Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Học viên
Trần Thị Liên
Lớp KTMT 2012B
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
LỜI CẢM ƠN!
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với thầy
GS.TS. Nguyễn Văn Khôi, Viện Hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam đã tiếp nhận tôi vào thực tập tại viện, tận tình hướng dẫn, góp ý và động
viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới NCS. Trần Vũ Thắng, cán bộ Viện Hóa
học đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình thực tập và xây dựng báo cáo.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các anh chị phòng Vật liệu polyme Viện Công Nghệ Môi trường đã đóng góp nhiều ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi hoàn thành luận văn; các thầy cô trong Viện Khoa học Công nghệ và Môi
trường – trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi
EDTA:
Ethylenediaminetetraacetic acid
IUPAC:
International
Union
of
Pure
and
Applied
Chemistry
IR:
Phổ hồng ngoại
MBA:
N,N’- metylenebisacrylamit
PAA:
MỤC LỤC................................................................................................................4
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................6
1.1.1. Ô nhiễm kim loại trong nước thải công nghiệp ...........................................................2
Tổng hợp poly(acrylamit).........................................................................................19
Hình 1.4: Nhóm chức hydroxamic ở dạng tautome hóa giữa xeton và enol........21
1.2.4.2. Tương tác tĩnh điện giữa proton của polyme và ion kim loại [28]..................23
CHƯƠNG II : THỰC NGHIỆM...........................................................................31
2.4.1. Xác định độ chuyển hoá bằng phương pháp chuẩn độ nối đôi......................34
2.4.2. Xác định trọng lượng phân tử bằng phương pháp đo độ nhớt ......................36
Xác định trọng lượng phân tử của PHA bằng thiết bị GPC.....................................39
2.5. Phương pháp tiến hành tạo phức polyme – kim loại [19,20]........................................39
2.6. Các phương pháp phân tích đánh giá mức độ tương tác polyme – kim loại[2]............41
CHƯƠNG III : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.......................................................43
3.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian phản ứng đến quá trình tổng hợp polyme.
..................................................................................................................................43
3.2. Quá trình tương tác của polyme với các ion kim loại...................................................45
3.2.1. Quá trình tương tác của poly(acrylamit) với các ion kim loại...................................45
3.2.2. Quá trình tương tác của poly(acrylic axit) với các ion kim loại..............................48
3.2.3. Quá trình tương tác của poly(hydroxamic axit) với các ion kim loại.......................50
3.3. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tương tác của ion kim loại với Polyme.
53
3.3.1. Ảnh hưởng của KLPT tới quá trình tương tác của polyme với ion kim loại.............53
3.3.2. Ảnh hưởng của pH tới quá trình tương tác của các polyme với ion kim loại............55
Hình 3.18: Ảnh hưởng của pH tới khả năng tương tác với các ion kim loại của
poly(hydroxamic axit)............................................................................................57
Hình 3.21: Mức độ tương tác với các ion kim loại theo thời gian của PHA........60
Poly(acrylic axit)............................................................ Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến trọng lượng phân tử trung bình củaError:
Reference source not found
Poly(acrylamit)............................................................... Error: Reference source not found
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến trọng lượng phân tử trung bình của
Poly(hydroxamic axit)....................................... Error: Reference source not found
Bảng 3.4: Kết quả xử lý kim loại bằng polyme ưa nước tại công ty TNHH điện
tử Yesun..................................................................................................................................
Error: Reference source not found
Lớp KTMT 2012B
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT........................................................................3
MỤC LỤC................................................................................................................4
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................6
1.1.1. Ô nhiễm kim loại trong nước thải công nghiệp ...........................................................2
Tổng hợp poly(acrylamit).........................................................................................19
Hình 1.4: Nhóm chức hydroxamic ở dạng tautome hóa giữa xeton và enol........21
1.2.4.2. Tương tác tĩnh điện giữa proton của polyme và ion kim loại [28]..................23
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
Lớp KTMT 2012B
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường hiện nay đã trở thành mối quan tâm của toàn cầu.
Nguyên nhân là do sự phụ thuộc của con người vào môi trường tự nhiên nhằm đáp
ứng các nhu cầu trong cuộc sống. Sự tương tác này đã tác động tiêu cực đến môi
trường và tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời sự phát triển nhanh chóng của các
nghành kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ … vượt khả năng phục hồi
của môi trường. Hơn nữa, sự phát triển toàn cầu làm tăng những thách thức mới
trong bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên. Nước là nguồn phổ biến nhất
bị ô nhiễm bởi các hoạt động khác nhau của con người. Một trong những vấn đề
môi trường quan trọng nhất liên quan đến ô nhiễm nguồn nước trên toàn thế giới là
ô nhiễm bởi các ion kim loại nặng.
Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp nhưng hoạt động công nghiệp
đem lại 20% GDP. Nhịp độ phát triển công nghiệp nhanh. Sự phát triển trong hoạt
động công nghiệp đang vượt sự phát triển của cơ sở hạ tầng.
Zn,... chúng có nguồn gốc từ các nguồn nước thải trong công nghiệp, nông nghiệp
cũng như trong tự nhiên như: cadimi có nguồn gốc từ chất thải công nghiệp, trong
chất thải khi khai thác quặng. Crôm xuất hiện trong công nghiệp mạ hay chì trong
công nghiệp than, dầu mỏ. Thuỷ ngân trong chất thải công nghiệp khai thác khoáng
sản, thuốc trừ sâu. Chúng đều có những tác hại nhất định như As có thể gây ung
thư, Cd có thể gây ra huyết áp cao, đau thận phá huỷ các mô và tế bào máu, chì rất
độc ảnh hưởng tới thận và thần kinh hay thuỷ ngân là một kim loại rất độc. Các kim
loại này khi thải vào nước làm cho nước bị nhiễm bẩn mất đi một số tính chất hoá lý
đặc biệt cũng như những tính chất và thành phần thay đổi làm ảnh hưởng xấu đến
môi trường sinh thái và sức khoẻ con người [1].
Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi
trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý
không đạt yêu cầu.
Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực
nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản.
Ô nhiễm kim loại nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại nặng trong nước.
Hầu hết các kim loại nặng tồn tại trong nước ở dạng ion. Chúng phát sinh từ
nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu là từ các hoạt động công nghiệp. Khác với
các chất thải hữu cơ có thể tự phân hủy trong đa số trường hợp, các kim loại nặng
khi đã phóng thích vào môi trường thì sẽ tồn tại lâu dài. Chúng tích tụ vào các mô
sống qua chuỗi thức ăn mà ở đó con người là mắt xích cuối cùng. Quá trình này bắt
đầu với những nồng độ rất thấp của các kim loại nặng tồn tại trong nước hoặc cặn
lắng, rồi sau đó được tích tụ nhanh trong các động vật và thực vật sống trong nước.
Lớp KTMT 2012B
2 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
a. Phương pháp đông keo tụ [35]
Lớp KTMT 2012B
3 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
Các chất lơ lửng trong nước được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau
để cung cấp nước có chất lượng phù hợp cho sinh hoạt và yêu cầu công nghiệp nhất
định. Các chất lơ lửng có thể bao gồm các chất rắn lớn có thể lắng nhờ tác dụng của
trọng lực, và các chất rắn không thể lắng thường là các hạt keo trong tự nhiên. Để
loại bỏ chúng người ta thường sử dụng phương pháp đông keo tụ.
Đông tụ là quá trình trung hòa điện tích, còn quá trình tạo thành các bông lớn
hơn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ. Đông tụ có thể được thực hiện thông qua
việc bổ sung các muối vô cơ của nhôm hoặc sắt. Các muối vô cơ trung hòa điện tích
trên các hạt lơ lửng trong nước, và cũng có thể thủy phân để tạo thành kết tủa. Quá
trình đông tụ cũng có thể được thực hiện bằng việc bổ sung các polyme hữu cơ hòa
tan trong nước với rất nhiều các vị trí bị ion hóa để trung hoà điện tích.
Quá trình keo tụ có thể được tăng cường bằng việc bổ sung các hợp chất cao
phân tử như các polyme hữu cơ hòa tan. Các polyme có tác dụng làm tăng kích
thước của các hạt keo để tạo thành bông keo.
