i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu học hỏi của riêng cá nhân tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình nào.
TP. Hà Nội, tháng 3 năm 2014
Học viên
Phan Thị Trang
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn với đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh nhóm sản
phẩm đồ gỗ nội thất của các cơ sở sản xuất thuộc làng nghề Hữu Bằng – Hà Nội ”,
tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Hoàng
Long và các quý thầy cô khoa Sau Đại Học trường Đại Học Thương Mại.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến các quý thầy cô đã dành thời gian và tâm
huyết hướng dẫn nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng tiến hành nghiên cứu một cách hoàn thiện nhất
nhưng luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được
những đóng góp quý báu của quý thầy cô.
iii
MỤC LỤC
iv
SD – KD Sản xuất kinh doanh
SP
Sản phẩm
DV
Dịch vụ
ĐGNT
Đồ gỗ nội thất
VN
Việt Nam
v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Hình 2.1 ( Nguồn : Phòng Lao Động TBXH – Huyện Thạch Thất )...................................33
Hình 2.2 Tình hình lao động................................................................................................34
Hình 2.3 Tỷ lệ thiết bị công nghệ.........................................................................................37
Hình 2.5 Đánh giá về độ bền sản phẩm ĐGNT của làng nghề Hữu Bằng................45
Rất thấp
Thấp
Trung bình
Cao
lớn về chất cũng như lượng, chúng ta đã xuất hiện những tập đoàn kinh tế lớn đầu
tư ở nước ngoài, . . . nhưng khách quan mà nói, so với mặt bằng chung của khu vực
cũng như trên thế giới thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn
còn thấp. Vấn đề đặt ra ở đây cho các doanh nghiệp Việt Nam bây giờ là: cần phải
làm gì? Làm như thế nào? Để họ không những có thể tồn tại và đứng vững trên thị
trường nội địa mà còn vươn ra thị trường thế giới.
Hiện nay, thị trường đồ gỗ tại Việt Nam là một thị trường mới đầy tiềm
năng. Việt Nam là một nước nhiệt đới, với sản lượng gỗ được đánh giá là khá phát
triển, do đó kinh doanh đồ gỗ nội thất trên thị trường là khá phát triển. Trên thị
2
trường đã xuất hiện nhiều công ty kinh doanh sản phẩm này với nhiều mẫu mã,
chủng loại và chất lượng khác nhau, bên cạnh những thương hiệu uy tín, đảm bảo
về chất lượng thì có khá nhiều nhà sản xuất chuyên nhái lại các chủng loại, mẫu mã
của sản phẩm chính hãng với chất lượng không cao và mức giá thấp hơn so với sản
phẩm chính hãng, nhưng kiểu dáng lại tương tự khách hàng khó có thể phân biệt
được. Mặt khác dù sản phẩm ĐGNT lại có giá thành khá cao, nguồn sản phẩm cung
ứng lại là các loại gỗ quý thì lại rất thấp do yếu tố môi trường nên đại bộ phận
khách hàng vẫn quyết định lựa chọn sản phẩm chất lượng kém hơn. Những vẫn đề
này càng đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu, đưa ra các giải
pháp để cải tiến chất lượng, hạ giá thành, nâng cao NLCT cho sản phẩm của mình
thì mới có thể tồn tại và phát triển trên thị trường.
Trên cơ sở tìm giải pháp cho bài toán đó, em đã tiến hành nghiên cứu thực
tiễn thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam từ đó đưa ra
một số ý kiến của mình thông qua đề tài:
“Nâng cao năng lực cạnh tranh nhóm sản phẩm đồ gỗ nội thất của các cơ sở sản
xuất thuộc làng nghề Hữu Bằng - Hà Nội’’
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
thương hiệu Việt Nam” – Luận văn thạc sỹ năm 2011 đưa ra các giải pháp nâng cao
NLCT của sản phẩm xe máy mang thương hiệu Việt Nam.
Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu về NLCT sản phẩm đồ gỗ nội
thất của các cơ sở sản xuất thuộc làng nghề Hữu Bằng – Hà nội trên thị trường.
3. Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh nhóm sản phẩm nói chung, nhóm
sản phẩm đồ gỗ nội thất của các cơ sở sản xuất thuộc làng nghề truyền thống.
