Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng TMCP á châu chi nhánh hà nội - Pdf 34

Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Nam Thắng

Lớp

: Ngân hàng 2

Mã sinh viên

: TC425728

Đề tài:

Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Ngân Hàng TMCP Á Châu – Chi
Nhánh Hà Nội
MỤC LỤC

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ACB


NQD

: Ngoài quốc doanh

NH

: Ngắn hạn

T, DH

: Trung & dài hạn

KQHĐKD

: Kết quả hoạt động kinh doanh

SXKD

: Sản xuất kinh doanh

NQH

: Nợ quá hạn

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội

DANH MUC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

3. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích lý
luận, thực tiễn như: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử,
phương pháp phân tích hoạt động kinh tế, phương pháp định lượng tổng hợp và so
sánh….
4. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận thì khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng & chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương
mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi
nhánh Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội.
Do trình độ bản thân còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các quý thầy cô để vấn đề nghiên cứu
được hoàn thiện hơn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG & CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1.



Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
vậy phát sinh nhu cầu bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức có thu nhập hoặc
vốn hiện tại lớn hơn các khoản chi cho hàng hóa, dịch vụ, vì vậy có tiền để tiết kiệm.
Tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy
lợi nhuận là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm. Dòng tiền di
chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng
thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát
hoặc hùn vốn.
Cơ sở cho chức năng trung gian tài chính của ngân hàng là khả năng thẩm
định thông tin của ngân hàng. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân
tích thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu
quả của thị trường nhưng tạo ra khả năng sinh lợi cho ngân hàng, nơi có chuyên
môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và có khả năng lựa chọn những
công cụ với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn nhất.
Trung gian thanh toán
Khi ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay – trung gian tài chính – tất yếu dẫn
đến cơ sở của thanh toán hộ. Trước tiên là thanh toán hộ giữa những khách hàng
có tiền gửi ở cùng một ngân hàng, sau đó mở rộng ra khi hệ thống thanh toán liên
ngân hàng hình thành. Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ
theo lệnh của khách hàng.
Hàng triệu khách hàng mở tài khoản và gửi tiền tại ngân hàng là cơ sở để
ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất và có thể đuy nhất hiện nay ở
hầu hết các quốc gia. Tiền được chuyển từ tài khoản của khách hàng A tại ngân
hàng này sang tài khoản của khách hàng B tại ngân hàng khác, mở đầu hoặc kết
thúc một quá trình luân chuyển hàng hóa, hoặc quan hệ kinh tế. Để việc thanh toán
nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng
nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,
thẻ,… ngân hàng cũng đầu tư lớn, thiết lập mạng lưới thanh toán rộng khắp tại các

Toàn bộ hệ thống ngân hàng tham gia tạo phương tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở mở
rộng cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả
thì sẽ tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại
một ngân hàng khác, từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Toàn bộ hệ thống ngân
hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi thanh toán nhiều gấp bội so với lượng tiền cơ
sở thông qua hoạt động tín dụng.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
Như vậy, chức năng tạo phương tiện thanh toán của ngân hàng được phát
sinh dựa trên chức năng trung gian tài chính (huy động và cấp tín dụng) và chức
năng trung gian thanh toán. Khi thực hiện chức năng này, hệ thống ngân hàng
tham gia cung tiền, tác động tới lượng tiền cung ứng, qua đó ảnh hưởng tới lạm
phát và tăng tưởng kinh tế.

1.1.3.

Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Theo điều IV của Luật tổ chức tín dụng số 47/201/QH12 quy định: Hoạt

động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các
nghiệp vụ sau đây:
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ
tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc
có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng

tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.

-

Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công
cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn
thanh toán.

-

Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá
khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán.

-

Môi giới tiền tệ là việc làm trung gian có thu phí môi giới để thu xếp thực hiện
các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác giữa các tổ chức
tín dụng, tổ chức tài chính khác.

-

Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở
tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng.

-

Sản phẩm phái sinh là công cụ tài chính được định giá theo biến động dự kiến
về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ
hoặc tài sản tài chính khác.


