BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG NÓI TỨC ĐÔNG LOAN(LÀNG ĐÔNG THƯỢNG, XÃ LÃNG SƠN, HUYỆN YÊN DŨNG,TỈNH BẮC GIANG) - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỘI NGHỊ KHOA HỌC SINH VIÊN LẦN THỨ XIII
(Năm học 2007 – 2008)

TÓM TẮT
CÁC BÁO CÁO ĐẠT GIẢI NHẤT

HÀ NỘI, NGÀY 15 THÁNG 5 NĂM 2008
1


BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG NÓI TỨC ĐÔNG LOAN
(LÀNG ĐÔNG THƯỢNG, XÃ LÃNG SƠN, HUYỆN YÊN DŨNG,
TỈNH BẮC GIANG)
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Giáo viên hướng dẫn:

Nguyễn Thanh Chi, Nguyễn Hải Định,
Nguyễn Ngọc Mai, Mai Huyền Trang
K50 Ngôn ngữ học
TS. Hoàng Cao Cương

Đông Loan là tên gọi cổ của một làng thuộc xã Lãng Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đông Loan xưa nhất xã ngũ thôn: Đa Mỹ, Đại Khánh, Ngọc Hà, Phú Thịnh, Thượng Đình thuộc xã
Lãng Sơn; là nơi tứ chiếng quần cư, đa ngành đa nghề; hiện còn lưu giữ và phát huy những nét văn
hóa tốt đẹp của một vùng quê yêu nước, hiếu học.
* Đôi nét về hiện tượng Nói tức ở Đông Loan
- Nói tức là gì?
Nói tức là dùng lời nói để chọc cho người ta tức. Chúng thường xuất hiện khi con người chịu
sự tác động của nhiều yếu tố, trong số đó phải kể đến hoạt động giao tiếp, hay nói một cách cụ thể

Nói tức Đông Loan không chỉ nơi riêng tư mà còn ở những nơi công cộng, nơi cơ quan hành
chính.
* Một số kết luận:
- NTĐL là một hiện tượng ngôn ngữ mang tính tích cực từ các phương diện sau:
+ Bản chất tín hiệu ngôn ngữ
+ Chức năng giao tiếp (trao đổi)
+ Chức năng liên nhân
- Từ lối đối đáp đơn thuần, NTĐL đã trở thành một thói quen giao tiếp trong cộng đồng làng
xã ĐL. Như vậy nó xuất hiện khá sớm và có một quá trình phát triển lâu dài chứ không phải là một
hiện tượng "mới" của ngôn ngữ học.
- Nói tức không chỉ xuất hiện ở một nơi mà nhiều vùng khác cũng xuất hiện nhưng nói tức ở
mỗi vùng có đặc điểm khác biệt riêng.
- Nói tức là hiện tượng mang tính xã hội cao, nó thuộc về cộng đồng và chia theo nhiều
nhóm xã hội.
- Nói tức không phải là một hiện tượng giao tiếp đời thường mà đã đi vào trong văn chương
(vè và giai thoại), dần được định hình và điển hình hóa.
- NTĐL sử dụng nhiều phương tiện ngôn ngữ khác nhau để diễn đạt. Trong đó, đặc biệt là
sử dụng sự phong phú trong vốn từ vựng và các hiện tượng thuộc trường nghĩa (ví dụ: đồng âm,
đồng nghĩa, trái nghĩa…).
Tóm lại, đây là một đề tài có nhiều khía cạnh còn có thể đi sâu. Hy vọng rằng, trong tương
lai, giống như nhiều hiện tượng ngôn ngữ học khác, chúng ta sẽ có thể xây dựng được "Bản đồ Nói
tức Việt Nam".

3


SẢN PHẨM – DỊCH VỤ THÔNG TIN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN, MIỀN NÚI
TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
Sinh viên thực hiện:

nuôi trồng thuỷ sản, công nghệ sinh học, công nghệ sạch, bảo vệ môi trường, xử lý phế thải…
TVĐT phim Khoa học và Công nghệ có 277 phim.
+ CSDL chuyên gia, tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ/tiến bộ kỹ thuật với 4.131 hồ sơ.
Ngoài ra còn có rất nhiều các sản phẩm luôn có mặt ở Trung tâm như: Tờ rơi, tời bướm, các
bản tin nhanh, tin điện tử được cập nhật thường xuyên, các đĩa CD-ROM... đây là nguồn nội sinh
tiềm tàng giúp cho TTTTKH&CNQG xây dựng và triển khai tốt hơn các sản phẩm của mình tới các
xã, các huyện vùng sâu, vùng xa của NTMN nước ta.
2. Dịch vụ thông tin KHCN phục vụ NTMN

