Thu hút và sử dụng vốn ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam đến 2010. - Pdf 34

Lời mở đầu
Việt Nam là một nước có gần 70% dân số sống ở nông thôn và sinh
sống bằng nông nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nước ta chủ yếu
vẫn là sản xuất truyền thống, ít sử dụng máy móc và công nghệ mới. Hiện nay
nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước nhưng nông
nghiệp vẫn là ngành có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như
giải quyết việc làm cho lượng lớn người lao động ở nông thôn. Do đó, đầu tư
vào nông nghiệp và phát triển nông thôn là rất cần thiết, việc đầu tư này
không chỉ tác động tới ngành nông nghiệp mà còn có tác động lan toả tới các
ngành nghề khác trong xã hội. Trong thời gian qua các nguồn vốn dành cho
nông nghiệp và phát triển nông thôn đã mang lại những lợi ích to lớn, trong
đó phải kể đến nguồn vốn ODA. Các chương trình, dự án ODA đã đem lại
hiệu quả to lớn về mặt kinh tế - xã hội cho nhiều vùng đặc biệt đối với vùng
sâu, vùng xa (như dự án cung cấp nước sạch, xoá đói giảm nghèo, cung cấp
năng lượng,…). Tuy nhiên quản lý và sử dụng ODA trong thời gian qua còn
nhiều bất cập cần phải giải quyết. Việc quản lý và sử dụng ODA hiệu quả
1
nguồn vốn này là rất cần thiết để chúng ta tiếp tục nhận được sự ủng hộ của
các nhà tài trợ để phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng như phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước.
Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “ Thu hút và sử dụng vốn ODA cho
nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam đến 2010”. Em xin chân
thành cảm ơn T.S Từ Quang Phương và chị Nguyễn Thanh An- Chuyên
viên Vụ kinh tế đối ngoại - Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã tạo điều kiện và giúp đỡ
em hoàn thành đề tài này. Do khả năng còn hạn chế nên chuyên đề không
tránh khỏi thiếu, kính mong các thầy cô góp ý và bổ sung.
Những nội dung cụ thể liên quan đến vấn đề thu hút và sử dụng nguồn
vốn ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ được trình bày và phân
tích qua hai phần sau:
Chương 1: Thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong nông nghiệp và
phát triển nông thôn ở Việt Nam

Đơn vị: Triệu USD
Năm ODA
cam kết
Tốc độ tăng liên
hoàn của cam kết
ODA
giải ngân
Tốc độ tăng liên
hoàn của giải ngân
5
(%) (%)
1993 1860.8 - 413 -
1994 1958.7 5.26 725 75.54
1995 2311.4 18 737 1.66
1996 2430.9 5.17 900 22.12
1997 2377 -2.217 1000 11.11
1998 2186 -8.035 1242 24.2
1999 2839 29.872 1350 8.7
2000 2400 -15.463 1650 22.22
2001 2356 -1.833 1500 -9.09
2002 2461 4.457 1528 1.87
2003 2839 15.36 1442 -5.63
2004 3441 21.205 1650 14.42
2005 3803 10.52 1720 4.242
Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư
Qua bảng số liệu trên, ta thấy vốn ODA tăng qua các năm nhưng không
đều, trung bình mỗi năm lượng vốn ODA các nhà tài trợ cam kết dành cho
Việt Nam đạt gần 2.4 tỷ USD, đây là mức cam kết khá cao so với các nước
đang phát triển khác. Trong 2 năm đầu, khi vừa nối lại quan hệ với cộng đồng
tài trợ quốc tế, lượng ODA cam kết mới chỉ đạt 1860.8 triệu USD (năm 1993)

