Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của tổng công ty xây dựng công trình hàng không ACC - Pdf 34

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vốn kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp, là phương tiện để biến các ý tưởng kinh
doanh thành hiện thực. Tuy nhiên, vốn kinh doanh luôn là một nguồn lực có
hạn và không phải là phương thuốc kỳ diệu quyết định mọi sự thành bại trong
kinh doanh.
Thực tế qua hơn 20 năm đổi mới kinh tế của đất nước đã chứng minh,
có những doanh nghiệp có số vốn kinh doanh ban đầu ít ỏi, nhưng nhờ biết
cách quản lý, sử dụng vốn tiết kiệm hiệu quả nên không những được bảo toàn
được vốn mà còn sinh sôi, nảy nở, giúp cho doanh nghiệp phát triển. Trong
khi đó, nhiều doanh nghiệp khác, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, được
nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, vốn kinh doanh ban đầu đầy đủ, nhưng do yếu
kém trong khâu quản lý sử dụng vốn dẫn đến mất vốn, cụt vốn, kinh doanh bị
phá sản.
Điều đó càng chứng tỏ rằng, trong kinh doanh thì vốn kinh doanh mới
chỉ là điều kiện “cần”, còn việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
mới là điều kiện “đủ”. Trong thực tế, vốn kinh doanh và việc nâng cao hiệu
quả sử dụng là hai phạm trù kinh tế khác nhau, nhưng lại có quan hệ biện
chứng mật thiết và thường xuyên tác động qua lại, bổ trợ lẫn nhau trong quá
trình kinh doanh.
Thời gian qua, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh đúng
mục đích, tiết kiệm, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho Tổng Công ty xây
dựng công trình hàng không ACC chưa thực sự được nhìn nhận một cách
nghiêm túc và nghiên cứu có hệ thống. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài
“Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Tổng Công ty xây dựng
công trình hàng không ACC” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp




4. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài kết hợp sử dụng đồng bộ các phương pháp
thông kê, phân tích, tổng hợp, so sánh…trên cơ sở nền tảng phương pháp luận
duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phục lục, nội dung chính của luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Tổng Công ty
xây dựng công trình hàng không ACC hiện nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của Tổng Công ty xây dựng công trình hàng không ACC
Sau đây là nội dung của các chương.


4

Chương 1
VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm và phân loại Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản hữu hình và tài sản vô hình được ứng trước phục vụ cho kinh doanh nhằm
mục đích kiếm lời.
1.1.1.2. Đặc điểm vốn kinh doanh của doanh nghiệp

bổ sung từ lợi nhuận kinh doanh.
Các quỹ được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh (quỹ dự
phòng, quỹ đầu tư phát triển)
- Vốn huy động bao gồm vốn vay của các cá nhân, các tổ chức tín dụng
dưới mọi hình thức, vốn huy động từ việc phát hành trái phiếu.
Vốn huy động luôn đi đôi với các cam kết thanh toán khi đến hạn thể
hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả cho
các tác nhân kinh tế khác như: nợ tiền vay, trái phiếu đến hạn thanh toán, các
khoản phải trả cho người bán, cho nhà nước, cho người lao động trong doanh
nghiệp.
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường
một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
Tuy nhiên, việc lựa chọn nguồn vốn trong các doanh nghiệp khác nhau sẽ
không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các yếu tố như: trạng thái của
nền kinh tế; ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp; quy
mô và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp; trình độ khoa học – kỹ thuật và tình


6

độ quản lý; chiến lược phát triển và chiến lược đầu tư của doanh nghiệp; thái
độ của chủ doanh nghiệp; chính sách thuế v.v.
* Dựa theo đặc điểm luân chuyển của vốn
Theo tiêu thức phân loại này, vốn kinh doanh được hình thành 2 loại:
vốn cố định và vốn lưu động
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận vốn sản xuất kinh doanh
ứng ra hình thành nên Tài sản cố định (TSCĐ) của doanh nghiệp. Là khoản
đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy mô của vốn cố
định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến
trình độ trang bị kỹ thuật vật chất và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh

thành một vòng luân chuyển.
Vốn cố định thường có chu kỳ vận động dài, sau nhiều năm mới có thể
thu hồi đủ số vốn đầu tư đã ứng ra ban đầu. Trong thời gian dài như vậy, đồng
vốn luôn vị đe doạ bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách
quan làm thất thoát vốn như:
- Do kinh doanh kém hiệu quả, sản xuất làm ra không tiêu thụ được, do
giá bán thấp hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức độ hao mòn
TSCĐ.
- Do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức độ hao mòn
của TSCĐ vượt qua mức dự kiến của TSCĐ về mặt hiện vật cũng như về mặt giá
trị.
- Do yếu tố thời gian của đồng vốn chịu sự tác động của lãi.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và
chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất
kinh doanh nói chung. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng
nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất
kinh doanh. Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân


8

theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền được ứng ra để
hình thành các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm
đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường
xuyên, liên tục.
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm ở khâu dự trữ sản xuất như: nguyên
nhiên, vật liệu, công cụ, dụng cụ… Tài sản lưu động ở khâu thiết bị như sản
phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm. Các tài sản lưu động ở khâu lưu thông

thái khác nhau đó đảm bảo cho việc chuyển hoá hình thái của vốn trong quá
trình luân chuyển được thuận lợi.
Từ những đặc điểm của vốn lưu động đã được xem xét ở trên đòi hỏi
việc quản lý và tổ chức sử dụng vốn lưu động cần chú trọng phải giải quyết
một số vấn đề sau:
- Xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết tối thiểu cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo đủ vốn lưu động
cho quá trình sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức khai thác nguồn vốn tài trợ vốn lưu động, đảm bảo đầy đủ,
kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời
phải có giải pháp thích ứng nhằm quản lý và tổ chức sử dụng vốn lưu động có
hiệu quả, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất.
* Dựa trên góc độ quản lý về mặt pháp luật, vốn gồm
+ Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu cần phải có để được quyết định
thành lập đối với các doanh nghiệp ở các ngành nghề nhất định do nhà nước
quy định.
+ Vốn điều lệ: là số vốn đưa vào sản xuất kinh doanh khi thành lập
doanh nghiệp và được ghi trong điều lệ hoạt động của doanh nghiệp.


10

So sánh vốn điều lệ và vốn pháp định
Vốn điều lệ là số vốn do tất cả thành viên góp và được ghi vào Điều lệ
công ty. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng vốn pháp định để được phép thành lập
công ty nếu có quy định (vốn điều lệ tối thiểu).
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để có thể thành lập một
doanh nghiệp. Vốn pháp định do Cơ quan có thẩm quyền ấn định, mà nó được
xem là có thể thực hiện được dự án khi thành lập doanh nghiệp. Vốn pháp
định sẽ khác nhau tùy theo lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh.

cho doanh nghiệp thì nợ vay phải trả đã trở thành một gánh nặng và doanh
nghiệp phải chịu rủi ro lớn.
Vì vậy, cần căn cứ vào những ưu điểm và nhược điểm của các nguồn
vốn (bên trong và bên ngoài) mà doanh nghiệp có thể kết hợp phát triển nhằm
mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và rủi ro là nhỏ nhất.
Từ việc nghiên cứu các phương pháp phân loại nguồn vốn sản xuất
kinh doanh cho thấy các doanh nghiệp hiện nay một mặt cần tăng cường quản
lý và sử dụng có hiệu quả đồng vốn hiện có, mặt khác chủ động tổ chức khai
thác các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Dựa vào thời gian sử dụng
Theo tiêu thức này có thể chia vốn của doanh nghiệp thành hai loại là:
vốn thường xuyên và vốn tạm thời.
+ Vốn thường xuyên: là tổng thể các vốn có tính chất lâu dài và ổn định
mà doanh nghiệp có thể sử dụng, vốn này được dùng cho việc hình thành tài
sản cố định và một phần tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho doanh
nghiệp, vốn thường xuyên bao gồm vốn riêng và các khoản vay dài hạn.
+ Vốn tạm thời: là vốn có tính chất ngắn hạn doanh nghiệp sử dụng đáp
ứng nhu cầu tạm thời, bất thường phát sinh trong doanh nghiệp kinh doanh
của doanh nghiệp. Vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Chúng ta có thể hình dung như sau:


