Chia tài sản chung của vợ chồng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TỐNG THỊ LÝ

Chia tµi s¶n chung CñA vî chång
®Ó tiÕn hµnh ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TỐNG THỊ LÝ

Chia tµi s¶n chung CñA vî chång
®Ó tiÕn hµnh ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN PHƢƠNG LAN

HÀ NỘI - 2015



1.3.

Sự cần thiết của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân để sản xuất kinh doanh riêng.................................... 18

Chƣơng 2: CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG
THỜI KỲ HÔN NHÂN ĐỂ VỢ HOẶC CHỒNG SẢN XUẤT
KINH DOANH RIÊNG ................................................................... 24
2.1.

Quyền yêu cầu chia .......................................................................... 24

2.2.

Phƣơng thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng của vợ
hoặc chồng ......................................................................................... 29

2.3.

Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân để vợ hoặc chồng sản xuất kinh doanh riêng ............... 32

2.3.1. Quan hệ nhân thân .............................................................................. 33
2.3.2. Quan hệ tài sản ................................................................................... 35


2.3.3. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con chung và đời sống
chung của gia đình sau khi chia tài sản chung ................................... 40
2.3.4. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba khi chia

chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với mục đích
đầu tƣ kinh doanh riêng .................................................................. 55

3.2.1. Về quyền yêu cầu chia tài sản chung để một bên đầu tư kinh
doanh riêng ......................................................................................... 56


3.2.2. Về hình thức của việc chia tài sản chung để một bên đầu tư kinh
doanh riêng ......................................................................................... 57
3.2.3. Về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung vợ chồng ........ 58
3.2.4. Về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân để một bên vợ, chồng sản xuất kinh doanh riêng ............. 59
3.2.5. Về các trường hợp chia tài sản chung bị coi là vô hiệu ..................... 60
3.2.6. Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân ....................................................................... 61
KẾT LUẬN .................................................................................................... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 65


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

Bộ luật Dân sự

HĐTP

Hội đồng Thẩm phán

HN&GĐ


đình năm 2000
Nghị quyết số 35/2000/QH10

Nghị

quyết

số

35/2000/QH

ngày

09/06/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
TAND

Tòa án nhân dân

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỞ ĐẦU

doanh của các cá nhân trong xã hội là rất cao. Với mục đích để sản xuất kinh
doanh riêng không ít các cặp vợ chồng đã thỏa thuận chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để sản xuất
kinh doanh riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một mặt nó đáp ứng nhu cầu
chính đáng của vợ hoặc chồng trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng thể
hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của
pháp luật hiện hành. Việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
để sản xuất kinh doanh riêng vừa để đảm bảo nhu cầu về sử dụng vốn trong
hoạt động kinh doanh vừa để ngăn chặn những hậu quả rủi ro từ hoạt động
sản xuất kinh doanh đó đối với gia đình, đảm bảo cho lợi ích của gia đình.
Hiện nay việc chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm tạo
điều kiện cho một bên vợ hoặc chồng sản xuất kinh doanh riêng được tiến
hành không ít ở các vùng đô thị, thành phố lớn. Bên cạnh những tác động tích
cực của các quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
để sản xuất kinh doanh thì thực tiễn thực hiện những quy định trên cũng bộc
lộ những bất cập. Đặc biệt là những trường hợp lợi dụng những quy định của
pháp luật về vấn đề này để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với
người thứ ba hay việc giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình
thực hiện việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Điều đó cho thấy cần
phải có sự nghiên cứu sâu về vấn đề chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân đặc biệt chia tài sản chung để vợ chồng sản xuất kinh doanh riêng,
phát hiện những bất cập của các quy định pháp luật để hạn chế những tranh
chấp phát sinh mà vẫn giữ được hạnh phúc gia đình.
Đó là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài: “Chia tài sản chung của vợ
chồng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh” để nghiên cứu.