4


Bên cạnh các loại hình SP thông tin KHCN thì hiện tại Trung tâm đã và đang triển khai các
dịch vụ thông tin khoa học công nghệ phục vụ phát triển KT-XH ở NTMN. Đó chính là:
- Dịch vụ thông tin bằng ấn phẩm
Các ấn phẩm bằng thông tin như: Thông tin khoa học và công nghệ định kì, thông tin
chuyên đề, tờ rơi, tờ bướm, tài liệu tuyên truyền, tài liệu hướng dẫn kĩ thuật, nông lịch... được biên
soạn và gửi đến các địa bàn tham gia dịch vụ. Trong đó có một dạng đặc thù được triển khai rộng
rãi trong những năm gần đây là: Bản tin điện tử, đáng chú ý là Bản tin điện tử “Nông thôn đổi mới”,
phát hành 2 tuần/số, có nội dung đáp ứng yêu cầu tin của địa bàn NTMN.
- Dịch vụ thông tin bằng danh sách gửi tới địa phương, cơ sở
Áp dụng hình thức thông tin truyền thống, TTTTKH&CNQG đã tiến hành xây dựng kho tin
gồm kho tài liệu gốc và Bộ máy tra cứu tin. Các danh sách gửi về có nội dung từ thấp đến cao và
được sắp xếp theo khung phân loại trực tuyến Dewey (DDC)…
- Dịch vụ thông tin bằng cách gửi đĩa CD-ROM, phim khoa học
Là hình thức thông tin đa phương tiện, có ưu điểm là tiết kiệm kinh phí; dễ dàng trong việc
gửi và nhận, dễ nhân rộng. Các thông tin được trình bày có kèm theo cả hình ảnh và ân thanh minh
hoạ nên dễ hiểu, dễ tiếp thu.
Dịch vụ thông tin qua các hình thức trực quan
Tại các địa bàn, TTTTKH&CNQG đã tổ chức các hội thảo, tập huấn kỹ thuật, trình diễn

theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các dự án xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao KHCN được hình thành theo các
nhóm và gắn với các mục tiêu, nội dung cụ thể như nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo, sản xuất các
loại nông sản quý, có lợi thế so sánh cao, sản xuất các mặt hàng còn phải nhập khẩu,…
Chương trình này sẽ được thực hiện cùng với các chương trình phát triển KT-XH của vùng,
của địa phương về nông nghiệp, nông thôn, các chương trình nghiên cứu khoa học, chương trình
mục tiêu quốc gia khác để nâng cao hiệu quả đầu tư từ các nguồn lực của Nhà nước và huy động tối
đa nguồn lực của xã hội.
- Về nhược điểm:
Tiềm lực thông tin khoa học và công nghệ ở mỗi tỉnh, nhất là tiềm lực thông tin số hóa, còn
rất nhỏ bé, cơ quan thông tin địa phương chưa thu thập được nhiều những tài liệu có giá trị và đặc
thù của địa phương mình.
Đa số các cơ quan thông tin địa phương chưa có khả năng đưa các CSDL lên mạng để có thể
phục vụ trực tuyến.
Đội ngũ cán bộ thông tin KHCN và cộng tác viên ở hầu hết các địa phương còn mỏng, hay
biến động, chưa thực sự gắn bó với nghề nghiệp. Cần được ổn định về mặt tổ chức tại các trung tâm
thông tin KHCN địa phương.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ quan thông tin địa phương nhìn chung còn yếu, dàn trải
chưa đáp ứng yêu cầu cơ bản.
Kinh phí dành cho hoạt động thông tin KHCN tại các tỉnh còn rất hạn hẹp. Hầu hết các cơ
quan thông tin địa phương chưa biết tận dụng nguồn kinh phí đầu tư phát triển khoa học và công
nghệ để xây dựng tiềm lực thông tin và hạ tầng cơ sở.
Ngoài ra, có thể nói việc quán triệt cũng như triển khai các văn bản quy phạm pháp luật của
Nhà nước về công tác thông tin khoa học và công nghệ ở các tỉnh còn chậm, các biện pháp chưa
được đảm bảo tốt, nhiều vấn đề chưa được cụ thể hóa và chưa đồng bộ.
- Về giải pháp:
+ Giải pháp về tổ chức: Cần phải nhanh chóng ổn định, đặc biệt chú trọng việc lựa chọn mô
hình tổ chức và hoạt động sao cho thích hợp.
+ Giải pháp về xây dựng tiềm lực thông tin: Thu thập đầy đủ, số hóa và đưa vào các CSDL
những tài liệu có giá trị lâu dài của địa phương cũng như tài liệu về địa phương. Ưu tiên xây dựng/



NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐẦU THẾ KỶ XX
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Giáo viên hướng dẫn:

Nguyễn Thị Kim Dung
K50 CLC Lịch sử
PGS. TS. Phạm Xanh

Bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như : Phương pháp lịch sử, phương pháp
logic, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh ..., chúng tôi cố gắng làm nổi bật lên vai trò của
Nguyễn Văn Vĩnh trong cuộc cải cách giáo dục đầu thế kỷ XX, với tư cách là một trong những
người khởi xướng, người hoạt động tích cực và có nhiều đóng góp nhất. Ông là một trí thức Tây
học tài hoa muốn hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà theo Âu Tây tư tưởng, đồng thời cũng là con
người thiết tha với những giá trị truyền thống nhưng cũng vô cùng nhạy bén với thời cuộc. Ông
cũng là người có công đầu trong việc tạo nên mối liên hệ chặt chẽ và phát huy vai trò của báo chí
trong cải cách giáo dục.
Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 30 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (tức ngày 15/6/1882 ) tại số nhà 46,
phố Hàng Giấy, Hà Nội, hiệu là Tân Nam Tử.
Ông sinh ra và lớn lên trong thời đại đầy biến động. Việt Nam trở thành thuộc địa của thực
dân Pháp. Các phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân chống Pháp bùng lên mạnh mẽ nhưng
đều bị dìm trong bể máu.
Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, tại làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín,
tỉnh Hà Nội ( bây giờ là huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây), một vùng quê chiêm trũng nghèo khổ,
quanh năm ngập nước. Nhưng đây là vùng quê nổi tiếng hiếu học và nhiều người đỗ đạt cao.
Nguyễn Văn Vĩnh lớn lên trên kinh đô ngàn năm văn hiến, kế thừa truyền thống hiếu học
của quê hương, có sẵn trong mình ý chí vươn lên thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ, lại được tác động
không ngừng bởi các yếu tố văn hóa phương Tây đang du nhập ồ ạt cùng những chuyển biến cả đất

nước, cải cách giáo dục là “ niềm vui thích êm ái nhất”, là sự nghiệp cả đời của mình. Ông viết: “
… Rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi
sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phai nhòa trước tư tưởng đó để nhường
chỗ cho lòng vui thích êm ái nhất …”.
Nguyễn Văn Vĩnh là một học giả uyên bác, là tấm gương lớn mà bất cứ người học tập nào
cũng cần phải noi theo. Ông xứng đáng là một trong những người đứng đầu phong tráo cải cách
giáo dục đầu thế kỷ XX bởi tài năng, sự uyên bác và nghị lực phi thường của mình. Quá trình tự
học đã giúp ông có cái nhìn đúng đắn trong tiếp nhận tư tưởng, nội dung giáo dục mới và đưa ra
được các phương pháp giáo dục phù hợp. Đổi mới mà không xa rời, đi ngược lại truyền thống văn
hóa. Ông là người ý thức sâu sắc về bản sắc văn hóa dân tộc. Ông đã kế thừa truyền thống hiếu học
ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
2. Quan niệm giáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh
+ Ông chỉ rõ và phê phán nghiêm khắc những nhược điểm của nền giáo dục cũ để thức tỉnh
nhân dân hướng theo cải cách giáo dục. Ông đề xướng bỏ nền giáo dục Nho học để thực hiện nền
giáo dục chữ Quốc ngữ hiện đại.
+ Ông khẳng định vai trò của giáo dục với việc canh tân đất nước, tăng cường sức mạnh dân
tộc. Ông xác định tích chất của nền giáo dục mới là nền giáo dục đại chúng. Ông chỉ ra đối tượng
chính của giáo dục mới là bình dân không phân biệt sang hèn, nam nữ, đây là lực lượng quyết định
của cải cách giáo dục.
+ Ông rất coi trọng thực học, coi nghề học là cốt của các nghề . Học để : “ vinh hạnh mà
cầm cày, vẻ vang mà cầm cuốc”
+ Về phương tiện truyền thụ trong giáo dục, ông nhấn mạnh : nền học vấn của dân tộc phải
gắn bó chặt chẽ với chữ viết dân tộc. Chữ viết dân tộc ở đây là chữ Quốc ngữ. Ông coi cổ động học
chữ Quốc ngữ là trọng tâm của cải cách giáo dục.
+ Về nội dung và phương pháp giáo dục : Ông đưa ra nội dung và phương pháp giáo dục
mới là sự kết hợp giữa những ưu điểm của nền giáo dục truyền thống với nội dung và phương pháp
giáo dục mới của phương Tây hiện đại.
+ Muốn hiện đại hóa giáo dục một cách toàn diện phải đảm bảo tính thống nhất của nó trên
phạm vi cả nước : Bắc, Trung, Nam đều hòa hợp.
Là một trí thức Việt Nam yêu nước, Nguyễn Văn Vĩnh có sẵn trong mình kháng thể của nền