12

TSLĐ

Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn
Vốn chủ sử hữu


xuất kinh doanh và huy động vốn.


13

- Chế độ chính sách còn là quy định cho các doanh nghiệp phải tuân
theo hệ thống pháp lý nhà nước nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
giữa các doanh nghiệp với nhau.
Thứ hai, đa dạng hoá hình thức huy động vốn với chi phí thấp nhất.
trong nền kinh tế thị trường xuất hiện nhiều phương thức, lãi suất huy động
cũng như phương thức thanh toán khác nhau. các hình thức huy động này
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn hay dài hạn trong doanh nghiệp, phục vụ
cho chương trình, dự án đầu tư theo chiều sâu, hay chiều rộng. Tuỳ theo từng
thời kỳ, tính chất đầu tư mà các doanh nghiệp tìm nguồn huy động hợp lý với
chi phí vốn là thấp nhất.
Ngoài những nguyên tắc nêu trên, khi huy động vốn các doanh nghiệp
cũng cần phải lưu ý đến một số điều kiện cũng như các yêu cầu khác như các
điều kiện để vay vốn ngân hàng, điều kiện để phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Vốn huy động đảm bảo phải sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và đảm bảo
khả năng thanh toán sau này.
1.1.3. Nguồn huy động vốn
1.1.3.1. Nguồn tài trợ ngắn hạn
* Nguồn từ các khoản phải nộp và phải trả
Trong thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp thì các khoản tài trợ
này không lớn lắm, nhưng chúng giúp cho doanh nghiệp giải quyết những
nhu cầu vốn mang tính chất tạm thời. Các khoản phải nộp, phải trả cho doanh
nghiệp thường bao gồm:
- Các khoản thuế phải nộp nhưng chưa nộp.
- Các khoản phải trả cho cán bộ công nhân viên nhưng chưa đến kỳ hay
nợ cán bộ công nhân viên.

hàng, hình thức này bao gồm:
+ Vay thế chấp bằng tài sản hàng hoá: theo hình thức này khi muốn vay
doanh nghiệp phải dùng tài sản của mình thường là tài sản cố định làm vật


15

bảo đảm thông qua việc doanh nghiệp giao cho ngân hàng các giấy tờ chứng
minh tài sản đó thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
+ Chiết khấu thương phiếu: theo hình thức này khi có nhu cầu tiền mặt,
doanh nghiệp có thể đem các hối phiếu chưa đến hạn thanh toán bán lại cho
ngân hàng để nhận được những khoản tiền vốn ngắn hạn.
+ Vay thế chấp bằng các khoản phải thu: doanh nghiệp có thể dùng các
hoá đơn thu tiền, các hợp đồng kinh tế để làm vật bảo đảm cho các khoản vay.
Nếu ngân hàng đồng ý, họ sẽ đánh giá chất lượng các chứng từ, hoá đơn, sau
đó xác định khoản tiền vay tương ứng cho doanh nghiệp.
* Hợp đồng tài trợ
Hình thức này được thực hiện khi doanh nghiệp nhận đơn đặt hàng của
khách hàng, doanh nghiệp có thể đến ngân hàng đề nghị cho vay một khoản
tiền để thực hiện hợp đồng. nếu các chứng từ, văn bản là hợp lệ và thấy khả
năng thanh toán của khách hàng là đáng tin cậy thì ngân hàng có thể cấp tín
dụng cho doanh nghiệp.
* Thư tín dụng
Hình thức này được áp dụng đối với các doanh nghiệp có nhu cầu nhập
khẩu hàng hoá. Khi đó doanh nghiệp sẽ đề nghị với ngân hàng phục vụ mình
cấp một khoản tín dụng để nhập hàng hoá, nếu ngân hàng chấp nhận thì họ sẽ
phát hành một thư tín dụng cam kết sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu thông qua
ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu. Sau khi nhận được thông báo, nhà xuất
khẩu chuyển toàn bộ hàng hoá cho doanh nghiệp, đồng thời gửi các chứng từ
hoá đơn về việc chuyển hàng hoá đến ngân hàng phục vụ mình nhờ thanh