Nguyên tắc phương pháp
Khi ta đưa vào nước muối kim loại hóa trị III có thể thủy phân, ví dụ như:
một muối sắt hoặc muối nhôm. Việc thêm vào này trước hết gây ra sự tăng nhẹ một
lực ion, đồng thời cũng làm biến đổi pH vì xảy ra sự acid hóa của môi trường (do sự
thủy phân) ở liều lượng thích hợp của các muối này, sự thủy phân diễn ra hoàn toàn
Al2(SO4)3.18H2O,
AlCl3.6H2O
và
muối
sắt:
5 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
Fe2(SO4)3.nH2O, FeCl.6H2O, FeClSO4. Tuy nhiên muối nhôm và sắt khi cho trực
tiếp sẽ bị thủy phân tạo thành các oxo-hydroxid tan và không tan đồng thời kèm
theo sự giải phóng proton làm giảm pH của môi trường, do vậy để khắc phục hạn
chế này người ta đang tìm ra một loại polyme vô cơ mới để thay thế như: Đầu tiên
là PAC (polyaluminium chloride) và PEC (polyferric chloride). Các thử nghiệm đều
cho thấy cả PAC và PFC đều đạt hiệu quả xử lý cao về độ đục, kim loại nặng, COD
và đều cho thấy khả năng xử lý trội hơn khi ở nhiệt độ thấp và trong việc xử lý nước
thải. Sau đó là sự ra đời của một số sản phẩm mới như: PAS (polyaluminium
sulfat), PASS (polyaluminium silicate sulfat), PFS (polyferric sulfat), PAFS
(polyaluminium ferric sulfat).
Một số chất keo tụ hữu cơ (Polyelectrolytes): gồm hai loại là polyme tổng
hợp và polyme tự nhiên.
Polyme tự nhiên: tinh bột, xenlulozo...
Mn+ +Am =MmAn↓ (kết tủa)
Kết tủa tạo thành khi:
[M] m.[A] n ≥ Tt MA
Trong đó :
Mn+ : ion kim loại
Tt
Am- : tác nhân gây kết tủa
: tích số tan.
Trong phương pháp này người ta có thể sử dụng nhiều tác nhân để tạo kết
tủa như: S2-, SO42-, PO43-, Cl-, OH- ... nhưng trong đó S2-, OH- được sử dụng nhiều
nhất vì nó có thể tạo kết tủa dễ dàng với hầu hết các kim loại, còn các ion PO 43-,
SO42-, Cl-... chỉ tạo kết tủa với một số các ion kim loại nhất định do vậy chúng chỉ
được dùng khi dòng thải chứa đơn kim loại hoặc một vài kim loại nhất định.
Đối với mỗi kim loại khác nhau có pH thích hợp để kết tủa khác nhau tùy
thuộc vào khả năng tạo kết tủa của M(OH) n và tùy thuộc vào nồng độ các kim loại
có trong nước thải cần xử lý.
Trong nước thải các kim loại thường tồn tại dưới dạng ion ở nhiều dạng khác
nhau, có những hợp chất hoặc chất dễ kết tủa nhưng có những chất khó kết tủa hoặc
cực độc hại như các hợp chất của Cr6+ thì ta phải tiến hành xử lý biến đổi các chất
đó về dạng ít độc hơn và dễ kết tủa hơn
Ngoài ra để xử lý kim loại nặng trong nước bằng phương pháp kết tủa có
hiệu quả thì ta cần phải chuyển các kim loại khó có khả năng kết tủa với tác nhân
Lớp KTMT 2012B
7 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Lớp KTMT 2012B
8 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
Nguyên tắc của phương pháp
Trao đổi cation
RA + B+ = RB + A+
Đối với trao đổi kim loại thì B+ là các ion kim loại như: Ni2+, Cu2+, Cr3+, Fe2+...
Trao đổi anion
RA + B- = RB + AĐối với trao đổi kim loại nặng thì B- có thể là: Cr2O72- , MoO42- ....
Khi kim loại nặng tiếp xúc với chất trao đổi ion thì sẽ xảy ra quá trình trao
đổi ion giữa dung dịch và chất trao đổi ion.
Quá trình tái sinh
Các cation được tái sinh bằng dung dịch kiềm, và sau đó cũng được nạp điện
tích bằng muối ăn NaCl, lúc đó các ion Cl - sẽ thay thế các ion OH- đẩy các ion OHvào dung dịch.
Ưu nhược điểm của phương pháp
* Ưu điểm:
+ Khả năng trao đổi ion lớn, do vậy xử lý rất hiệu quả đối với kim loại nặng. Đây là
một trong những phương pháp tốt nhất trong xử lý kim loại nặng.
+ Đơn giản, dễ sử dụng.
+ Thích hợp để xử lý nước thải có chứa nhiều hơn một kim loại.
+ Không gian xử lý nhỏ.
+ Có khả năng thu hồi các kim loại có giá trị.
+ Không tạo ra chất thải thứ cấp.
+ Anot thường làm bằng các vật liệu không hòa tan, và có tính chất điện phân
như: graphit, macnetit, dioxyt mangan...