Kinh Nghĩa Thục, Hội Trí Tri và Trường học Hội Trí Tri, Hội dịch sách…; khẳng định vai trò của
Nguyễn Văn Vĩnh trong những tổ chức giáo dục này.
Nhận xét về vai trò, sức ảnh hưởng của các tổ chức giáo dục với cuộc cải cách giáo dục đầu
thế kỷ XX, chỉ ra những điểm mới và sáng tạo trong các tổ chức giáo dục này.
3.3. Sử dụng báo chí như một công cụ đắc lực cho tuyên truyền cổ động giáo dục Quốc
ngữ đồng thời phổ biến nội dung và phương pháp giáo dục mới
Chúng tôi trình bày lí do khiến Nguyễn Văn Vĩnh sử dụng báo chí làm công cụ trước tiên để
thực hiện cải cách giáo dục.
Nội dung giáo dục trên Đông Dương tạp chí- tờ báo do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút.
Chúng tôi thống kê được trên Đông Dương tạp chí ( 1913 – 1914 , 1916 – 1918) 834 bài viết về
giáo dục trên tất cả các mặt mục đích, đối tượng, phương pháp, nội dung, phương tiện giáo dục.
Trong đó những bài viết về đối tượng, nội dung và phương pháp giáo dục mới chiếm tới 96,2 %.
Nội dung giáo dục trên Đông Dương tạp chí rất phong phú, được thể hiện rõ trên các chuyên mục
giáo dục của báo như Sư phạm học khoa, Tân học văn tập, Nam học niên khoá, Gõ đầu trẻ…
Như vậy, Đông Dương tạp chí bên cạnh là tờ báo văn hoá xã hội nói chung còn là tờ báo
riêng của giáo dục. Hay nói cách khác, Đông Dương tạp chí là cơ quan ngôn luận của cuộc cải cách
giáo dục đầu thế kỷ XX. Nguyễn Văn Vĩnh là người có công đầu tiên trong việc tạo ra mối liên hệ
chặt chẽ giữa báo chí và giáo dục, góp phần hoàn thiện giáo dục, tăng cường sức mạnh cho cải cách
giáo dục.
4. Kết luận
Khẳng định công lao của Nguyễn Văn Vĩnh đối với giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX nói
riêng và với văn hoá Việt Nam nói chung là hết sức to lớn. Đóng góp của ông cho nền giáo dục là
10


rất toàn diện từ tấm gương tự học của chính mình, hệ thống quan điểm giáo dục đúng đắn đến
những biện pháp hữu hiệu thực hiện cải cách giáo dục. Nguyễn Văn Vĩnh có một tầm nhìn xa.
Nhiều tư tưởng của ông cho đến nay vẫn còn mới mẻ và hữu ích đặc biệt là cho cuộc cải cách giáo
dục đầu thế kỷ XXI.
NHỮNG ĐIỂM CHƯA HỢP LÝ TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM

người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương
hại đến danh dự và uy tín của tác giả”.
Thế nào là gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả? Ai là người đánh giá việc sửa
đổi đó có gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả hay không? Không ai có thể định nghĩa
được thế nào là gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả, không ai có thể đánh giá được
việc làm đó có gây ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của tác giả hay không ngoại trừ chính tác giả.
Tác giả sẽ luôn bảo vệ ý tưởng của mình, bảo vệ sản phẩm của mình, sự sáng tạo của mình mới là
đúng đắn, là hay. Chính vì vậy, thực tế sẽ không khi nào việc sửa đổi được tác giả chấp nhận và họ
luôn cho rằng việc sửa đổi là ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của họ. Cụm từ “gây phương hại đến
danh dự và uy tín của tác giả” là không cần thiết.
* Biện pháp: bỏ cụm từ “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” trong quy định
này. Quy định này được viết lại như sau: “Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người
khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào”.

11


- Thời hạn bảo hộ quyền tài sản (Đ27 Luật SHTT): Tác phẩm có thời hạn bảo hộ là suốt
cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường hợp tác phẩm có
đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau khi đồng tác giả cuối
cùng chết.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả phụ thuộc vào tác giả, cuộc đời tác giả
Trong khi quyền tài sản thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả, nhiều khi chủ sở hữu quyền tác
giả lại không phải là tác giả
Quyền thuộc về một người nhưng thời hạn bảo hộ quyền lại phụ thuộc vào một người khác
→ bất hợp lý
* Biện pháp: Quy định thời hạn bảo hộ quyền tài sản trong quyền tác giả đối với tác phẩm
theo số năm nhất định, ví dụ 100 năm kể từ ngày tác phẩm được công bố
- Điều 27 Khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ: “Quyền nhân thân quy định tại các khoản 1, 2 và 4
Điều 19 của Luật này được bảo hộ vô thời hạn”. Điều 45 Khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ: “Tác giả

phẩm đó”

Như vậy, một điều quy định thời hạn bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý là vô thời hạn, nhưng
điều quy định ngay sau đó lại đặt ra điều kiện để chỉ dẫn địa lý đó có được tiếp tục duy trì hiệu lực

12


hay không. Hai điều quy định ngay sát nhau trong cùng một Luật lại mâu thuẫn với nhau như vậy sẽ
làm giảm hiệu lực thi hành của Luật.
* Biện pháp: Quy định lại Điều 93 Khoản 7 Luật SHTT: “Giấy chứng nhận đăng ký chỉ
dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp trừ trường hợp quy định tại Điều 95 Khoản 1
điểm g Luật này”.
- Mâu thuẫn trong quy định về việc đăng ký chỉ dẫn địa lý
Điều 80 Khoản 3 Luật SHTT quy định về
việc chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ: “Chỉ
dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với nhãn
hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng
chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây
nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm”