gồm cả gốc và lãi trong suốt thời gian diễn ra giao dịch với những khoản tiền
bằng nhau. Doanh nghiệp đi vay có thể thiết lập một lịch trình trả nợ phù hợp
với dòng tiền thu nhập của doanh nghiệp. Lãi suất áp dụng cho loại này có thể


17

là lãi suất thải nổi hay cố định tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên. Hình thức tín
dụng này được áp dụng rất phổ biến, có ưu điểm giúp doanh nghiệp chủ động
được kế hoạch trả nợ và là nguồn ổn định lâu dài phù hợp với các dự án đầu
tư dài hạn.
- Trái phiếu công ty: là một công cụ tài chính thường được các doanh
nghiệp dùng để vay dài hạn, là một giấy nhận nợ do doanh nghiệp đi vay phát
hành cam kết sẽ hoàn trả cả gốc và lãi cho trái chủ sau một khoảng thời gian
nhất định. Có nhiều hình thức phát hành trái phiếu, với mỗi hình thức đều có
những ưu nhược điểm riêng nên doanh nghiệp cần xem xét tình hình tài chính
cụ thể để lựa chọn loại trái phiếu phù hợp:
+ Trái phiếu có lãi suất cố định, lãi suất thay đổi.
+ Trái phiếu có thể thu hồi.
+ Trái phiếu có bảo đảm.
- Huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu.
Cổ phiếu là giấy chứng nhận số vốn đã đóng góp vào công ty và quyền
được hưởng lợi tức (hay chịu lỗ) tương ứng với phần vốn đã góp và chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình.
Cổ phiếu có những ưu nhược điểm sau:
+ Cổ phiếu là lá chắn chống lại sự phá sản của doanh nghiệp.
+ Khi công ty gặp khó khăn thì có thể chưa cần phải trả hoặc trả
rất ít cổ tức cho cổ đông.
+ Có thể bị san sẻ quyền lãnh đạo công ty bởi vì khi cổ phần mới
được bán thì những cổ đông mới cũng hoàn toàn có quyền lợi như các cổ

là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối.
Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả kinh doanh là:
H=K–C

(2.1)

Còn về so sánh tương đối thì: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được


19

xác định bằng cách đối chiếu so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí hoặc
các nguồn lực tạo ra kết quả đó.
K
H =

(2.2)
C

Trong đó:
H: hiệu quả kinh doanh
K: kết quả kinh doanh (bằng các chỉ tiêu sau: GTTSL, Tổng DT, LN…)
C: Nguồn lực đầu vào (Lao động, chi phí kinh doanh, vốn, tài sản…)
Do đó để tính được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ta phải tính
kết quả đạt được và nguồn lực đầu vào
Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh doanh thu được phản ánh trình
độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh. Hai mặt định tính và định lượng của
hiệu quả kinh doanh không được tách rời nhau.
- Thứ hai, Phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi

độ khai thác và tiết kiệm các nguồn lực đã có. Phát huy ưu điểm, khắc phục
nhược điểm trong quá trình sản xuất, đề ra các biện pháp nhằm khai thác mọi
khả năng tiềm tàng để phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hạ
giá thành, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho người lao động.
Dưới góc độ người chủ sở hữu doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh
được thể hiện bằng hiệu quả tài chính, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
Để hiểu rõ hơn bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
cần phân biệt được 2 khái niệm hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh.
Kết quả là phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá trình