- Ở catot: khi cho dòng điện chạy qua dung dịch thì cation và H + sẽ tiến về bề
mặt catot. Nếu thế phóng điện của cation lớn hơn của H + thì cation sẽ thu electron
của catot chuyển thành các ion ít độc hơn hoặc tạo thành kim loại bám vào điện cực.
Lớp KTMT 2012B
10 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
Mn+ + me = Mn-m ( n >m)
Mn+ + ne = Mr
Ngược lại thì :
2H3O+ +2e = H2 + 2H2O
+ Catot thường được làm bằng molipden, hợp kim của vonfram với sắt hay
Niken, từ than chì (graphit), thép không rỉ, và các kim loại khác được phủ lớp
molipden, vonfram hay hợp chất của chúng.
+ Trong quá trình sử dụng phương pháp điện hóa ta cũng cần phải chú ý tới
quá thế, đặc biệt là quá thế của hidro. Quá thế của hidro phụ thuộc vào nhiệt độ T,
mật độ dòng, bản chất của chất làm điện cực, trạng thái bề mặt điện cực... nên nếu
ta biến đổi các yếu tố này thì thứ tự phóng điện của các ion có thể thay đổi.
Ưu nhược điểm của phương pháp
* Ưu điểm:
Ưu nhược điểm của phương pháp
* Ưu điểm:
+ Không sử dụng hóa chất
+ Có thể thu hồi kim loại quý hiếm
+ Không thải ra chất ô nhiễm thứ cấp
* Nhược điểm:
+ Chi phí cao
+ Xứ lý không hiệu quả đối với các kim loại có hóa trị lớn, do vậy xử lý kim loại
nặng kém, chỉ ứng dụng để xử lý nước mặn thành nước ngọt
+ Tốn điện năng
f. Phương pháp hấp phụ [31]
Hấp phụ là quá trình hút khí, hơi hoặc chất hòa tan trong chất lỏng lên bề
mặt chất rắn xốp gọi là quá trình hấp phụ
Phương pháp hấp phụ là một trong những phương pháp phổ biến nhất trong
xử lý nước thải nói chung và nước thải chứa kim loại nói riêng. Phương pháp hấp
phụ được sử dụng khi xử lý nước thải chứa hàm lượng chất độc hại không cao. Quá
trình hấp phụ kim loại nặng xảy ra giữa bề mặt chất lỏng của dung dịch chứa kim
loại nặng và bề mặt rắn.
Lớp KTMT 2012B
12 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
Hiện nay người ta đã tìm ra nhiều loại vật liệu có khả năng hấp phụ kim loại
nặng như: than hoạt tính, than bùn, các loại vật liệu vô cơ như: oxit sắt, oxit
Trần Thị Liên
* Nhược điểm:
+ Thường chỉ áp dụng cho xử lý kim loại ở nồng độ thấp
+ Chi phí xử lý vẫn còn cao
1.1.2.2. Xử lý ô nhiễm kim loại nặng bằng các phương pháp sinh học [16]
Phương pháp sinh học là một trong những phương pháp đầy hứa hẹn mang
lại nhưng hiệu quả tích cực cho việc xử lý kim loại nặng. Đặc biệt tại Việt Nam
ngày càng có nhiều hơn các công trình ngiên cứu về ứng dụng của phương pháp
sinh học trong xử lý nước thải có chứa kim loại nặng. Sở dĩ phương pháp sinh học
đang ngày càng được quan tâm bởi vì những ưu điểm nổi trội của nó so với các
phương pháp khác như: tính gần gũi với tự nhiên, ít tạo ra các ô nhiễm thứ cấp, đặc
biệt là rẻ tiền vì có thể tận dụng các loài sinh vật trong tự nhiên. Nhiều các loài sinh
vật trong tự nhiên đã được các nhà khoa học phát hiện và ứng dụng trong xử lý
nước thải kim loại.
Nguyên tắc chung
Hiện nay, phương pháp sinh học xử lý nước thải có chứa kim loại nặng có 2
phương pháp xử lý chính:
+ Hấp thu sinh học: Phương pháp hấp thu sinh học là phương pháp sử dụng các loài
sinh vật trong tự nhiên hoặc các loại vật chất có nguồn gốc sinh học có khả năng
giữ lại trên bề mặt hoặc thu nhận vào bên trong các tế bào của chúng các kim loại
nặng độc hại, khi mà đưa chúng vào môi trường nước thải có chứa kim loại nặng.
Hiện nay người ta đã tìm ra nhiều loài sinh vật có khả năng hấp thụ các kim loại
như thực vật thủy sinh, bèo lục bình, rong đuôi chó, bèo tấm, bèo ong, các loài tảo,
vi tảo, nấm ...