3.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa nhưng cơ sở lý luận cơ bản về NLCT sản phẩm của các cơ sở
SX, thuộc làng nghề Viêt Nam
Xác định NLCT và đánh giá NLCT sản phẩm ĐGNT của các cơ sở sản xuất
thuộc làng nghề Hữu Bằng - Hà Nội
Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao NLCT sản phẩm ĐGNT thuộc làng
nghề Hữu Bằng giai đoạn đến 2015 – 2020
4
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: các nghiên cứu tập trung nâng cao NLCT sản phẩm
ĐGNT của làng nghề Hữu Bằng trên thị trường Việt Nam
Phạm vi về thời gian: Các nghiên cứu chủ yếu về tình hình thực tiễn SXKD
sản phẩm ĐGNT của các cơ sở SX thuộc làng nghề Hữu Bằng trong giai đoạn từ
năm 2008 đến hiện nay để từ đó đề xuất giải pháp đề xuất nâng cao NLCT của
nhóm sản phẩm này đến 2015 - 2020
Phạm vi về nội dung: tập trung nghiên cứu xác định năng lực canh tranh và
giải pháp nâng cao NLCT sản phẩm ĐGNT của các cơ sở sản xuất thuộc lang nghề
Hữu Bằng và có đối sánh với một số làng nghề, doanh nghiệp trên thị trường Việt
7. Kết cấu của luận văn:
Đề tài của tôi được chia thành 3 chương
Chương 1: Những cơ sở lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh sản phẩm của
làng nghề truyền thống
Chương 2: Thực trạng NLCT sản phẩm đồ gỗ nội thất của các cơ sở sản xuất
thuộc làng nghề Hữu Bằng – Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp nâng cao NLCT sản phẩm đồ gỗ
của làng nghề Hữu Bằng – Hà Nội giai đoạn 2020
6
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH SẢN PHẨM CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
1.1 Một số khái niệm cơ bản và lý thuyết cơ sở về năng lực cạnh tranh sản
phẩm của làng nghề truyền thống
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm và sự phát triển của làng nghề truyền thồng
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về “làng nghề”. theo giáo sư
trần quốc vượng thì “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông
và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm
tương... song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công
chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm,
ông cả... cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất
định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được
bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có
tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường
là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi
có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”.
Đặc điểm của các làng nghề
công tinh xảo. việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong
các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. sau hoà bình
lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra
đời, làm cho phương thức truyền nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính
đa dạng và phong phú hơn.
Năm là, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có
tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. các sản phẩm làng nghề
truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản
phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công
sở nhà nước... các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo
với sự sáng tạo nghệ thuật. cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt
được đâu là gốm sứ bát tràng (hà nội), thổ hà (bắc ninh), đông triều (quảng ninh). từ
những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các hoạ
tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu... tất cả đều mang vóc
8
dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về
nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa
phương, tại chỗ và nhỏ hẹp. bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng
nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ
của các địa phương. ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ
dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. cho đến nay,
thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên
tỉnh và một phần cho xuất khẩu.
Hiện nay, Tính nông nghiệp và quan hệ làng xã Việt Nam, các ngành nghề
thủ công được lựa chọn và dễ phát triển trong quy mô cá nhân rồi mở rộng thành
quy mô gia đình. Dần dà, các nghề thủ công được truyền bá giữa các gia đình thợ
hữu và sản phẩm gia tăng
1.1.1.3 Khái niệm cạnh tranh và NLCT sản phẩm của làng nghề truyền thống
● Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác
nhau nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh, đặc điểm là phạm vi của thuật
ngữ này.
Một vài quan điểm về cạnh tranh như sau:
Theo C.Mác “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư
bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa
để thu được những lợi nhuận siêu ngạch”.
Cuốn từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa “Cạnh tranh là sưh ganh đua,
sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài
nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
Theo từ điển bách khóa của Việt Nam thì “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa
những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các là kinh dianh trong nền
kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất,
tiêu thụ thị trường có lợi nhất”.
Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì “Cạnh tranh là sự kình địch giữa
các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành lấy khách hàng, thị trường”.
10
Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là
quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường
là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị
trường có lợi, mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh
là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người
tiêu dùng là lợi ích và sự tiện lợi.
● Vai trò của cạnh tranh
việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ:
Là tất cả các đặc trưng, yếu tố cấu thành và tiềm năng và sản phẩm dịch vụ
đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thị trường cạnh tranh một cách lâu
dài. NLCT của sản phẩm được đo bằng thị phần của SP/DV thể hiện trên thị trường.
khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó.
Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa
trong SP/DV đó.
Giữa ba cấp độ NLCT có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều
kiện cho nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh NLCT cao phải có nhiều doanh
nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh. Ngược lại, để tạo điều kiện cho DN có khả
năng cạnh tranh, môi trường KD của nền kinh tế thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ
mô phải rõ ràng, có thể đưa ra nhiều dự báo được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy
quản lý nhà nước phải có tính chuyên nghiệp phù hợp, hoạt động có hiệu quả.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua hiệu quả KD của
DN.NLCT của mỗi DN là cơ sở cho NLCT của ngành và quốc gia. Đồng thời,
NLCT của DN thể hiện qua NLCT của các SP/DV mà DN kinh doanh. DN có thể
kinh doanh một hay một số sản phẩm, mỗi SP/DV này lại có NLCT khác nhau.