Điều 125 Khoản 2 điểm g Luật SHTT: người
được trao quyền sử dụng hoặc quản lý chỉ dẫn
địa lý không được cấm người khác “sử dụng
nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn
địa lý được bảo hộ nếu nhãn hiệu đó đã đạt
được sự bảo hộ một cách trung thực trước
ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý”

Như vậy theo điều125 thì chỉ dẫn địa lý vẫn được bảo hộ khi trùng hoặc tương tự với nhãn



Kết luận
- Quyền tác giả và quyền liên quan là một đối tượng bảo hộ rất quan trọng và cũng là vấn đề
còn đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập nhất trong các văn bản pháp luật quy định về
SHTT.
- Các đối tượng sở hữu công nghiệp được qui định trong luật chặt chẽ hơn nhưng cũng còn
một vài điểm chưa hợp lý, nhiều chỗ còn mâu thuẫn nhau
- Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 chưa toàn diện, chưa đề cập đến đầy đủ các đối tượng
cần được bảo hộ.
CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI CÁC KHU NHÀ TRỌ SINH VIÊN
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Giáo viên hướng dẫn:

Trịnh Ngọc Hà, Vũ Thị Vân
K50 Xã hội học
TS. Nguyễn Thị Kim Hoa

Mỗi năm, tỉ lệ sinh viên tuyển mới vào các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội
tăng từ 6 đến 9%, trong đó, có từ 60 đến 80% là sinh viên ngoại tỉnh. Kí túc xá các trường chỉ đáp
ứng đủ 30% chỗ ở cho các sinh viên này khiến nhu cầu nhà trọ sinh viên tăng mạnh hàng năm.
Không nằm ngoài qui luật gia tăng của giá cả, giá thuê nhà trọ sinh viên cũng tăng khiến
sinh viên có điều kiện kinh tế không khá giả buộc phải tìm tới những nhà trọ có mức giá “vừa tầm”.
Tại những khu nhà trọ này, cơ sở vật chất còn hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ, học
tập và sinh hoạt của sinh viên.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi hướng tới tìm hiểu và phân tích Cơ sở vật
chất tại các khu nhà trọ sinh viên trên địa bàn quận Thanh Xuân – một trong số hai quận tập trung
nhiều trường đại học, cao đẳng và các khu nhà trọ sinh viên của thành phố Hà Nội.
Đề tài hướng tới tìm hiểu thực trạng cơ sở vật chất các khu nhà trọ sinh viên cũng như

tự phát. Hình thức thứ 2 này ít được đánh giá ở mức tốt và trung bình vì gây ô nhiễm môi trường và
ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ của sinh viên.
Vấn đề đáng lo ngại là hệ thống xử lý nước thải tại các khu nhà trọ. Có tới 47,2% không
thoả mãn với hoạt động của hệ thống này. 22,7% đánh giá chất lượng hệ thống xử lý nước thải rất
kém. Thực tế cho thấy, hệ thống này đã cũ và quá tải, không được chủ nhà sửa chữa. Trời mưa hay
nước thải sinh hoạt quá nhiều đều có thể là nguyên nhân gây ngập úng, kéo theo hàng loạt những
hiện tượng khác, ảnh hưởng không nhỏ tới sinh viên.
2. Tác động của cơ sở vật chất tại các khu nhà trọ tới sức khoẻ, học tập và sinh hoạt của sinh
viên
Mức độ ảnh hưởng của điều kiện này tới sức khoẻ, học tập và sinh hoạt của sinh viên được
đánh giá theo 4 mức độ: không ảnh hưởng, ảnh hưởng ít, ảnh hưởng bình thường và ảnh hưởng
nhiều. Mức độ ảnh hưởng này có sự khác nhau giữa giới tính, thời gian ở trọ, và thời gian học tại
trường đại học, cao đẳng.
Về sức khoẻ, có 20,9% cho biết sức khoẻ bị ảnh hưởng nhiều bởi cơ sở vật chất không đảm
bảo. Các bệnh tật về mắt như cận thị, loạn thị, đau đầu, dị ứng, đau mắt… do cơ sở vật chất cũ nát
thường xuyên xảy ra.
20,2% cho biết học tập bị ảnh hưởng nhiều bởi cơ sở vật chất, khiến sinh viên không thể tập
trung học tập để đạt kết quả cao hơn.
16,6% cho rằng cơ sở vật chất gây ảnh hưởng rất lớn tới sinh hoạt, khiến sinh hoạt trở nên
khó khăn và bị hạn chế nhiều.
Mức độ ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến sinh viên nam và sinh viên nữ cũng có sự khác
biệt nhất định. Sinh viên nữ thường chịu tác động của điều kiện sinh hoạt nhiều hơn nam. Ngoài ra,
các sinh viên ở trọ càng lâu năm thì càng chịu nhiều tác động của cơ sở vật chất đến sức khoẻ, học
tập và sinh hoạt.
3. Giải pháp tình thế của sinh viên
Trước thực trạng và những tác động trên của cơ sở vật chất tới sinh viên, giải pháp tình thế
là “di cư theo mùa” và chuyển nhà trọ khác. Trong đó, “di cư theo mùa” là tạm rời đi một địa điểm
khác để có thể tập trung học tập khi điều kiện thời tiết và điều kiện tại phòng trọ quá sức chịu đựng
và quay lại nhà trọ khi thời tiết khá hơn trong ngày. Cũng như “di cư theo mùa”, việc chuyển tới
một nhà trọ khác cũng chỉ là một giải pháp tình thế. Một trong số những lí do khiến sinh viên phải