Đặc trưng:
Có thể nhận thấy về thực chất tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho
vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động của
giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hoá từ người cho
vay chuyển sang người đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho
vay với lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Tín dụng được cấu thành nên từ sự kết hợp
của ba yếu tố chính là: lòng tin (sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng
hạn của người cho vay đối với người đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng (thời
gian người vay sử dụng tiền vay); sự hứa hẹn hoàn trả. Và như vậy, phạm trù tín
dụng có các đặc trưng chủ yếu sau:
Tín dụng là có lòng tin

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
Bản thân từ “tín dụng” xuất phát từ tiếng la-tinh “creditum” có nghĩa là “sự
giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy tín
dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín
nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin tuy vô
hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong
hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.
Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” được biểu hiện từ nhiều phía, không chỉ có
lòng tin từ một phía của người cho vay đối với người đi vay. Nếu người cho vay
không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay thì quan hệ tín dụng có thể
không phát sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm nhận thấy người cho vay không
thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín
dụng cũng có thể không phát sinh. Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của
người cho vay đối với người đi vay quan trong hơn nhiều bởi lẽ người cho vay là
người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng.

1.2.2.

Phân loại tín dụng

Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12)
Tín dụng ngắn hạn:
Là loại tín dụng có thời hạn tới 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn
lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân và
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong dư nợ tín dụng của các ngân hàng.
Tín dụng trung hạn:
Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại hình tín dụng này
thường được các doanh nghiệp sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến
hay đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có
quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn:
Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng. Loại tín dụng này để đáp ứng nhu cầu
dài hạn của các doanh nghiệp: nhu xây dựng nhà xưởng, thiết bị phương tiện vận
tải có quy mô lớn, các công trình xây dựng nhà, sân bay, cầu đường...
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng:
Theo hình thức cấp tín dụng có thể chia thành chiết khấu, cho vay, bảo lãnh
và cho thuê...
Cho vay
Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả
cả gốc và lãi trong thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục
tín dụng. Thời gian khoản vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng

Là loại tín dụng được đảm bảo bằng các loại tài sản của khách hàng, bên bảo lãnh
hoặc hình thành từ vốn vay.
Tín dụng đảm bảo không phải bằng tài sản:
Là loại tín dụng được đảm bảo dưới các hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định
của Chính phủ và hộ nông dân vay vốn được bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể,
chính quyền địa phương.
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
Tín dụng trực tiếp:
Ngân hàng cấp tín dụng trực tiếp cho người đi vay đồng thời người đi vay trực tiếp
hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Tín dụng gián tiếp:
Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc các
chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán
Căn cứ vào mục đích tín dụng:
-

Cho vay phục vụ sản xuất công thương nghiệp
Cho vay tiêu dùng
Cho vay bất động sản
Cho vay nông nghiệp
Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.

Căn cứ vào hình thức hoàn trả nợ:
-

Cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn

-

Cho vay có nhiều kỳ trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp

mạnh quá trình tái sản xuất. Đồng thời việc tập trung và phân phối vốn tín dụng đã
góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế quốc dân từ nơi thừa đến nơi thiếu. Bên
cạnh việc đáp ứng vốn kịp thời đầy đủ cho các Doanh nghiệp, các Ngân hàng còn có
những ý kiến đóng góp cho phương án sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tác thông
qua quá trình sử dụng vốn của Doanh nghiệp...
Thứ hai, tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục tiêu
kinh tế vĩ mô như việc ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Việc
bảo đảm được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một phần vào khối lượng
và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Mà ở đây
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
khối lượng và cơ cấu tín dụng lại phụ thuộc vào điều kiện tín dụng như lãi suất, điều
kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định
trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Như vậy, thông qua việc thay đổi và điều
chỉnh các điều kiện tín dụng Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển
hướng vận động của nền kinh tế cả về quy mô lẫn kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu
dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại với tổng cung và các
điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới
tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được mục tiêu vĩ mô cần thiết.
Thứ ba, Tín dụng Ngân hàng là công cụ chủ yếu để đầu tư cho các ngành kinh
tế then chốt và các ngành kinh tế kém phát triển. Hoạt động tín dụng của Ngân
hàng là tạp trung lượng vốn nhàn rỗi trong xã hội của các tổ chức, cá nhân để cho
các đơn vị kinh tế vay. Nhưng không phải tất cả các chủ thể có nhu cầu vay đều
được Ngân hàng đáp ứng. Bởi để tránh rủi ro tín dụng các Ngân hàng chỉ thực hiện
đầu ư tập trung vào đơn vị cá triển vọng sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên trong điều kiện đất nước ta hiện nay phần lớn dân cư đang sống bằng
nghề nông. ở hầu hết các tỉnh miền núi vấn đề đưa máy móc vào nông nghiệp còn
rất hạn chế nguyên nhan ở đây là do thiếu vốn.


1.3.1.

Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng

Khái niệm:
Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động phản ánh quan hệ vay mượn có
hoàn trả trên cơ sở lũng tin giữa một bên là ngân hàng với một bên là khách hàng –
các chủ thể kinh doanh khác nhằm mục tiêu là lợi nhuận và phát triển kinh tế xã
hội. Do đó, chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
(người vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế xó hội và đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng được thể hiện trên nhiều khía cạnh:
Đối với khách hàng:
Chất lượng tín dụng thể hiện ở chỗ khoản tín dụng được cấp phải phù hợp với mục
đích sử dụng vốn của khách hàng, với lói suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản
thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín
dụng. Đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Đối với ngân hàng:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
Chất lượng tín dụng được hiểu ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp
với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị
trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và cú lói, hạn chế đến mức thấp nhất rủi
ro trong quỏ trỡnh hoạt động, mang lại lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản cho
ngân hàng.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội:

lượng tín dụng cần phải xem xét đến nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ xấu:
Công thức:

Ý nghĩa:
Tỷ lệ nợ xấu cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín
dụng. Nợ xấu có độ rủi ro rất cao, khả năng thu hồi vốn là tương đối khó, khoản vốn
của ngân hàng lúc này không còn là rủi ro nữa, mà đã gây thiệt hại cho ngân hàng.
Đây là kết quả trực tìếp biểu hiện chất lượng của khoản tín dụng cấp cho khách
hàng. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân
hàng là rất thấp và lúc này cần phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của
mình nếu không hậu quả khó lường trước được.
Theo quyết định 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của
Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc NHNN Việt Nam có quy định
là: Nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5:
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn):
Bao gồm:
-

Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

-

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ
hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này;

-


Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn):
Bao gồm:
-

Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

-

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

-

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai;

-

Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn
hoặc đã quá hạn;

-

Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

-

Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều này.


vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Với một số vốn nhất định, nhưng
do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho
các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực
khác. Như vậy, hệ số này càng tăng thì phản ánh tình hình tổ chức vốn tín dụng
càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.
Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng:
Công thức:

Ý nghĩa:

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại
khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ
yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ
các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an
toàn của đồng vốn vay.
Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng việc giảm và duy trì
một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì
tỷ lệ nợ quá hạn thấp đó cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao
chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.
Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng:
Công thức:

Ý nghĩa:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng, cứ một đồng vốn đầu
tư tín dụng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ
chất lượng tín dụng càng tốt.

nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng; được bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát
tiền vay, kiểm tra quá trình sử dụng vốn đến khi thu hồi được nợ. Chất lượng tín
dụng có được đảm bảo hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở
từng bước và phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng.
Hệ thống thông tin tín dụng
Trên thực tế không phải khách hàng nào cũng sử dụng vốn tín dụng đúng mục đích
và có chất lượng vì vậy hoạt động tín dụng muốn tăng trưởng, có hiệu quả đòi hỏi
phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ nắm bắt kịp thời, chính xác các nguồn
thông tin về khách hàng, phân tích tìm ra những cơ hội tốt trong kinh doanh cũng
như để phòng chống rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của mỗi ngân hàng
thương mại.
Vấn đề kiểm tra, giám sát, thanh tra
Một trong những nghiệp vụ hoạt động nhằm giúp cho ngân hàng tránh được các rủi
ro trong hoạt động tín dụng là công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát. Công tác này
không chỉ thực hiện với khách hàng mà còn với bản thân ngân hàng.
Yếu tố khách hàng:
Những nhân tố về khách hàng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng
thương mại là:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp


Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
-

Năng lực sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý của khách hàng.
Những kiến thức cơ bản của khách hàng trong việc vay vốn.
Tính trung thực và chính xác của những thông tin mà khách hàng cung cấp cho

-




Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng TMCP Á Châu– Chi nhánh Hà Nội
thì tác động của các nhân tố bất khả kháng như trên rất nặng nề. Tổn thất lớn và
khả năng trả nợ ngân hàng bị suy giảm. Thậm chí không còn khả năng trả nợ. Các
nhân tố này được coi là bất khả kháng vì chúng thường vượt qua tầm kiểm soát của
các ngân hàng và khách hàng.

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status