NLCT của sản phẩm phụ thuộc vào chính sách quốc gia, vào năng lực hoạt động
của DN.
1.1.1.4 Khái niệm và thực chất năng lực cạnh tranh sản phẩm
Theo M.Porter: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh là
tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh
nghiệp đang có, kết quả của quá trình canh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận
trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
12
Từ điển kinh doanh của Anh định nghĩa như sau: “ Cạnh tranh trong cơ chế
Theo WEF (1997) báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu: “NLCT” được
hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu
dài và có ý trí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít
nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu doanh nghiệp, đồng thời đạt được
những mục tiêu đề ra.
NLCT của sản phẩm: Là tất cả các đặc trưng, yếu tố cấu thành và tiềm năng
mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thị trường cạnh
tranh một cách lâu dài. NLCT của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm
thể hiện trên thị trường, khả năng cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào lợi thế
cạnh tranh của nó, nó dựa vào chất lương, tính độc đáo của sản phẩm, yếu tố công
nghệ chứa trong sản phẩm đó
Ủy ban Quốc Gia về hợp tác kinh tế quốc tế cho rằng: NLCT là năng lực của
một doanh
nghiệp là “Không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Quan niệm về NLCT như vậy mang tính chất định hình, khó có thể định lượng
- Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) NLCT của doanh
nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố có
hiệu quả làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc
tế. Theo M.Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về NLCT, tuy
nhiên những quan niệm này gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của tổ
chức.
- Theo GS.TS Nguyễn Bách Khoa “NLCT của doanh nghiệp được hiểu là
tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phat triển thị phần, lợi nhuận
và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong mối quan hệ với đối thủ
cạnh tranh trực tiếp và tiềm năng trên thị trường mục tiêu xác định
- NLCT của doanh nghiệp: Là sử dụng, liên kết các nguồn lực hữu hình và
vô hình của doanh nghiệp nhằm duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc
hàng.
Theo đó trước khi quyết định mua sản phẩm ĐGNT, người mua sẽ tìm hiểu
về những ứng dụng cụ thể của sản phẩm, độ tin cậy, độ bền vững, những tính năng
nhất định cũng như những dịch vụ kèm theo, sự hiểu biết và nhiệt tình của nhân
viên tư vấn. Tuy nhiên, không phải sản phẩm nào đạt được những yếu tố trên tốt
15
nhất cũng được lựa chọn mua. Người mua còn xem xét tổng chi phí phải bỏ ra để
thực hiện giao dịch với doanh nghiệp. Tổng chi phí mà khách hàng phải trả còn lớn
hơn chi phí tiền bạc, nó bao gồm cả những phí tổn thời gian, sức lực và tinh thần
người mua bỏ ra. Người mua đánh giá những phí tổn này cùng với chi phí tiền bạc
để có được một ý niệm về tổng chi phí của khách hàng.
Hình 1.2: Các yếu tố cầu quyết định giá trị cung ứng cho khách hàng
[Philip Kotler, Quản trị kinh doanh]
Như vậy giá trị cung ứng cho khách hàng không chỉ đơn thuần là những giá trị/lợi
ích nằm trong bản thân SP/DV. Nó bao gồm tất thảy những giá trị hữu hình và vô
hình, giá trị được sáng tạo ra trong sản xuất, miễn là những giá trị này mang lại lợi
ích cho khách hàng.
1.1.2.2 Mô hình quản trị QTC và sự vận dụng trong nâng cao NLCT sản phẩm
- Q trong QTC là quanlity – chất lượng, cần có quan điểm đổi mới và hỗn hợp về
chất lượng marketing sản phẩm. Về bản chất, chất lượng marketing sản phẩm là hệ
chỉ tiêu đánh giá mức tương thích và thỏa mãn các yếu tố cơ bản và hỗn hợp của
nhu cầu và tiêu dùng sản phẩm qua con đường thị trường
- Chữ T trong QTC là tính hợp thời của sản phẩm trên thị trường (Just in Time). Ở
đây tính hợp thời được hiểu là “độ chín tới đầy đủ”, “độ chuẩn bị sẵn sàng”, “sự có
mặt đúng lúc” của sản phẩm được chào hàng, có khách hàng, cường độ mua hàng
cao nhất. Như vậy tính hợp thời của sản phẩm tương ứng với điểm cực trị của thời
cơ thị trường, tính phổ biến thực hiện chức năng tối đa của thái độ chung của tập
chức và vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta nói chung đều cần thiết nhận
thức và vận dụng phù hợp.