nhân này chủ yếu là những nguyên nhân khiến sinh viên phải tìm những chỗ trọ có cơ sở vật chất
không đảm bảo. Các khu ký túc xá chỉ đáp ứng được rất ít nhu cầu của sinh viên, và một số khó
khăn còn tồn tại trong sinh hoạt của sinh viên ở các ký túc xá như không cho phép đun nấu trong ký
túc xá, có nhiều người cùng ở một phòng. Bên cạnh đó, các trường cũng chưa có những quan tâm,
hỗ trợ cụ thể đến các sinh viên sống ngoài ký túc xá.
Chính quyền địa phương chưa có những quy định cụ thể trong việc quản lý các khu nhà trọ
sinh viên trên địa bàn, tạo điều kiện cho các khu nhà trọ có cơ sở vật chất không đảm bảo tồn tại và
tiếp tục được đưa vào kinh doanh là nguyên nhân tiếp theo của thực trạng trên.
5. Xu hướng biến đổi của cơ sở vật chất tại các khu nhà trọ sinh viên
Nếu không có những giải pháp kịp thời nhằm nâng cao cơ sở vật chất tại các khu nhà trọ
sinh viên, điều kiện này sẽ ngày càng xuống cấp và ảnh hưởng nghiêm trọng tới những sinh viên
buộc phải sống tại đây. Điều kiện kinh tế - xã hội của khu vực đang “thay da đổi thịt” hàng ngày,
nhiều chủ nhà trọ sinh viên đã cho xây dựng lại khu nhà trọ để phục vụ mục đích và đối tượng cho
thuê khác khiến nhu cầu nhà trọ càng tăng cao đã gián tiếp ảnh hưởng tới xu thế biến đổi của cơ sở
vật chất tại các khu nhà trọ sinh viên. Bên cạnh đó, vấn đề nhà ở dành cho sinh viên đã được các cơ
quan chức năng quan tâm hơn. Hiện nay, đã có nhiều dự án xây dựng những khu nhà trọ sinh viên
có mức giá phù hợp và có điều kiện sinh hoạt đảm bảo.

16


ĐẶNG TIỂU BÌNH KHẮC PHỤC “TẢ KHUYNH” VỀ KINH TẾ
TRONG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở TRUNG QUỐC
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Giáo viên hướng dẫn:

Đặng Thị Hạnh
K50 Triết học
ThS. Nguyễn Văn Thiện

rằng sản xuất công nghiệp ở Trung Quốc lúc đó chưa đáp ứng được đầy đủ các cơ sở vật chất cần
thiết, mặt khác nhiệt tình hăng hái sản xuất của người dân mất hẳn.
Về chế độ phân phối: Đường lối “tả” thể hiện rất rõ: Muốn thực hiện ngay nguyên tắc của
CNCS như tổ chức nhà ăn tập thể, ăn cơm không phải trả tiền... Nhà nước tổ chức quản lý tập trung
thống nhất.

17


Ưu điểm của nguyên tắc này: nó cho phép Nhà nước Trung Quốc có thể tập trung tiền vốn,
phương tiện kỹ thuật, vật tư... cho phép phát triển kinh tế.
Hạn chế: người sản xuất không phát huy được tính chủ động, tích cực sáng tạo trong sản
xuất, tính tự nguyện của người dân bị mất hẳn.
Về vấn đề sở hữu: xoá bỏ sở hữu tập thể tiến tới sở hữu toàn dân đưa CNXH quá độ lên
CNCS là đốt cháy giai đoạn, thực hiện sở hữu toàn dân là không phù hợp với thực tiễn lúc đó.
* Hậu quả của sai lầm “tả khuynh” thật to lớn:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút, công nghiệp ở trong tìnht rạng đình trệ, giao thông vận
tải lạc hậu so với nông nghiệp nên ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thông.
Đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.
Thực tế này đã đòi hỏi ĐCS Trung Quốc phải tiến hành cải cách, mở cửa và trách nhiệm
nặng nề đó đặt lên vai các nhà lãnh đạo ĐCS Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình – nhà lãnh đạo kiệt xuất
của nhân dân Trung Hoa trước những sai lầm của đường lối “tả khuynh” do Chủ tịch Mao Trạch
Đông gây ra đã đề xuất những phương hướng chung của thời kỳ hiện đại hóa đất nước từng bước
đưa Trung Quốc thoát khỏi khủng hoảng và hình thành nên thế hệ lãnh đạo mới - thế hệ lãnh đạo
thứ hai do Đặng Tiểu Bình làm hạt nhân.
2. Đặng Tiểu Bình khắc phục “tả khuynh” tiến hành cải cách, mở cửa phát triển kinh tế xây
dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc
2.1. Xóa bỏ các “công xã nhân dân” trong sản xuất nông nghiệp, tiến hành giải phóng
sức sản xuất
Các công xã nhân dân được chuyển thành uỷ ban nhân dân xã, đại đội sản xuất được chuyển