thấp so với mức cam kết. Khoảng cách giữa hai mức này cho thấy năng lực
xây dựng và quản lý các chương trình, dự án còn nhiều bất cập. Trong giai
đoạn 1993-1999 là giai đoạn mở đầu của thời kì đổi mới, do hạn chế về khả
năng xây dựng và quản lý các chương trình, dự án mà mức giải ngân ODA
còn thấp, trung bình 33%. Trong thời gian gần đây, mức giải ngân đã cao
hơn, trung bình 68%. Nguyên nhân của tình trạng này là do:
- Đặc điểm của việc sử dụng nguồn vốn ODA, ODA là nguồn vốn
đầu tư phát triển, tức là cần có thời gian cần thiết từ khi cam kết cho tới khi
8
xây dựng, phê duyệt, thực hiện dự án. Khi dự án được thực hiện mới có thể
xem xét việc chi tiêu trên thực tế và tiến hành giải ngân.
- Các mô hình cung cấp ODA, các quy trình thủ tục ODA của các
nhà tài trợ không giống nhau. Do đó, Chính Phủ cũng như các nhà tài trợ
cần có thời gian để hài hoà các quy trình thủ tục, yêu cầu của cả hai phía.
- Quản lý nguồn vốn ODA ngay từ khi tiếp nhận đến khi thực hiện
còn nhiều bất cập không chỉ ở địa phương mà ngay từ Trung ương. Tình
trạng tham nhũng nguồn vốn này còn xảy ra ở nhiều nơi một phần do việc
không chấp hành các văn bản pháp lý về nguồn vốn ODA, một phần do có
những suy nghĩ cho rằng đây là nguồn vốn của Nhà nước.
1.1.2. Thực trạng sử dụng ODA tại Việt Nam
1.1.2.1. Cơ cấu sử dụng ODA theo ngành, lĩnh vực
Trong giai đoạn 1993-2005, nguồn vốn ODA được sử dụng tập trung
vào khôi phục và phát triển cơ sở hạ tầng xã hội.
Bảng 1.2: Cơ cấu ODA theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 1993-2005
Đơn vị: Triệu USD
9
Ngành, lĩnh vực
Hiệp định ODA
kí kết 2001-2005
Giải ngân ODA

1171
351
2263
34
11
3
20
2332
554
361
1417
30
7
5
18
Tổng 11206 100 7907 100
Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư
10
Trong cơ sở hạ tầng, ngành Giao thông vận tải – Bưu chính viễn thông
được ưu tiên cao nhất với số vốn ODA 2753 triệu USD, trong đó chủ yếu là
vốn vày ưu đãi, vốn ODA không hoàn lại chỉ chiếm gần 5%. Nhờ nguồn vốn
ODA, nhiều công trình giao thông đã được cải tạo và xây dựng mới góp phần
quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo như hệ thống
đường bộ 1A, 3, 18, 9, đường xuyên Á, cảng nước sâu Cái Lân, cải tạo và
nâng cấp cảng Hải Phòng, cảng Tiên Sa (Đà Nẵng), cảng Sài Gòn, nhà ga
quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất, các cầu Mỹ Thuận, Cần Thơ, Thanh Trì,…
Trong lĩnh vực bưu chính viễn thông nguồn vốn ODA tập trung vào các dự án
tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật như dự án cung cấp cáp quang ven biển, dự
án đưa điện thoại tới các nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Trong khi đó, lĩnh vực cấp thoát nước và phát triển đô thị số vốn ODA

học tập về các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ và quản lý. Trong lĩnh
vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, 62% trong tổng vốn
ODA dành cho y tế. Nguồn vốn ODA được sử dụng để tăng cường cơ sở vật
chất, kĩ thuật cho công tác khám chữa bệnh (xây dựng và tăng cường trang
thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố, các bệnh viện
huyện và trạm y tế xã), xây dựng cơ sở sản xuất thuốc kháng sinh, trung tâm
truyền máu quốc gia, tăng cường công tác dân số và sức khoẻ sinh sản, phòng
chống HIV- AIDS và các bệnh truyền nhiễm như lao, sốt rét,..; đào tạo cán bộ
y tế; hỗ trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực cán bộ quản lý.
13
Bên cạnh đó, ODA đã góp phần đáng kể để tiếp nhận khoa học công
nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến và tăng cường nguồn lực con
người, phát triển thể chế. Ngoài các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA trực
tiếp tạo cơ sở vật chất, kĩ thuật cho công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ
(các phòng thí nghiệm ở các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học,
xây dựng trạm viễn thám,…), thông qua các dự án ODA các công nghệ mới,
kĩ năng và kinh nghiệm quản lý đã được chuyển giao (công nghệ làm đường,
làm cầu, bảo vệ môi trường,...).
1.1.2.2. Cơ cấu sử dụng ODA theo vùng
Phân theo nhóm vùng thì Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung chiếm tỷ trọng lớn nhất là 31.22% vốn ODA;
đứng thứ hai là Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm
30.86%. Trong khi đó vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 7.45%, thấp
nhất là Tây Nguyên chỉ chiếm 3.7%.
Bảng 1.3: Cơ cấu vốn ODA kí theo vùng do địa phương trực tiếp
thụ hưởng thời kỳ 2001-2005
Đơn vị: triệu USD
14
Vùng ODA đã ký Tỷ trọng
Trung du miền núi Bắc Bộ 358.57 13.97%

