
đời phiêu bạt.
Như vậy, ý nghĩa của tín hiệu thẩm mỹ chỉ có được khi đặt chúng trong ngữ
cảnh cụ thể, khi tách ra khỏi ngữ cảnh hoặc đặt trong một ngữ cảnh khác thì ý
nghĩa của tín hiệu thẩm mỹ cũng thay đổi.
1.1.3. Tín hiệu thẩm mỹ
Khái niệm tín hiêu thẩm mỹ (hay kí hiệu thẩm mỹ) ra đời gắn với
khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật từ những năm
giữa thế kỉ XX với các công trình của Iu.Philipiep, M.B.Khrapchenco. Sau
đó, những công trình này được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 70

Tín hiệu ngôn ngữ
Cái được biểu đạt: ý nghĩa ngôn ngữ
Tín hiệu thẩm mỹ
Cái được biểu đạt: ý nghĩa thẩm mỹ
Sơ đồ trên cho thấy cái biểu đạt và cái được biểu đạt tạo thành tín hiệu
ngôn ngữ đã trở thành cái biểu đạt cho một cái được biểu đạt mới là ý nghĩa
thẩm mỹ của tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm văn học. Tín hiệu ngôn ngữ tự

23


nhiên muốn trở thành tín hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm nghệ thuật thì phải trải
qua một quá trình khái quát hóa nghệ thuật mang tính biểu trưng để đạt đến ý
nghĩa thẩm mỹ nhất định.
Trong các tác phẩm nghệ thuật, tín hiệu thẩm mỹ được biểu hiện rất đa
dạng đối với từng ngành nghệ thuật, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mang
những đặc trưng cụ thể của tín hiệu thẩm mỹ.
1.1.4. Mưa – từ tín hiệu đến tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu thẩm mỹ trong
thơ Hoàng Cầm
Trong tư duy, nhận thức của chúng ta, mưa là một hiện tượng tự nhiên, là
một dạng ngưng tụ của hơi nước khi gặp điều kiện lạnh, hơi nước bay lên cao
gặp lạnh ngưng tụ lại thành các đám mây trong tầng đối lưu của khí quyển. Khi
các đám mây đủ nặng, nước sẽ bị rơi trở lại trái đất, tạo thành mưa.
Mưa đi vào ca dao Việt Nam: Con cò đi đón cơn mưa/ Tối tăm mù mịt
ai đưa cò về. Khi chỉ nỗi đau đớn chia lìa tan vỡ: Trời mưa bóng bóng bập
bùng/ Mẹ đi lấy chồng con ở với ai. Khi mưa được dùng với nét nghĩa vật
chất: Ơn trời mưa nắng phải thì, Lạy trời mưa xuống/ Lấy nước tôi uống…
Trong tư duy văn hóa người Việt, mưa là một hiện tượng thời tiết quan trọng.
Vì văn hóa người Việt là văn hóa nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào thời tiết.
Thiếu mưa gây hạn hán, mưa xuống làm cho mùa màng bội thu, nhưng mưa

từng bài thơ, từng khổ thơ.
Bản thân nguồn gốc, ý nghĩa của tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ và tín hiệu
thẩm mỹ “mưa” chính là ý niệm “mưa” trong nhận thức, tri nhận của Hoàng
Cầm. Vì thế, chúng tôi nghiên cứu “mưa” dưới góc độ ý niệm (Ngôn ngữ học tri
nhận) mà không phải là nghĩa của từ (tín hiệu thẩm mỹ) bởi vì ý niệm là cơ sở,
xuất phát điểm để sử dụng từ ngữ và sử dụng “mưa” như một tín hiệu nghệ thuật
trong tác phẩm. Tức tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm chỉ là đối
tượng, là phương tiện để soi rọi ánh sáng của lí thuyết Ngôn ngữ học tri nhận của
vấn đề“Tín hiệu thẩm mỹ “mưa” trong thơ Hoàng Cầm nhìn từ góc độ ngôn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status