2.4. Phát triển kinh tế thị trường XHCN, nhiều thành phần kinh tế phi công hữu cùng
tồn tại
Kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc là nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch dựa trên cơ sở
của chế độ công hữu. Kinh tế hàng hóa có kế hoạch XHCN là phải thống nhất nội tại giữa kế hoạch
và thị trường. Bên cạnh đó, các thành phần kinh tế phi công hữu như: kinh tế tư doanh, kinh tế cá
thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài... đóng vai trò bổ sung. Các thành phần kinh tế khác có thể tự
nguyện liên doanh bằng nhiều hình thức. Quá trình điều chỉnh cải cách thực hiện mục tiêu “bốn
hiện đại hóa”: nông nghiệp hóa, công nghiệp hóa, quốc phòng hóa, khoa học kỹ thuật hóa ở Trung
Quốc trong 20 năm đã đạt được kết quả to lớn:
- Tổng giá trị sản phẩm trong nước, tổng kim ngạch bán lẻ hàng hóa xã hội có sự thay đổi
trong so sánh giữa hai năm 1978 và 1997.
- Đời sống nhân dân được cải thiện.
2.5. Tổng kêt kinh nghiệm sau 20 năm đổi mới và bài học rút ra cho Việt Nam
Việt Nam từ thực tiễn cải cách kinh tế ở Trung Quốc đã tiếp thu được những bài học kinh
nghiệm quý báu:
- Phát triển kinh tế tư nhân hỗ trợ kinh tế nhà nước
- Đa dạng hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện chế độ công hữu đẩy mạnh cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước. Lấy phân phối theo lao động làm chủ. Tạo động lực phát triển có hiệu quả
kinh tế tập thể.
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Kết luận
Thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1978-1997) đã chứng minh đường lối cải cách của đồng chí
Đặng Tiểu Bình đúng, tư tưởng “tả” được khắc phục không những đem lại cuộc sống hạnh phúc cho
nhân dân, tạo bước phát triển đi lên cho đất nước mà còn là một đóng góp to lớn cho hòa bình và
phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Những thành tựu đã thu được, những kinh nghiệm đã có trong thế kỷ XX đã chuẩn bị hành
trang cho Trung Quốc vững bước vào thế kỷ XXI đầy cơ hội nhưng cũng lắm thách thức.
Cùng với Trung Quốc, công cuộc đổi mới ở nước ta được tính từ Đại hội VI (1986) đến nay
đã được hơn 20 năm. Thực tế cho thấy bộ mặt đất nước đã được thay đổi, đời sống nhân dân đã
được cải thiện. Bước vào thế kỷ XXI thế giới có nhiều biến đổi, nước ta đang đứng trước nhiều

B. NỘI DUNG
I - Thực trạng thích ứng của sinh viên K52 Trường ĐHKHXH&NV với đào tạo tín chỉ
1. Ở mặt nhận thức
1.1. Nhận thức của sinh viên K52 về đặc điểm, mục đích của ĐTTC:
- Sau một học kỳ, đa phần sinh viên K52 đã nhận thức khá đầy đủ về đặc điểm cũng như
mục đích của chương trình ĐTTC. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ chưa có cái nhìn toàn
diện, mới dừng ở mức độ nhận thức ban đầu về mục đích, đặc điểm của ĐTTC.
1.2. Nhận thức của sinh viên K52 về nội dung chương trình học trong đào tạo tín chỉ:
Sinh viên đã nhận thức được những yêu cầu đòi hỏi cao của chương trình ĐTTC và việc đáp
ứng được những yêu cầu đó không hề dễ dàng.
1.3. Nhận thức của sinh viên K52 về vai trò của việc hình thành các kỹ năng học tập trong
ĐTTC:
- Phần lớn sinh viên thừa nhận họ thiếu các kỹ năng, phương pháp học phù hợp. Điều này
cản trở rất lớn tới quá trình học tập, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của mỗi cá nhân.
- Các kỹ năng được đánh giá quan trọng: kỹ năng đọc sách, kỹ năng tự học, kỹ năng lập kế
hoạch và sử dụng thời gian hợp lý.
1.4. Nhận thức của sinh viên K52 về các quy định đối với thời gian học, kiểm tra đánh giá
của nhà trường:
- Mỗi sinh viên có một thời khoá biểu riêng do phòng Đào tạo trực tiếp sắp xếp. Tuy nhiên
76,1% sinh viên cho rằng thời khoá biểu do nhà trường sắp xếp là chưa hợp lý.
Sinh viên chưa nhận thức đúng đắn về thời gian học theo ĐTTC, vẫn mang lối nhận thức cũ
để nhìn nhận, đánh giá việc bố trí thời gian học theo mô hình đào tạo mới.