21

kinh doanh hay một khoảng thời gian kinh doanh nào đó. Kết quả bao giờ
cũng là mục tiêu của doanh nghiệp có thể biểu hiện bằng đơn vị hiện vật (tấn,
tạ, kg, m2, m3…) và đơn vị giá trị (đồng, triệu đồng…) hay cũng có thể phản
ánh mặt chất lượng của sản xuất kinh doanh như uy tín, danh tiếng của công
ty, của chất lượng sản phẩm. Kết quả còn phản ánh qui mô hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, một doanh nghiệp đạt kết quả lớn thì chắc chắn
qui mô của doanh nghiệp cũng phải lớn. Việc xác định kết quả sản xuất kinh
doanh cho dù là kết quả định lượng của một doanh nghiệp gặp rất nhiều khó
khăn bởi nhiều lý do ví dụ như sản xuất sản phẩm. Kết quả là những gì doanh
nghiệp đạt được sau quá trình sản xuất kinh doanh, là mục tiêu của doanh
nghiệp.
Trong khi đó, hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực sản xuất hay phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh không phải là sự chênh lệch giữa kết quả và hao phí
nguồn lực vì mức chênh lệch đó là một số tuyệt đối còn hiệu quả kinh doanh

càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Phân biệt hiệu quả sử dụng và hiệu suất sử dụng
Hiệu quả là những thứ mình tạo ra khi sử dụng 1 lượng nguồn lực nào
đó (nguyên vật liệu, nhân công).
Hiệu suất là khả năng sử dụng ít đầu vào hơn nhưng vẫn tạo được kết
quả cao hơn.
Hiệu quả vốn kinh doanh là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng sử dụng
vốn kinh doanh của một doanh nghiệp, là một phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt kết
quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất.


23

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chung
* Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
C của vốn =
Hệ số sinh lời

Lợi nhuận sau thuế

(2.3)

Tổng vốn SXKD

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập DN
Tổng vốn SXKD = Vốn đầu tư tại DN + Vốn tự huy động + Vốn khác
Hệ số này cho biết một đồng vốn SXKD của DN thu được bao nhiêu

nghiệp kinh doanh có hiệu quả, nếu hệ số nhỏ hơn 1 nói lên DN kinh doanh
chưa hiệu quả.
Doanh thu thuần
Hệ suất sử dụng tổng tài sản =
C

Tổng tài sản

(2.6)

Tổng tài sản = Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thể hiện ở mức doanh
thu thuần được tạo ra từ tổng số vốn doanh nghiệp đã đầu tư. Chỉ tiêu này
phản ánh vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ và chỉ ra một đồng vốn đầu tư vào
sxkd tạo ra được mấy đồng doanh thu.
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán.
C
Hệ số thanh toán ngắn hạn =

Tài sản lưu động

(2.7)

Nợ ngắn hạn
Tài sản lưu động = Mã số 100 bảng cân đối kế toán
Nợ ngắn hạn = Mã số 310 bảng cân đối kế toán
Hệ số này thể hiện ở mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn
hạn, cho biết khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là
cao hay thấp. Nếu chỉ số này lớn hơn hoặc bằng 1 thì tài sản lưu động của
doanh nghiệp đủ để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn, nếu chỉ số này nhỏ hơn 1

nhiêu đồng doanh thu. Nếu hệ số lớn hơn hoặc bằng 1 phản ánh doanh nghiệp
sử dụng TSCĐ có hiệu quả, nếu nhỏ hơn 1 thì ngược lại.
Vốn cố định
Hệ số hàm lượng vốn cố định =
Doanh thu thuần

Vốn cố định = Chi tiết MS 411 BCĐKT
Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ – Các
khoản giảm trừ.


Trích đoạn Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn Các giải pháp khác Đối với cơ quan Nhà nước Đối với cơ quan quản lý BQP Đối với Tổng công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status