Luận văn thạc sỹ Quản lý hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ của công ty bảo hiểm PJICO - Pdf 34

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Thủy


ii

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6

Tên viết tắt
BH
BHPNH
CTCP
DNBH
PJICO
TNDS


DANH MỤC BẢNG
Danh sách các cổ đông sáng lập của Công ty PJICO
Doanh thu thuần hoạt động kinh doanh bảo hiểm của PJICO
Tổng hợp các chỉ số cơ bản của Pjico từ năm 2009 - 2013
Cơ cấu doanh thu các nghiệp vụ bảo hiểm gốc phi nhân thọ của
Số lượng cán bộ công nhân viên và đại lý của công ty Pjico
Số hợp đồng khai thác bảo hiểm con người của công ty Petrolimex
Chi phí giám định của PJICO giai đoạn 2009-2013.
Hiệu quả khâu giám định của PJICO giai đoạn 2009-2013.
Chi bồi thường của PJICO giai đoạn 2009 – 2013.
Tình hình chi đề phòng hạn chế tổn thất nghiệp vụ bảo hiểm phi
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Quy trình khai thác bảo hiểm phi nhân thọ ở Pjico
Sơ đồ tổ chức cơ cấu bộ máy hoạt động
Sơ đồ miêu tả kênh phân phối sản phẩm trực tiếp ở công ty Pjico
Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm gián tiếp của Pjico
DANH MỤC BIỂU
Thị phần nghiệp vụ BH hàng hóa vận chuyển của các DNBH
Biểu đồ thể hiện tỷ trọng đóng góp vào doanh thu của các nghiệp vụ

Trang
37
42
45
47
52
53
54
55
56

mới vào thị trường bảo hiểm Việt Nam với những thành tựu kinh doanh đáng kể,
chiếm được cảm tình và niềm tin của đông đảo khách hàng trong đó có rất nhiều
khách hàng lớn. Có thể nói vị thế của PJICO ngày càng được khẳng định và nâng
cao trên thị trường, là một địa chỉ đáng tin cậy cho nhiều tổ chức cá nhân tìm đến để
đảm bảo an toàn, bình yên cho việc kinh doanh và cuộc sống của họ. Tuy nhiên
trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, đặc biệt là năm
2008 này theo cam kết gia nhập WTO thì không còn rào cản phân biệt giữa doanh
nghiệp bảo hiểm Việt Nam và doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài. Để
có thể giữ vững và nâng cao hơn nữa vị thế của mình đòi hỏi công ty phải có sự
chuẩn bị về mọi mặt để chủ động cạnh tranh trên thị trường. Vì thế mà quản lý hoạt


2

động kinh doanh giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường, nó
có tác dụng giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để củng cố,
phát huy hoặc khắc phục, cải tiến quản lý. Phát huy mọi tiềm năng của thị trường,
khai thác tối đa nguồn lực của doanh nghiệp, nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong
kinh doanh. Mặt khác, hiện nay hoạt động quản lý kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ của công ty Pjico cung gặp nhiều bất cấp, đặc biệt là những vấn đề liên quan
đến giám định bồi thường.
Xuất phát từ đòi hỏi thiết thực khách quan đó em đã chọn đề tài: “Quản lý
hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ của công ty bảo hiểm PJICO” để nghiên cứu
tìm hiểu.
2. Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Với mảng đề tài về bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm phi nhân thọ hiện nay đã
có nhiều đề tài nghiên cứu như:
Trần Hùng Tiến (2010) “Nâng cao năng lực cạnh tranh của bảo hiểm phi nhân
thọ Việt Nam trong thời gian gần đây” Luận văn thạc sỹ, Đại học Lao động xã hội
Tác giả Trần Hùng Tiến, đã có những đánh giá chi tiết về thực trạng cạnh tranh

công ty bảo hiểm.
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Do điều kiện nghiên cứu có hạn, luận văn chủ yếu tạp trung vào
nghiên cứu hoạt động quản lý bảo hiểm phi nhân thọ trên ba phần chính là: Hoạt động
khai thác, công tác giám định bồi thường và công tác giải quyết khiếu nại.
Về không gian: Đề tài nghiên cứu về hoạt động quản lý của Pjico trên địa
bàn cả nước.
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về bảo hiểm phi nhân
thọ của Pjico từ năm 2009 đến 2013.
4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, luận văn hướng tới một số mục
tiêu nghiên cứu như sau:
Hệ thống hóa lý luận về quản lý bảo hiểm phi nhân thọ
Đánh giá thực trạng quản lý bảo hiểm phi nhân thọ tại công ty bảo hiểm
PJICO qua một số chỉ tiêu phân tích


4

Nghiên cứu thực trạng quy trình kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại công
ty bảo hiểm PJICO. Từ đó đề ra các biện pháp tăng cường kết hợp cho các mảng
nghiệp vụ quản lý hướng tới việc tạo ra tiến trình triển khai bảo hiểm phi nhân thọ
hiệu quả nhất.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mac - Lenin, đây là hai phương pháp làm cơ sở cho các phương
pháp khác cụ thể như sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu:
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: chủ yếu được thu thập từ các nguồn
sau: Các báo cáo về tình hình kinh doanh của các phòng, ban, liên quan đến bảo

của công ty bảo hiểm PJICO


6

Chương 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BẢO HIỂM PHI NHÂN
THỌ CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM
1.1. KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
1.1.1. Bảo hiểm phi nhân thọ
a) Khái niệm bảo hiểm phi nhân thọ
Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này
một người , doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo
hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi
bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”.
Theo Monique Gaultier – Pháp, bảo hiểm phi nhân thọ có thể được định
nghĩa theo cách tiếp cận về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý là: “ Bảo hiểm phi nhân
thọ là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một
khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro.
Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ
các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo phương pháp thống kê”.
Theo luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam năm 2005 giải thích về thuật ngữ
bảo hiểm phi nhân thọ như sau: “Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm
tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm
nhân thọ”.
b) Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ
Sản phẩm của bảo hiểm phi nhân thọ là sản phẩm vô hình
Sản phẩm của bảo hiểm phi nhân thọ về bản chất là một dịch vụ, một lời hứa,
một lời cam kết mà Công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng. Khách hàng đóng phí
để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai.

Hợp đồng BH thường là 01 năm hoặc ngắn hơn (ngoại trừ một số hợp đồng
trong BH xây dựng lắp đặt có thời hạn theo thời gian xây dựng công trình) thậm chí
có những hợp đồng BH chỉ có hiệu lực vài tháng (BH hàng hoá xuất khẩu), vài ngày
(BH vận chuyển hàng hoá, BH du lịch), hoặc chỉ vài giờ (BH tai nạn hành khách,
BH du lịch).
c) Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ
Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm thì bảo hiểm phi nhân thọ có ba loại: BH tài
sản, BH trách nhiệm dân sự và BH con người phi nhân thọ.


8

Bảo hiểm tài sản: Là loại bảo hiểm có đối tượng là tài sản (có thể là hữu hình
hoặc vô hình). Hiện nay, hầu hết ở các quốc gia có những nghiệp vụ bảo hiểm tài
sản cơ bản sau: BH hàng hoá; BH vật chất tàu, máy bay, xe cơ giới; BH mọi rủi ro
trong xây dựng, lắp đặt, BH hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt. Ngoài ra còn một số
nghiệp vụ khác: BH nông nghiệp; BH gián đoạn kinh doanh; BH tiền trong két, BH
nhà tư nhân, trộm cắp, tín dụng,…
Đặc trưng cơ bản của BH tài sản: Người được bảo hiểm có thể do chủ sở hữu
hoặc người được giao quyền chiếm hữu sử dụng, người thừa kế. BH tài sản có thể
nhận BH một phần hoặc toàn bộ giá trị tài sản, không bảo hiểm lớn hơn giá trị tài
sản đó. Trong mọi trường hợp, số tiền bồi thường không thể lớn hơn thiệt hại của tài
sản đó trong một sự cố bảo hiểm.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS): TNDS là một loại trách nhiệm pháp
lý, nó phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự. TNDS được coi là biện pháp cưỡng
chế, nó được áp dụng đối với người thực hiện hành vi trái pháp luật. Nhìn chung
TNDS là trách nhiệm bồi thường thiệt hại. TNDS có hai loại TNDS theo hợp đồng
và TNDS ngoài hợp đồng. BH TNDS có một số nghiệp vụ cơ bản sau: TNDS chủ
xe cơ giới đối với người thứ ba và hành khách trên xe; TNDS chủ xe đối với hàng
hoá vận chuyển trên xe; TNDS của chủ tàu biển; TNDS của chủ hãng hàng không;

hiểm tai nạn con người, người thụ hưởng nhận được số tiền trong phạm vị số tiền
bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm và thoả thuận
trong hợp đồng bảo hiểm. Còn trong bảo hiểm sức khoẻ con người, người được bảo
hiểm được nhận số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám
bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ của người đó do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra và
thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
1.1.2. Nguyên tắc hoạt động trong bảo hiểm phi nhân thọ
Nguyên tắc số đông bù số ít:
KDBH phi nhân thọ là việc người BH tìm kiếm lợi ích kinh tế dựa trên cơ sở
hợp đồng BH, mà theo đó đổi lấy phí BH, người BH cam kết thực hiện bồi thường,
hoặc trả tiền BH cho người được BH khi có sự kiện BH xảy ra. Khoản tiền bồi
thường hay chi trả này thường lớn hơn gấp nhiều lần so với khoản phí BH mà các
DNBH nhận được. Để làm được điều này, hoạt động của BH phi nhân thọ phải dựa
trên nguyên tắc số đông bù số ít. Đây là nguyên tắc xuyên suốt không thể thiếu
được trong bất kỳ một nghiệp vụ BH phi nhân thọ nào.


10

Các DNBH thông qua việc huy động bằng hình thức phí BH, thành lập nên
quỹ bồi thường để chi trả cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những
người tham gia BH. Các DNBH đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn.
Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia BH thì quỹ BH tích tụ được càng
lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn.
Thông thường, một sản phẩm BH chỉ có thể được triển khai có hiệu quả khi có
nhiều nhu cầu về cùng loại dịch vụ đó.
Nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm:
Về nguyên tắc, những rủi ro có thể được BH là những rủi ro bất ngờ, không
lường trước được và những nguyên nhân gây ra rủi ro phải là khách quan và không
cố ý. Vì vậy, các DNBH thường không nhận BH cho các trường hợp tổn thất gây ra

phẩm cung cấp của nhà BH là sản phẩm dịch vụ và là sản phẩm “vô hình”. Người
mua chỉ có trong tay một hợp đồng, một cam kết chứ không hề có một sản phẩm cụ
thể. Vì vậy, chất lượng sản phẩm có được đảm bảo hay không, quyền lợi của người
mua có được đầy đủ công bằng hay không…đều chủ yếu dựa vào sự trung thực từ
phía các DNBH. Ngược lại, nguyên tắc này cũng đòi hỏi người tham gia BH phải
trung thực khi kê khai về những đối tượng trước khi tham gia BH, để xác định mức
phí phù hợp, cũng như phải trung thực khi khai báo rủi ro trong khi đòi bồi thường.
Mọi hành vi gian lận, không trung thực, nhằm trục lợi BH sẽ bị pháp luật xử lý.
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm:
Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia BH phải có một số quan hệ với đối
tượng tham gia BH và được pháp luật công nhận. Mối quan hệ có thể biểu hiện qua
quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản và quyền nghĩa vụ
nuôi, cấp dưỡng đối với đối tượng được BH. Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng
BH cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại nhằm thu lợi từ một hợp
đồng BH.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, còn có một số nguyên tắc đó là nguyên tắc
bồi thường, nguyên tắc khoán…áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ trong đời sống kinh tế xã hội
Bảo hiểm phi nhân thọ góp phần đảm bảo ổn định đời sống, ổn định tài
chính, từ đó ổn định về tinh thần cho người tham gia BH và mang lại sự an toàn cho
xã hội. Khi gặp rủi ro thiên tai hay tai nạn bất ngờ, các cá nhân, doanh nghiệp sẽ bị


12

tổn thất về kinh tế hoặc thiệt hại về người. Tổn thất đó sẽ được bảo hiểm bồi
thường hoặc trợ cấp về tài chính, để người tham gia BH nhanh chóng khắc phục
hậu quả, ổn định đời sống, khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh. Từ việc
hỗ trợ tài chính, bảo hiểm còn đáp ứng các nhu cầu về đảm bảo an toàn cho
người tham gia bảo hiểm, đưa đến cho họ sự tin cậy về sự an toàn và một chỗ


Bảo hiểm phi nhân thọ - một trung gian tài chính trong thị trường tài chính:
Cũng như các thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức
năng dẫn vốn từ người có vốn tới người cần vốn. Không có trung gian tài chính, thị
trường tài chính không thể có lợi ích trọn vẹn, bởi lẽ nó thực hiện việc “kết nối”
những món tiền nhàn rỗi với những người đi vay một cách nhanh chóng, hiệu quả
và an toàn nhất.
1.2. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ CỦA CÔNG TY
BẢO HIỂM
1.2.1. Khái niệm quản lý bảo hiểm phi nhân thọ
Quản lý bảo hiểm phi nhân thọ là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của
chủ thế quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu
quả nhất các tiềm năng, cơ hội của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đặt ra trong
điều kiện biến động của môi trường.
Quản lý bảo hiểm phi nhân thọ là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo,
kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ
chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động.
1.2.2. Mục tiêu và yêu cầu quản lý bảo hiểm phi nhân thọ
Mục tiêu
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với
Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay
đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Tăng
trưởng và phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài của mọi doanh nghiệp bảo hiểm đang
hoạt động trong nền kinh tế. Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển ngày càng
mạnh mẽ thì sự cạnh tranh trong ngành bảo hiểm diễn ra cũng ngày càng gay gắt hơn.
Thực tế hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của
ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai.
Tăng trưởng thị phần và doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ ở mức cao nhất,
tăng tỷ lệ đóng góp của ngành bảo hiểm hiểm nói chung, của bảo hiểm phi nhân thọ
nói riêng vào GDP

Nếu tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu giảm có thể báo hiệu chi phí đang vượt
tầm kiểm soát của cấp quản lý, hoặc công ty đó đang phải chiết khấu để bán sản
phẩm hay dịch vụ của mình.


15

b) ROA là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản
ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty.
ROA = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường/Tổng tài sản
ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ
lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác
biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử
dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty
qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau.
Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả
hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả
của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao
thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.
Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các
khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà chi cho các
hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt
hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.
c) ROE là tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả
năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.
Công thức:
ROE = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường /Vốn cổ phần thường
Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy
tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so

các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông.
EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá
cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E. Một khía cạnh
rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu
nhập ròng (net income) trong công thức tính trên.
Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít
cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố
khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì
doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn
nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo


17

"chất lượng" của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính
duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.
e) P/E là chỉ số giá trên thu nhập
P/E là một chỉ số được các nhà đầu tư sử dụng rất phổ biến trong phân tích
tài chính. Tất nhiên tỷ lệ này cũng có những hạn chế nhất định nhưng nó có ưu điểm
là dễ tính và dễ hiểu. Nếu bạn muốn biết thị trường sẵn sàng trả bao nhiêu cho mỗi
đôla lợi nhuận của một công ty, chúng ta hãy xem xét P/E.
P/E là một tỷ lệ phần trăm giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập trên một cổ
phhiếu.
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu
lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho
từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường
được công bố trên báo chí.
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ
tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ
suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ

HĐBH, thu phí bảo hiểm

Theo dõi thực hiện hợp
đồng
(Nguồn: Phòng bảo hiểm phi nhân thọ của công ty bảo hiểm Pjico)
Sơ đồ 1.2: Quy trình khai thác bảo hiểm phi nhân thọ ở Pjico


19

(1) Quản lý về hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ
Đây là vấn đề đầu tiên, đi trước, quan trọng nhất trong tiến trình triển khai
nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Vấn đề này đòi hỏi đảm bảo chính xác, tối ưu để
giảm thiểu sự sai lệch của các vấn đề tiếp theo. Quản lý việc đảm bảo tất cả các hợp
đồng được lập thỏa mãn đầy đủ nguyên tắc và nội dung cơ bản của hợp đồng bảo
hiểm phi nhân thọ. Đây là căn cứ pháp lý duy nhất của các chủ thể tham gia hợp
đồng bảo hiểm.
Quản lý nội dung hợp đồng là việc điều tra làm rõ tính xác thực của các điều
kiện tiên quyết của hợp đồng gồm: Phải tồn tại một đối tượng được bảo hiểm ngay
tại thời điểm giao kết hợp đồng. Người tham gia bảo hiểm và đối tượng được bảo
hiểm phải có mối liên hệ trên phương diện tài chính. Mối quan hệ giữa người tham
gia bảo hiểm và đối tượng được bảo hiểm phải được pháp luật công nhận. Quyền lợi
được bảo hiểm là giá trị của những lợi ích tài chính mà người tham gia bảo hiểm sẽ
có được nếu đối tượng được bảo hiểm tồn tại và là những thiệt hại nếu xảy ra tổn
thất liên quan đến đối tượng được bảo hiểm.
Quản lý việc tiến hành kiểm tra sự phù hợp của các thông tin về hình thức
ghi trên hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, trong đó chú trọng phân tích kỹ, làm rõ
các thông tin mà người mua bảo hiểm dễ nhầm lẫn nhằm tránh những khiếu nại có
thể xảy ra trong nghiệp vụ bảo hiểm.
Quản lý về so sánh, phân tích và chọn ra những chế độ bồi thường phù hợp cho

tham gia bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỷ lệ giảm giá này cho một số
năm không có khiếu nại gia tăng.
Biểu phí đặc biệt: Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính
được đề cập ở trên, chỉ khác là dựa trên các số liệu thống kê về bản thân khách hàng
đó, cụ thể là:
Số lượng tài sản của doanh nghiệp tham gia bảo hiểm
Tình hình bồi thường tổn thất của doanh nghiệp bảo hiểm cho khách hàng ở
những năm trước đó
Tỷ lệ phí theo quy định của công ty
Trong trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, doanh
nghiệp bảo hiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt, còn nếu cao hơn hoặc bằng thì
doanh nghiệp bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung.


21

(2) Về quản lý kênh phân phối
Quản lý mạng lưới phân phối là phải kết hợp nhuần nhuyễn và phối hợp
uyển chuyển các kênh phân phối độc lập này để phục vụ khách hàng, tránh tạo ra
những xung đột về lợi ích giữa các loại kênh và đảm bảo sự hỗ trợ đầy đủ cho
những kênh phân phối trung gian thông qua tính khoa học và thực tiễn của kế hoạch
và định mức. Phân tích đánh giá so sánh hiệu quả khai thác bảo hiểm của mạng lưới
phân phối khác nhau để xác định việc nâng bậc, hạ bậc, tiếp tục sử dụng hay chấm
dứt hợp đồng đại lý. Sự đánh giá này là công việc có tính chất hệ thống và chính
thức trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng, thảo luận và nhất
trí công khai. Trong tiêu chí đánh giá, doanh thu khai thác là điều quan trọng nhất.
Bên cạnh đó căn cứ đánh giá còn dựa trên số liệu về hiệu quả của các hợp đồng khai
thác, tỷ lệ khách hàng tái tục, tỷ lệ doanh thu khai thác mới trong tổng doanh thu, ý
thức tổ chức kỷ luật, sự đánh giá của đồng nghiệp và cán bộ phụ trách.
Việc quản lý kênh phân phối nhằm đảm bảo khai thác tối đa số lượng hợp

bảo hiểm, thu phí bảo hiểm cấp biên lai, chăm sóc khách hàng, thuyết phục khách
hàng tái tục hợp đòng bảo hiểm, các hoạt động khác trong khuôn khổ quyền hạn và
trách nhiệm của đại lý.
Các đại lý nằm trong hệ thống cơ cấu của doanh nghiệp bảo hiểm và chịu sự
điều tiết của hoạt động quản lý mạng lưới đại lý bảo hiểm như: tuyển dụng đại lý,
tập huấn đào tạo đại lý, lập và điều hành mô hình hệ thống tổ chức mạng lưới đại lý,
lập và thực thi kế hoạch đánh giá và kèm thưởng phạt với hoạt động của đại lý.
Quản lý đối với môi giới bảo hiểm: Hợp tác và sử dụng kênh phân phối này
thông qua những ưu thế về nghiệp vụ bảo hiểm mà nó cung cấp. Hiện nay có các
loại môi giới bảo hiểm gốc và môi giới tái bảo hiểm:
Quản lý việc đảm bảo môi giới bảo hiểm gốc cung cấp những thông tin chính
xác về doanh nghiệp bảo hiểm đến người tiêu dùng như tư vấn về quản lý rủi ro hiệu
quả nhất, thủ tục khiếu nại để có mức bồi thường thỏa đáng nhất, văn bản quy phạm
pháp luật mới nhất về bảo hiểm, hồ sơ những vụ bảo hiểm đã từng được bồi thường,
chuyển giao những ý tưởng về loại bảo hiểm phi nhân thọ mới trong tương lai.
Quản lý việc hợp tác với môi giới tái bảo hiểm nhằm có được sự hỗ trợ giúp
đỡ các doanh nghiệp bảo hiểm gốc làm việc với doanh nghiệp tái bảo hiểm trong
việc bảo hiểm cho chính các doanh nghiệp bảo hiểm gốc. Khi có số tiền bồi thường



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status