2


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân.
- Vấn đề vận dụng những quy định của pháp luật hiện hành về chia tài
sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi một bên vợ hoặc chồng đầu tư
kinh doanh riêng, thực tiễn thực hiện qua một số hình thức đầu tư kinh doanh.
 Phạm vi nghiên cứu
Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để sản xuất kinh
doanh ở đây được hiểu là việc vợ chồng chia tài sản chung để tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh riêng của mỗi bên. Trong trường hợp vợ chồng
không thỏa thuận và đi đến thống nhất được việc sử dụng tài sản chung vào
việc đầu tư kinh doanh thì họ sẽ thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia để bên
có nhu cầu kinh doanh có nguồn vốn riêng phục vụ cho việc kinh doanh. Việc
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để tiến hành sản xuất kinh doanh sẽ
không được đặt ra trong trường hợp vợ chồng dùng tài sản chung để kinh
doanh, hoặc ủy quyền cho một bên đứng ra kinh doanh bằng tài sản chung.
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của Luận văn, tác giả tập trung đi sâu
và phân tích về trường hợp vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh riêng của một bên vợ hoặc
chồng. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong đề
tài này được nghiên cứu trên cơ sở Luật HN&GĐ năm 2014 có sự so sánh với
Luật HN&GĐ năm 2000 để đánh giá những điểm mới, tiến bộ hơn của những
quy định pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Về thực tiễn thực hiện, do Luật HN&GĐ năm 2014 mới có hiệu lực,
việc thực hiện trong thực tế chưa có nên thực tiễn thực hiện được xem xét
nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các quy định về chia tài sản chung vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân theo Luật HN&GĐ năm 2000. Trong phạm vi đề tài
tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về

4




Hường, “Đăng ký quyền sở hữu tài sản và việc xác định tài sản chung, riêng
của vợ chồng”, Tạp chí Luật học số 10/2008; Nguyễn Phương Lan (2002),
“Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002;
Các công trình kể trên hầu như các tác giả đã đề cập đến chế độ tài sản
của vợ chồng và vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân theo Luật HN&GĐ năm 2000. Luận văn của tác giả Trần Đức Hoài nói
về tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không
nói về chia tài sản chung của vợ chồng nhằm mục đích sản xuất kinh doanh
riêng. Một số công trình cũng đã dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng những
quy định của pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Tuy nhiên các đề tài trên chưa nói đến các quy định của pháp luật, thực tiễn
áp dụng các quy định đó cũng như hậu quả pháp lý phát sinh từ việc chia tài
sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh
doanh riêng. Do đó, với đề tài mà tác giả lựa chọn và nghiên cứu là “Chia tài
sản chung vợ chồng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh” có nội dung
hoàn toàn mới và không có sự trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Việc nghiên cứu những nội dung của đề tài dựa trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin với phép duy vật lịch sử và duy vật biện
chứng, gắn với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và Pháp luật
nói chung và trong lĩnh vực pháp luật Hôn nhân và gia đình nói riêng.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích,
tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh để nghiên cứu đề tài.
6. Điểm mới của đề tài
Luận văn có điểm mới nhất định, bên cạnh việc hệ thống hóa và phân tích
những khái niệm, đặc điểm của vấn đề chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ

chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để hoạt động sản xuất
kinh doanh riêng và một số kiến nghị.

7


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
 Tài sản chung của vợ chồng
Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng phát sinh, tồn tại cùng với sự phát
sinh và tồn tại của quan hệ hôn nhân. Tài sản của vợ chồng là một phạm trù
pháp lý gắn với quyền sở hữu của vợ chồng. Xuất phát từ tính chất của quan
hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, chung công sức trong việc xây dựng gia
đình, đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó như:
chăm sóc, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, phát triển kinh tế… nên
pháp luật quy định giữa vợ chồng phát sinh tài sản thuộc sở hữu chung. Chế
độ tài sản chung của vợ chồng được quy định tại các điều 33, 34 Luật
HN&GĐ năm 2014, theo đó:
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi,
lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong
thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 40
của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được
tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản
chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là
tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được
thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao
dịch bằng tài sản riêng.

sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng được xác
định là tài sản chung, trừ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng được chia
từ khối tài sản chung của vợ chồng là tài sản riêng. Ngoài ra, tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn được xác lập từ những thu nhập hợp

9


pháp khác như: tiền thưởng, khoản trợ cấp thường xuyên hoặc bất thường mà
vợ chồng nhận được như trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thai sản…, tiền trúng xổ
số… và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận nhập vào khối tài sản
chung. Theo pháp luật HN&GĐ Việt Nam, việc xác định là tài sản chung vợ
chồng hay tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng được căn cứ vào thời kỳ hôn
nhân và nguồn gốc tài sản. Trong thời kỳ hôn nhân, tùy vào nguồn gốc tài sản
được quy định trong các điều luật nêu trên, sẽ xác định được đó là tài sản
chung hay tài sản riêng của vợ chồng. Thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân là
ranh giới để xác định tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Về
nguyên tắc thì những tài sản mà vợ, chồng có trước khi kết hôn luôn là tài sản
riêng của một bên vợ, chồng.
 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Hiểu một cách khái quát thì thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian
tồn tại quan hệ vợ chồng. Thời kỳ hôn nhân là “khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ chồng được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt
hôn nhân” [36, Điều 3, Khoản 13]. Thời kỳ hôn nhân được tính từ thời điểm
hai bên nam nữ đăng ký kết hôn đến thời điểm chấm dứt hôn nhân do một bên
vợ hoặc chồng chết, vợ hoặc chồng bị tuyên bố chết hay do ly hôn bằng bản
án hoặc quyết định thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật.
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định chế độ tài sản của vợ chồng có thể là
chế độ tài sản pháp định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Chế độ tài sản
pháp định được quy định tại khoản 1 điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014. Tài

thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trong thời kỳ
hôn nhân và hậu quả pháp lý của việc này không làm chấm dứt
quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật [15].
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định về thời kỳ hôn nhân, tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tác giả xin đưa ra định nghĩa khái quát

11


về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: Chia tài
sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là trường hợp được pháp luật quy
định trong đó vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì
yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm tách một phần hoặc chuyển toàn bộ tài sản
chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng mà không làm
chấm dứt quan hệ vợ chồng với điều kiện không làm ảnh hưởng đến quyền lợi
của gia đình, của các con và không nhằm mục đích trốn tránh các nghĩa vụ về
tài sản của vợ, chồng.
Có thể nói các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân: về trường hợp chia, hình thức chia, hậu quả pháp lý của việc
chia đã phát huy được hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của vợ chồng và các thành viên của gia đình cũng như lợi ích của bên thứ ba
tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại với vợ, chồng.
1.2. Các nguyên tắc cơ bản của việc chia tài sản chung vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân
Nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được
xác định là những tư tưởng chỉ đạo mang tính chi phối, định hướng cho mọi
hoạt động của các chủ thể tham gia vào việc giải quyết các yêu cầu liên quan
đến chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Hiện nay, pháp
luật chưa có quy định cụ thể về các nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng

pháp, Luật này và các luật khác có liên quan” [36, Điều 17]. Quyền bình
đẳng đó thể hiện rõ trong việc vợ chồng cùng nhau bàn bạc và quyết định các
vấn đề liên quan đến nhân thân cũng như tài sản liên quan đến đời sống chung
của gia đình như việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái hay xây dựng và phát
triển đời sống kinh tế của gia đình.
Quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng còn được thể hiện trong việc
yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vợ chồng có thể
thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời

13


kỳ hôn nhân. Trong trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì sẽ giải
quyết theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 tức là chia tài sản
như khi vợ chồng ly hôn. Tài sản của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính
đến các yếu tố như hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng
góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung;
bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. Như vậy,
những quy định cụ thể của Luật HN&GĐ năm 2014 đã phần nào thực hiện
hóa nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về tài sản. Mặc dù sự đóng góp của vợ,
chồng vào khối tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là khác nhau
nhưng khi thực hiện việc chia tài sản chung thì pháp luật vẫn luôn thể hiện sự
công bằng, bình đẳng của cả vợ và chồng. Trong nền kinh tế thị trường hiện
nay luôn mang đến những cơ hội đồng thời là những thách thức đối với mỗi
cá nhân khi họ tham gia vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Vì vậy, chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để một bên vợ hoặc chồng tham
gia vào sản xuất kinh doanh riêng cần phải đảm bảo được quyền bình đẳng
của vợ chồng nhằm thực hiện các quyền năng về tài sản của vợ chồng cũng
như đảm bảo cho cuộc sống của gia đình được bền vững.

tài sản chung để trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người thứ ba hay với mục
đích tẩu tán tài sản, đồng thời nó cũng thể hiện sự tự do thỏa thuận của vợ
chồng là hoàn toàn tuyệt đối về việc định đoạt khối tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân của họ.
Có thể nói pháp luật tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của vợ chồng
trong việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân với mục đích sản xuất
kinh doanh riêng của vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận ấy lại bị
hạn chế và không được chấp nhận trong những trường hợp như: ảnh hưởng
nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa
thành niên, còn đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có

15


khả năng lao động; trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại… [36, Điều 42].
Thứ ba, nguyên tắc sự thỏa thuận của vợ chồng chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội.
Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định vợ chồng có quyền tự
do thỏa thuận và định đoạt đối với khối tài sản chung của họ trong thời kỳ hôn
nhân. Những quy định đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân vợ hoặc
chồng có thể thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của họ, đó có thể là việc
đầu tư sản xuất kinh doanh riêng hay những nhu cầu cá nhân khác. Do đó khi
vợ chồng có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì họ có thể thỏa
thuận hoặc yêu cầu Tòa án tiến hành việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân. Vợ chồng được tự do thể hiện ý chí trong việc thỏa thuận các nội dung
liên quan đến việc phân chia tài sản chung. Tuy nhiên sự tự do thỏa thuận này
không được làm ảnh hưởng hay gây bất lợi cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân
khác. Nếu sự thỏa thuận của vợ chồng vi phạm đến quyền, lợi ích, vi phạm
đạo đức xã hội thì pháp luật sẽ không thừa nhận và sự thỏa thuận của vợ

Đồng thời Luật HN&GĐ năm 2014 cũng ghi nhận:
Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con;
chăm lo cho việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh cả
về thể chất, trí tuệ và đạo đức; trở thành người con hiếu thảo của gia
đình, công dân có ích cho xã hội. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành
niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình [36, Điều 69, Khoản 1,2].
Chăm sóc và nuôi dạy con cái không chỉ là nghĩa vụ của cha mẹ đối với
con mà nó còn là nghĩa vụ của cha mẹ đối với Nhà nước. Đối với bất kỳ quốc
gia nào trẻ em là đối tượng chăm sóc đặc biệt vì đó là lực lượng lao động
tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất

17


nước. Mặt khác, việc cha mẹ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
em nhằm bảo đảm thực hiện những quyền cơ bản của trẻ em đã được ghi nhận
trong những văn bản pháp luật Quốc tế cũng như ở từng quốc gia cụ thể.
Trường hợp vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân, dù là phân chia toàn bộ khối tài sản chung hay chỉ phân chia một
phần thì mối quan hệ pháp lý của vợ chồng vẫn chưa chấm dứt, không vì thế
mà làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con cái, đặc biệt là
con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải có sự thỏa
thuận và thống nhất trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con cái.
Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi: “Ảnh hưởng nghiêm
trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên,
con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc con không có khả năng lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status