21


- Sinh viên có nhận thức tốt các hình thức kiểm tra, đánh giá cũng như là những mặt tích cực
của hình thức này. Điều này giúp sinh viên có sự chuẩn bị tốt hơn cho việc kiểm tra và sẽ có cơ hội
đạt kết quả cao.
2. Ở mặt thái độ, tình cảm

Việc tổ chức các buổi thảo luận của thầy cô, theo đánh giá, nhiều khi chưa có hiệu quả. Việc sử
dụng trang thiết bị hỗ trợ chưa được phát huy.
3.1.4. Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy, học tập:
22


- Hiện nay cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh
viên: chưa đồng bộ, chưa đầy đủ...
3.2. Thích ứng với hoạt động tự học:
3.2.1. Thích ứng với việc xây dựng kế hoạch và phân bố thời gian hợp lý:
Sinh viên đã chủ động với hoạt động tự học của mình, đã lập kế hoạch cụ thể nhưng lại
không thực hiện được theo kế hoạch đó.
3.2.2. Thích ứng với việc đọc sách:
Do nhiều nguyên nhân, một số sinh viên chưa có được phương pháp đọc sách hiệu quả cũng
như chưa có khả năng tổng hợp tài liệu. Nhiều người đã cố gắng để nâng cao hiệu quả của việc đọc
sách bằng nhiều biện pháp.
3.2.3. Thích ứng với việc tìm và tổng hợp tài liệu:
Sinh viên coi trọng việc tìm kiếm tài liệu và đã tìm từ nhiều nguồn khác nhau. Nhưng họ
đánh giá nguồn tài liệu đó chỉ đáp ứng được phần nào yêu cầu của môn học.
3.3. Thích ứng với hoạt động làm việc nhóm và thảo luận nhóm:
3.3.1. Mức độ họp nhóm:
Hoạt động học tập theo nhóm của sinh viên K52 vẫn chưa thực sự được phát huy một cách
chủ động, cho thấy họ chưa thích ứng được với hình thức học này.
3.3.2. Nội dung khi họp nhóm:
Phần lớn các bạn sinh viên K52 đã có thái độ nghiêm túc khi làm việc nhóm. Nhưng bên
cạnh đó vẫn còn một số sinh viên chưa tập trung khi làm việc trong nhóm mà họ lại ngồi nói
chuyện, tán gẫu với nhau.
3.3.3. Mức độ phát biểu của sinh viên K52 trong những buổi thảo luận trên lớp:
Nhìn chung tinh thần học tập của sinh viên K52 trong các buổi thảo luận trên lớp còn rất
trầm lặng, thụ động. Các bạn chưa sôi nổi hào hứng trao đổi với nhau về kết quả làm việc nhóm của

trường.
3. Ở mặt hành vi
- SVK52 phần lớn chưa thực sự thích ứng với hoạt động học tập trên lớp
- Một số lượng lớn SVK52 đang dần thích nghi với hoạt động tự học.
- Với hoạt động học tập theo nhóm: Hầu hết SVK52 đã thành lập các nhóm học tập cho
mình nhưng chưa làm việc thường xuyên
Sau một học kỳ, với sự thích ứng bước đầu kết quả học tập của SVK52 Trường
ĐHKHXH&NV đạt được ở mức độ nhất định.
Như vậy, sự thích ứng diễn ra không đồng đều giữa sinh viên của các khoa.
Kết luận - Kiến nghị
- Giả thuyết khoa học đưa ra ban đầu là đúng đắn. Phần lớn sinh viên K52 Trường
ĐHKHXH&NV qua một học kỳ được đào tạo theo tín chỉ đã nhận thức được ưu điểm, ý nghĩa tích
cực của mô hình ĐTTC nhưng chưa thực sự thích ứng và kết quả học tập chưa thật cao; sự thích
ứng diễn ra chậm và không đồng đều.
- Sinh viên có nhận thức đúng đắn, tương đối đầy đủ về ĐTTC.
- Hầu hết SV có thái độ tích cực, phù hợp với quy định, chương trình của ĐTTC
- SV chưa có những hành vi tích cực đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của ĐTTC. Kết quả học
tập đạt được chưa cao.
- Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến thực trạng thích ứng là yếu tố chủ quan cụ thể là
tính tích cực năng động của chủ thể.

24


TÌM ĐƯỜNG VÀO THẾ GIỚI THƠ HÀN MẶC TỬ BẰNG PHƯƠNG PHÁP
TÂM PHÂN HỌC MỞ
Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Giáo viên hướng dẫn:


riêng góp phần khơi sâu vào hiện tượng thơ Hàn Mặc Tử, đánh giá khẳng định vị thế của nhà thơ
trong tiến trình thơ ca dân tộc.
B. NỘI DUNG
Chuơng I. Về phương pháp tâm phân học mở

25


Trích đoạn xuất hướng nghiờn cứu văn học: tõm phõn học mở Đối với người khai thỏc sử dụng TLLT Quan hệ thương mại với Đụng Bắ cÁ Quan hệ thương mại với Đụng Na mÁ Một số quan niệm về nghĩa của từ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status