1.2 Phương pháp luận nghiên cứu và xác định NLCT sản phẩm của làng nghề
truyền thống
Khi nghiên cứu về NLCT thì người ta có thể phân biệt năng lực cạnh tranh
thành 3 cấp độ:
● Năng lực cạnh tranh quốc gia:
- Theo Lương Gia Cường ( Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, 2003, NXB
Giao thông vận tải): “Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực
17
cạnh tranh của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư,
đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân”
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sử dụng, liên kết các nguồn lực hữu
hình và vô hình của DN nhằm duy trì lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản
phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất
nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. NLCT của doanh nghiệp thể hiện thực lực
của doanh nghiệp và lợi thế so với ĐTCT trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi
của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ là tất cả các đặc trưng, yếu tố cấu
thành và tiềm năng mà sản phẩm, dịch vụ đó có thể duy trì phát triển vị trí của mình
trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài, NLCT sản phẩm được đo bằng thì phần
SP/DV thể hiện trên thị trường, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ thuộc
vào lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm,
dịch vụ, yếu tố công nghệ.
Giữa 3 cấp độ NLCT có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện
cho nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có NLCT cao phải có nhiều doanh
nghiệp có khả năng cạnh tranh mạnh. Ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp
kinh tế (OECD) NLCT của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao
trên cơ sở sử dụng các yếu tố có hiệu quả làm cho DN phát triển bền vững trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế.
-
NLCT đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, tác giả
Vũ Trọng Lâm cho rằng năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo dựng, duy trì,
sử dụng và sáng tạo với các lợi thế cạnh tranh của DN.
Cho đến nay quan niệm về NLCT của DN vẫn chưa thống nhất, để có thể đưa ra
về quan niêm NLCT của DN phù hợp, cần lưu ý thêm một số vấn đề, bối cảnh và
trình độ phát triển của từng thời kỳ. Như trước đây, NLCT thường đồng nghĩa với
việc bán được nhiều hàng hơn đối thủ, hay như NLCT được thể hiện ở thị phần
chiêm giữ của DN về một loại sản phẩm nào đó. Ngày nay, hoạt động kinh doanh
được mở rộng không chỉ ở những lĩnh vực thương mại hàng hóa/dịch vụ mà còn
trên các lĩnh vực thương mại các hoạt động đầu tư sở hữu trí tuệ
Theo GS.TS. Nguyễn Bách Khoa cho rằng “Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nôi lực để duy trì và phát triển
thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong mối
quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu
xác định”.
● Năng lực cạnh tranh Marketing
Mỗi DN đều dựa trên nguồn lực hữu hình, vô hình của mình và sự liên kết của
các nguồn lực này để xây dựng và tạo lập nên nhiều NLCT khác nhau. Nhưng
không phải tất cả các NLCT đều đảm bảo cho DN được lợi thế cạnh tranh. Điều
19
20
hợp nhất với mình và có sự so sánh với các sản phẩm cùng loại. Bởi vậy, sản phẩm
có thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định
lựa chọn mua hàng và nâng cao NLCT của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm làm tăng uy tín, danh tiếng và hình ảnh của DN trên thị
trường, điều này có tác động rất lớn tới quyết định lựa chon mua và dùng các sản
phẩm của khách hàng.
Chất lượng sản phẩm cao là cơ sở cho hoạt động duy trì và mở rộng thị trường
tạo ra sự phát triển bền lâu, bền vững cho các DN.
Nâng cao chất lượng sản phẩm giúp người tiêu dùng tiết kiệm được chi phí, sức lực,
còn là giải pháp quan trọng để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thua và
lợi nhuận.
Chất lượng sản phẩm là cơ sở quan trọng cho việc đẩy mạnh quá trình hội nhập,
giao lưu kinh tế và mở rộng trao đổi thương mại của các DN.
Tóm lại, trong điều kiện ngày nay, chất lượng sản phẩm là cơ sở quan trọng trong
việc thúc quá trình hội nhập, giao lưu kinh tế và mở rộng trao đổi thương mại quốc
tế của các DN Việt Nam, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến nâng cao
NLCT, khẳng định vị thế của sản phẩm và sức mạnh kinh tế của đất nước.
1.2.2 Gía bán sản phẩm
Gía cả sản phẩm là một yếu tố quan trọng tạo nên NLCT của sản phẩm. Ngày
nay, khoa học kỹ thuật đã phát triển với trình độ cao, chất lượng sản phẩm của các
DN tương đối giống nhau thì giá cả là yếu tố trở nên hấp dẫn, vì vậy các DN phải
tính toán, định ra làm sao khi sản phẩm đưa ra thị trường phải được khách hàng
chấp nhận và đạt được lợi thế hơn so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh.
Việc định giá là tổng hòa các tính toán về chi phí sẽ phải trả khi giao hàng và hỗ
trợ các hoạt động về giá, phụ thuộc vào vị thế của DN trên thị trường, sự độc đáo
của sản phẩm và số lượng các sản phẩm tương tự của các đối thủ cạnh tranh.
Thông thường các DN mới thực hiện hoạt động áp dụng một phương pháp thiết lập