triển nông thôn. Số vốn ODA cho vùng này là lớn nhất 800.96 triệu USD
chiếm 31.22%. ODA tập trung thực hiện các chương trình, dự án trong các
lĩnh vực như quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên rừng; các
hệ thống thủy lợi; giảm thiểu thảm hoạ thiên tai; giao thông nông thôn; hỗ trợ
ngư dân ven biển và đồng bào thiểu số; phát triển cơ sở hạ tầng để thúc đẩy
thương mại với các vùng khác trong nước và quốc tế; phát triển hệ thống y tế;
tăng cường năng lực quản lý hành chính các cấp.
Vùng Tây Nguyên: đây là vùng có mật độ dân thưa, kinh tế còn nhiều
khó khăn, tuy nhiên vốn ODA cho vùng này chỉ có 95.04 triệu USD chiếm
16
3.7%. ODA chủ yếu tập trung cho các lĩnh vực như trồng rừng và bảo vệ các
vườn quốc gia; xây dựng các công trình thủy lợi; phòng chống thiên tai, dịch
bệnh; nâng cấp các quốc lộ nối các tỉnh duyên hải miền Trung, cải thiện khả
năng tiếp cận các cơ sở hạ tầng nông thôn.
Vùng đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: đứng thứ
hai về ODA với 791.87 triệu USD chiếm 30.86%. Sở dĩ nguồn vốn ODA cho
vùng này lớn là do các dự án chủ yếu thực hiện trong các lĩnh vực như hỗ trợ
về khoa học, công nghệ để phát triển nông nghiệp; đặc biệt là xây dựng hệ
thống giao thông bao gồm các đường vành đai quanh thành phố Hồ Chí Minh,
hiện đại hoá hệ thống đường sắt và đường thủy, xây dựng cảng hàng không
quốc tế mới và hệ thống giao thông công cộng ở thành phố Hồ Chí Minh. Bên
cạnh đó ODA còn ưu tiên cho hoàn thiện và xây dựng hệ thống cấp và thoát
nước nhằm cải thiện môi trường đô thị; tăng cường trang thiết bị y tế cho các
bệnh viện tỉnh.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long: ODA sử dụng cho các lĩnh vực như
quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên; các hệ thống thủy lợi; giao thông
nông thôn; phát triển giao thông đường thủy; khôi phục tuyến đường sắt thành
17
phố Hồ Chí Minh đi Mỹ Tho; phát triển cơ sở hạ tầng thành phố Cần Thơ;
phát triển cơ sở hạ tầng môi trường; đầu tư vào phát triển nông thôn tổng hợp;

vốn giải ngân (7029.87 triệu USD). Trong số các dự án của Nhật Bản 47% là
cho cơ sở hạ tầng với 6688.11 triệu USD hay 78.96% tổng ODA của Nhật
Bản cho Việt Nam.
WB là nhà tài trợ lớn thứ hai với các dự án sử dụng vốn ODA tập trung
chủ yếu cho hỗ trợ chính sách (chiếm 58% tổng số vốn giải ngân và 60% tổng
19
vốn vay). Tiếp theo là phát triển cơ sở hạ tầng với 30% tổng vốn giải ngân,
24% tổng vốn vay.
ADB là nhà tài trợ lớn thứ ba, chiếm 14.49% tổng vốn ODA. Các dự án
của ADB tập trung nhiều nhất vào đầu tư cho cơ sở hạ tầng 1276.42 triệu
USD với 44% tổng vốn giải ngân và 22% tổng số dự án; tiếp theo là phát triển
nông thôn với 26% tổng vốn giải ngân, 20% tổng dự án; thứ ba là hỗ trợ chính
sách với 24% tổng vốn giải ngân.
1.2. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA cho nông nghiệp và
phát triển nông thôn ở Việt Nam
1.2.1. Thu hút ODA cho NN&PTNT ở Việt Nam
Việt Nam với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và một lượng lớn lao
động tham gia sản xuất nông nghiệp, do đó nông nghiệp rất cần những nguồn
vốn để phát triển. Tuy nhiên nguồn vốn ODA dành cho nông nghiệp và phát
triển nông thôn lại thấp so với các ngành khác của cả nước.
Bảng 1.5: ODA cam kết chung theo lĩnh vực giai đoạn 1993-2005
Đơn vị: triệu USD
Ngành, lĩnh vực ODA cam kết % ODA
20
1. Nông nghiệp và phát triển nông thôn
kết hợp xoá đói giảm nghèo
2575 16.2
2. Năng lượng và công nghiệp 2559.1 16.1
3. Giao thông vận tải, bưu chính viễn
thông, cấp, thoát nước và phát triển đô thị

triệu USD và năm 2000 cũng chỉ có 22.5 triệu USD. Số vốn ODA vay của các
năm đều lớn hơn rất nhiều so với số vốn cam kết, có khi gấp gần 3 lần (năm
1995, 2001), 4 lần (năm 2004). Nguồn vốn vay chủ yếu dành cho lĩnh vực hạ
tầng nông thôn với những dự án giao thông nông thôn (xây dựng cầu, cải tạo,
22
nâng cấp, xây mới đường tuyến huyện xã), các dự án trong lĩnh vực thuỷ lợi
và các dự án cho lĩnh vực năng lượng điện.
Đối với nguồn ODA không hoàn lại: Số vốn ODA không hoàn lại
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng ODA cam kết 34.3%, thậm chí năm 1994
không có vốn không hoàn lại dành cho ngành nông nghiệp và phát triển nông
thôn. Số vốn không hoàn lại qua các năm không đều, thời gian đầu 1993-1996
tăng, thậm chí năm 1996 số vốn không hoàn lại còn lớn hơn số vốn vay (gấp
gần 5 lần), nhưng sau đó lại giảm xuống và đến 2000 đạt số lượng lớn nhất
180 triệu USD (gấp 8 lần vốn vay). Giai đoạn 2001-2005, số vốn không hoàn
lại tuy giảm so với năm 2000 nhưng đã ở mức tương đối cao so với giai đoạn
trước, năm 2005 số vốn không hoàn lại tiếp tục ở mức cao 120.2 triệu USD.
Nguồn vốn ODA không hoàn lại chủ yếu dành cho lĩnh vực y tế và giáo dục
với các dự án chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em,
các dự án giáo dục dành cho học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng có đông dân
tộc thiểu số và giáo dục hướng nghiệp.
Bảng 1.6: Tình hình cam kết ODA cho NN&PTNT giai đoạn
1993-2005
23
Đơn vị: triệu USD
Năm ODA không hoàn lại ODA vay Tổng ODA
1993 20.6 76.9 97.5
1994 0 100 100
1995 50 148.8 198.8
1996 81.2 16.8 98
1997 60 55 115

1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
khl
Vay
năm 2004 là năm thu hút nguồn vốn ODA lớn nhất 405 triệu USD, tiếp theo
là năm 2005 với số vốn 350 triệu USD. Giai đoạn 1998-2001, nguồn vốn
ODA tuy có tăng hơn so với giai đoạn 1993-1997 nhưng xu hướng tăng ít hơn
qua từng năm, đến năm 2002, 2003 vốn ODA lại giảm. Các nhà tài trợ chính
trong lĩnh vực này là ADB, WB, Nhật Bản, Thuỵ Điển,…
Biểu đồ 1.2: Tình hình cam kết ODA NN&PTNT giai đoạn 1993-
2005 (triệu USD)

(khl: không hoàn lại)
Nguồn: ISG- Vụ Hợp tác Quốc tế- Bộ NN & PTNT
Cho đến năm 2002, có 514 dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
Thời gian bắt đầu thực hiện từ năm 1993 và sẽ kết thúc vào năm 2010 với
25

Trích đoạn Đánh giá kết quả thu hút và sử dụng ODA trong NN&PTNT 1 Kết quả đạt được trong NN&PTNT Tốc độ giải ngân chậm Chính sách, thể chế và tổ chức bộ máy quản lý Khó khăn trong công tác di dân, giải phóng mặt bằng Hạn chế trong công tác đấu thầu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status