+ Chuyển hóa sinh học : xử lý kim loại nặng bằng phương pháp chuyển hóa sinh
học có thể theo hai cách sau:
Các vi sinh vật (enzyme) trực tiếp chuyển hóa các kim loại nặng ở dạng độc
về dạng ít độc hơn hoặc không độc.
vào giai đoạn xử lý cấp 2, cấp 3.
+ Ngoài các phương pháp được nêu trên còn có một số các phương pháp khác là
phương pháp màng, phương pháp trích ly, phương pháp quang hóa...Tuy nhiên các
phương pháp này thường không được ứng dụng nhiều trong xử lý nước thải công
nghiệp chứa kim loại nặng bởi hiệu quả xử lý không cao và giá thành đắt.
Lớp KTMT 2012B
15 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Luận văn thạc sỹ
Trần Thị Liên
1.1.3. Vấn đề xử lý kim loại nặng trong nước thải tại Việt nam
Nước thải nhiễm kim loại nặng từ các cơ sở công nghiệp là nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường nước mặt. PTS Đặng Đình Kim và cộng sự [6] dựa trên đặc tính
kim loại nặng được tích luỷ bởi tế bào sinh vật trong môi trường để tiến hành xử lý
nước ô nhiễm kim loại nặng. Khâu then chốt là tìm được chất hấp thụ thích hợp cho
từng kim loại nặng muốn loại bỏ. Các chế phẩm từ BIOSPRB-P1.BIOSPRB-E1 do
viện công nghệ sinh học tạo ra chỉ sau 1 giờ đã hấp thụ từ 90-97 % lượng Pb trong
môi trường với nồng độ ban đầu 100mg/l. Một số chế phẩm khác cũng cho kết quả
tương đối khả quan loại bỏ các kim loại nặng như Cr, Ni, Cu, Zn.
Bùi Minh Lý và cộng sự [9] cho thấy rong biển ở nước ta vừa là chỉ thị ô
nhiễm kim loại vừa có khả năng hấp thụ mạnh mẽ các nguyên tố vi lượng trong
nước biển. Kết quả nghiên cứu rong biển lấy từ Đà Nẵng đến Kiên Giang cho thấy
hầu hết các mẫu rong đều thể hiện khả năng hấp thụ các nguyên tố vi lượng với hệ
số tích tụ cao, trong đó rong nâu là có nhiều khả năng hơn cả nên có thể ứng dụng
để xử lý nhiễm bẩn môi trường bởi kim loại nặng.
hơn Ach. Khả năng hấp phụ này giảm dần theo dãy Cu(II) > Cd(II) > Ni(II). Độ bền
hoạt tính xúc tác Cu(II)/CMCh cao hơn Cu(II)/Ach, do vậy CMCh và các phức kim
loại của nó có thể được sử dụng để xử lý nước thải chứa ion kim loại và các hợp
chất chứa lưu huỳnh [37].
Các phương pháp trên đây mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm
riêng cũng như phạm vi ứng dụng riêng của nó, tuy nhiên nhằm khắc phục tình
trạng ô nhiễm và đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cấp bách phải có những biện pháp xử lý
nước thải kim loại nặng đạt hiệu quả và phải phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của
các nhà máy ở Việt Nam như: diện tích xử lý nhỏ, hiệu quả xử lí tốt, và đặc biệt là
phải rẻ tiền. Do đó để có thể thực hiện được những tiêu chí trên việc nghiên cứu
“ tương tác giữa polyme ưa nước với kim loại nặng” được tiến hành nhằm mục
đích xử lý kim loại nặng trong nước thải công nghiệp bằng tác nhân là polyme và
nước.
1.2. Tổng quan về polyme ưa nước
1.2.1. Polyme [23,25].
Polyme là các hợp chất tự nhiên hoặc tổng hợp thường có trọng lượng phân
tử lớn. Chúng là các phân tử rất lớn (đại phân tử) được xây dựng từ các đơn vị nhỏ
là monome.
Hoá học Polyme là một lĩnh vực phát triển nhanh chóng của hoá học vật liệu.
Polyme được biết đến với khả năng ứng dụng rộng rãi và chi phí thấp. Chúng được
sử dụng trong một số nghành như xử lý nước thải, loại bỏ kim loại độc hại và làm
giàu kim loại quý từ chất lỏng thủy luyện.
Lớp KTMT 2012B
17 Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường