Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Khảo sát lỗi sai về phụ âm đầu: tr/ch, s/x, r/d/gi của học sinh Trung học cơ
sở xã Lãng Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thời đại ngày nay đất nước ta đang đứng trước những vận hội và thách
thức lớn, sự nghiệp xây dựng một đất nước ngày càng giàu và đẹp đòi hỏi phải
có tri thức. Đặc biệt, bước vào thế kỉ XXI, khi mà công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước được chú trọng đẩy mạnh, ngành giáo dục-ngành có vai trò hang đầu
trong việc cải thiện dân trí…càng phải được nâng cao hơn nữa. Thực hiện chính
sách giáo dục của Đảng và nhà nước ta, chương trình phổ cập giáo dục đã được
thực hiện . Ngay từ khi Cách mạng tháng 8 thành công, Bộ Quốc gia giáo dục
(nay là bộ GD-ĐT) đã có chỉ thị :”Từ nay các khóa học đều dạy bằng Tiếng
Việt”. Và cho đến hôm nay, từ lúc 3-4 tuổi các em đều được làm quen dần với
các chữ cái và con số. Việc học chữ của các em bắt đầu từ lớp vỡ lòng và ban
đầu chỉ dừng lại ở việc nhớ và viết một số chữ cái . Khi lên lớp 1, 2, 3…tức là ở
bậc tiểu học, trung học cơ sở …yêu cầu việc học tiếng viêt của các em cao hơn .
Bậc tiểu học ban đầu cung cấp kiến thức ban đầu cho học sinh với mục
tiêu là rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt. Lớp 4, 5 các em có thể viết nhanh
và nhớ, làm quen được với lượng chữ khá lớn biểu hiện bằng những bài văn mà
các em tự làm. Sang lớp 6, 7, bắt đầu chương trình học của bậc trung học cơ sở
làm quen dần với cách học mỗi môn một thầy cô giáo giảng dậy, các em có thể
biết được tất cả các chữ cái và các quy tắc viết chữ thông qua giờ Văn-Tiếng
Việt trong nhà trường. Vì tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và dung để học tập
các môn học khác nữa cho nên, để đảm bảo việc dạy và học không thể không
quan tâm đến các lỗi trong khi nói và viết của học sinh, từ đó đưa ra cách khắc
phục lỗi chính tả đó để giúp các em nói và dung tiếng Việt tốt hơn. Tình trạng
học sinh THCS viết sai chính tả hiện nay là khá phổ biến, lí do có thể do các em
còn bỡ ngỡ, mới bước vào cách học mới đó là thầy cô giáo giảng học sinh dưới
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ghi bài và cũng có thể là do tính trẻ con không tập trung học tập.
chủ yếu hai phương pháp nghiên cứu đó là: Phương pháp thống kê và phương
pháp so sánh.
Phương pháp thống kê: Dựa vào bài chép chính tả và phiếu bài tập của
các em để thống kê tất cả các lỗi sai về phụ âm đầu tr/ch, s/x, r/d/gi. Từ kết quả
thống kê đó chúng tôi phân tích và đưa ra nhận xét.
Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp này so sánh lỗi sai
giữa bài chép chính tả và bài làm trong phiếu bài tập sau đó là so sánh tỉ lệ mắc
lỗi giữa hai khối 6 và 7 của trường, giữa học sinh hai trường tiểu học và THCS
Lãng Sơn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương I
CƠ SỞ LÍ LUẬN
I. Chữ viết Tiếng Việt và đặc điểm chữ viết tiếng Việt
Chữ viết là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là
sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các ký hiệu hay các biểu tượng. Nó
phân biệt với sự minh họa như các phác họa trong hang động hay các tranh vẽ,
đây là các dạng ghi lại ngôn ngữ theo các phương tiện truyền đạt phi văn bản, ví
dụ như các băng từ tính trong các đĩa âm thanh. Chữ viết có quan hệ mật thiết
với ngôn ngữ nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ. Người ta có thể không biết
chữ nhưng vẫn có ngôn ngữ để giao tiếp. Nhiều dân tộc có ngôn ngữ riêng
nhưng vẫn chưa có chữ viết.
Đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người, chữ viết có một vai trò rất
to lớn. Chữ viết là phương tiện ghi lại thông tin, không có chữ viết thì không thể
có sách, các phát minh, các thành tựu không thể truyền lại.
Âm thanh hay lời nói là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ vẫn có những hạn
chế nhất định, có giới hạn, không thể truyền đạt rộng rãi và chính xác, lưu giữ
lâu dài như chữ viết. Âm thanh bị hạn chế về khoảng cách và thời gian theo kiểu
"tam sao thất bản". Chữ viết khắc phục được những điểm trên là phương tiện
hoàn hảo để truyền đạt thông tin, lưu giữ thông tin, kích thích sự sáng tạo, là
thành quả kỳ diệu, vĩ đại của loài người.
nhiều nhà nghiên cứu.Chính tả” hiểu theo nghĩa thông thường là “ Phép viết
đúng” . Chính tả là sự chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Đó là một hệ
thống các quy tắc về các âm vị, âm tiết, từ, cách dung dấu câu, cách viết hoa
Như vậy có thể nói rằng: Chính tả bao gồm nhiều vấn đề cụ thể, từ cách
viết các âm vị, âm tiết đến cách viết các đơn vị từ, cách dùng lối viết hoa các
dấu câu…
Chính tả là cách viết chữ được coi là chuẩn, nó có tính chất bắt buộc đối
với toàn thể cộng đồng ngôn ngữ. Sự thống nhất chính tả biểu hiện tính thống
nhất của một ngôn ngữ. Chuẩn chính tả, cũng như mọi chuẩn ngôn ngữ khác,
không phải là cái gì nhất thành, bất biến. Có những chuẩn cũ đã trở thành lỗi
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thời, nhường chỗ cho những chuẩn mới ra đời hoặc thay thế nếu nó đáp ứng nhu
cầu của đời sống, phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ và được xã hội chấp
nhận. Chính tả tiếng Việt cũng không nằm ngoài cái quy luật đó.
Do phát âm của tiếng Việt không thống nhất trong cả nước, phát âm của
các miền, các địa phương có những mâu thuẫn khác nhau với chính tả, tạo ra
những vấn đề chính tả khác nhau như vấn đề hỏi/ngã đối với miền Nam và phần
lớn miền Trung, vấn đề ch-/tr-, s-/x- đối với miền Bắc, v.v.
2. Chuẩn chính tả
Như chúng ta đã biết,chính tả đã được bàn bạc khá nhiều, song cho đến
nay tình trạng không thống nhất về chính tả vẫn còn tồn tại trong nhà trường,
trên báo chí và toàn xã hội. Vấn đề đặt ra là muốn thống nhất chính tả thì phải có
chuẩn chính tả và phải được quy định rõ ràng.
Đặc điểm chính của chuẩn chính tả:
- Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt
đối của nó. Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính
tả. Chữ viết có thể chưa hợp lí nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả
thì người cầm bút không được tự ý viết khác đi. Ai cũng biết rằng viết "ghế",
"ghen" không hợp lí và tiết kiệm bằng "gế", "gen" nhưng chỉ có cách viết thứ
nhất mới được coi là đúng chính tả. Vì vậy nói đến chuẩn chính tả là nói đến
Tây giáp thành phố Bắc Giang. Chảy xuyên qua huyện Yên Dũng là con sông
Thương uốn lượn cung cấp phù sa cho các xã Tân Tiến, Xuân Phú, Tân Liễu.
Tỉnh Bắc Giang nối tiếng với ba con sông lớn chạy xuyên qua tỉnh là sông Lục
Nam, sông Thương, và sông Cầu. Cả ba con sông này đều chảy qua huyện Yên
Dũng và hội tụ tại Kiếp Bạc, Hải Dương.
Huyện Yên Dũng nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bắc Giang. Tổng diện
tích tự nhiên của huyện là 21.337,68 ha. Toàn huyện có 23 xã và 02 thị trấn. Dân
số đến năm 2006 là 165.631 người. Ngoài tiềm năng phát triển nông nghiệp,
thủy sản, với vị trí nằm liền kề với khu tam giác kinh tế phía Bắc và gần các
trung tâm đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long (Quảng Ninh), Thái
Nguyên, thành phố Bắc Giang, Bắc Ninh; trên tuyến hành lang kinh tế Nam
Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng, huyện Yên Dũng được xác định là một
trong 04 huyện, thành phố trọng điểm của tỉnh Bắc Giang trong qui hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020. Trên địa bàn huyện có 01 khu công
nghiệp của tỉnh là KCN Song Khê – Nội Hoàng và một số cụm công nghiệp.
Trên địa bàn huyện còn có di tích văn hóa nổi tiếng là chùa Vĩnh Nghiêm (chùa
Đức La) được xây dựng từ cuối thế kỷ XIII.
b, Về giáo dục.
Tỉ lệ học sinh đỗ đại học cao đẳng:
Năm 2007: 51 em học đại học cao đẳng chính quy.
Năm 2000 trường tiểu học được công nhận chuẩn mức một.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Năm 2007 trường tiểu học được công nhận chuẩn mức hai.
Các cấp ủy chính quyền luôn quan tâm sâu sắc đến giáo dục.
c, Về văn hóa- xã hội.
Năm 2007 Yên Dũng đã làm tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng
khu dân cư văn hóa và được Bộ Văn Hóa- Thông Tin du lịch tặng cờ thi đua.
Hiện nay Yên Dũng đã và đang đẩy mạnh thi đua xây dựng làng văn hóa
xanh, sạch, đẹp.
Ở Yên Dũng đã có trên 50 làng đã có số ngõ, số nhà. Nổi bật là làng
b, Cơ sở hạ tầng: không ngừng được mở rộng, củng cố, đổi mới.
- 9 thôn đã được xây dựng làng văn hóa.
8 trong 9 thôn đã xây dựng đường bê tông.
6 km đường chính được nhựa hóa, bê tông hóa.
- Toàn dân sử dụng điện, nước hợp vệ sinh.
- Trường, lớp học, trạm y tế kiên cố.
- Các thiết chế văn hóa, phục vụ đời sống văn hóa- tinh thần của nhân dân
được xây dựng mới.
Tỉ lệ hộ nghèo hàng năm giảm từ 5 đến 10%, tỉ lệ hộ khá giả tăng nhanh.
An ninh trật tự trong xã ổn định. Đời sống kinh tế- văn hóa, tinh thần của
nhân dân được nâng cao đáng kể: 8/9 làng là làng văn hóa cấp huyện, 2/9 làng là
làng văn hóa cấp tỉnh.
3. Trường THCS Lãng Sơn
a, Thành tựu và phát triển: Trường có 17 lớp với 680 học sinh, hàng năm
trường tuyển vào lớp đạt tỷ lệ từ 99 đến 100% đáp ứng đủ nhu cầu học tập của
con em địa phương. Đến t háng 12 năm 2002 trường đã đạt các tiêu chuẩn về
phổ cập THCS.
* Về cơ sở vật chất:
Trường có 14 phòng học trong đó có 8 phòng cao tầng và 6 phòng cấp 4.
• Các công trình khác gồm 1 văn phòng, 1 thư viện và 1 phòng đồ
dùng.
• Diện tích trường là 4000m
2
.