1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu trong
luận văn là hoàn toàn trung thực, các đánh giá, kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực
tiễn và kinh nghiệm. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Học viên
Hoàng Khánh Chi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN........................................................................................................i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACV
ASEAN
ASEM
BCT
CBCC
CQHQ
DMRR
DN
: Hiệp định trị giá GATT/WTO
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
: Diễn đàn hợp tác Á- Âu
: Bộ Công Thương
: Cán bộ công chức
: Liên minh châu Âu
: Hiệp định thương mại tự do với Châu Âu
: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
: Tổng sản phẩm quốc nội
: Giám sát quản lý
: Thuế Gía trị gia tăng
: Hải quan
: Kho bạc nhà nước
: Kiểm tra sau thông quan
: Ngân hàng thương mại
: Cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài
: Tổng cục Hải quan
: Trị giá tính thuế
: Thương mại
: Trách nhiệm hữu hạn
: Thành phố
: Thuế Tiêu thụ đặc biệt
: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
: Tổ chức hải quan thế giới
: Tổ chức thương mại thế giới
: Xã hội chủ nghĩa
: Xuất nhập khẩu
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Xu thế toàn cầu hoá cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra sự
tính thuế, với mục tiêu tạo điều kiện cho thương mại và hội nhập, trong khi vẫn
phải đảm bảo duy trì một hệ thống kiểm soát xuất nhập khẩu đầy đủ, ngành Hải
quan đang đứng trước những thách thức to lớn để vừa tạo thuận lợi cho thương
mại phát triển vừa đảm bảo đối tượng chịu sự quản lý của hải quan tuân thủ
nghiêm túc các chính sách pháp luật liên quan.
Trước năm 2003, nguyên tắc xác định trị giá tính thuế dựa trên bảng giá tối
thiểu bộc lộ nhược điểm cơ bản là mang tính áp đặt, không phù hợp với thực tiễn
giao dịch thương mại quốc tế. Từ ngày 01/01/2004 Việt Nam đã chính thức triển
khai thực hiện xác định trị giá hải quan theo Hiệp định về thực hiện điều VII
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Đây là Hiệp định mang
tính kỹ thuật cao đòi hỏi các cơ quan hải quan và doanh nghiệp phải hiểu biết
đầy đủ, chính xác và thống nhất.
Thực tế cho thấy cả phía cơ quan Hải quan và doanh nghiệp đều bộc lộ những
hạn chế: cán bộ hải quan còn lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp xác
định trị giá tính thuế do chưa thực sự hiểu sâu nghiệp vụ, phía doanh nghiệp còn mơ
hồ về cách xác định trị giá tính thuế nên không hiểu hết quyền lợi và nghĩa vụ của
mình. Từ thực tế đó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý giá tính thuế
xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách quốc gia.
Do vậy việc nghiên cứu vấn đề xác định trị giá tính thuế là hết sức quan
trọng, giúp các bên có liên quan tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp, góp phần
đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hóa, đưa hàng hóa vào lưu thông. Để góp
phần thực hiện tốt trọng trách trên, ngành Hải quan nói chung và Cục Hải quan
TP.Hà Nội đã có những đóng góp quan trọng trong vấn đề quản lý giá tính thuế. Tuy
nhiên trong thời gian qua, do lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng tăng,
nên việc tăng cường công tác quản lý giá tính thuế chưa được ưu tiên xem xét.
5
Xuất phát từ những căn cứ nêu trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Quản
- Phương Linh (2001), Kinh nghiệm Hải quan Thái Lan khi thực hiện Hiệp
định Trị giá Hải quan GATT/WTO , Tạp chí Hải quan.
- Sổ tay Hiện đại hoá hải quan do Ngân hàng Thế giới xuất bản (bản dịch
năm 2007).
- Tổng cục Hải quan (1996), Các phương pháp xác định trị giá hải quan
theo GATT và kiểm toán hải quan, NXB Tài chính, Hà Nội.
- Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng công chức Hải quan thuộc Tổng cục Hải
quan (2007), Sổ tay kiểm tra trị giá hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới
WCO
Những công trình nghiên cứu khoa học trênmới chỉ khái quát được cơ sở
lý luận, vai trò của công tác quản lý trị giá tính thuế hàng hóa XNK khi áp
dụng xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định Trị giá GATT, tuy nhiên mang
tính khởi đầu, mới chỉ đề cập đến các khía cạnh về kỹ thuật cũng như giới
thiệu các phương pháp mang tính chất chung nhất, chưa có công trình nào đi
sâu đánh giá thực trạng việc xác định trị giá tính thuế hiện nay để từ đó đưa ra
những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện cơ chế xác định trị giá tính thuế
hiện nay cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay và tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, chưa có những nghiên cứu cụ thể về thực trạng quản lý giá
tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu nói chung và một nhóm hàng nhập khẩu
nói riêng. Trên thực tếcông tác quản lý trị giá tính thuế bộc lộ rất nhiều vấn đề cả
cơ sở pháp lý và thực tiễn chưa được làm rõ, chưa cụ thể. Đặc biệt trong điều
kiện tồn tại đồng thời mô hình TTHQ điện tử và mô hình, TTHQ khai từ xa đã
gây nên nhiều khó khăn, vướng mắc, lúng túng khi triển khai thực hiện, làm cho
tính khả thi và kết quả triển khai khi thực hiện chưa đạt được như mong muốn.
1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý giá tính thuế
hàng tiêu dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội trong bối cảnh hội nhập
8
Phương pháp phỏng vấn, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, thu thập
thông tin... để đưa ra các kết quả nghiên cứu.
1.6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 04 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quản lý trị giá tính thuế hàng nhập
khẩu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý giá tính thuế hàng tiêu dùng nhập
khẩu tại Cục Hải quan TP. Hà Nội.
Chương 4: Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý giá hàng tiêu
dùng nhập khẩu tại Cục Hải quan TP.Hà Nội
9
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ QUẢN LÝ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU
2.1
2.1.1
Khái quát về trị giá tính thuế và xác định trị giá tính thuế
Khái niệm trị giá tính thuế hàng nhập khẩu và xác định trị giá tính thuế
* Trị giá tính thuế hàng nhập khẩu (Trị giá hải quan)
Theo Điều 15, Hiệp định trị giá GATT/WTO: “Trị giá tính thuế là trị giá hải
quan nhằm mục đích tính thuế. Xác định trị giá hải quan là xác định trị giá làm
GATT) hay còn gọi là Hiệp định Trị giá Hải quan (ACV) được ký kết tại Vòng
đàm phán Tokyo năm 1979, có hiệu lực thực hiện từ ngày 1 tháng 1 năm 1981
đưa ra một nguyên tắc chung về xác định trị giá hải quan cho tất cả các nước
tham gia ký kết, nhằm mang lại sự thống nhất, bình đẳng trong hoạt động ngoại
thương trên phạm vi toàn cầu. Đây là một bước tiến đáng kể của quá trình hình
thành khái niệm trị giá hải quan được công nhận rộng rãi và sử dụng chung cho
các nước, bởi vì tính đến thời điểm ra đời của Hiệp định GATT, việc xác định trị
giá hải quan được thực hiện một cách tự phát, không thống nhất trên thế giới.
Các nguyên tắc chung đã được cụ thể hoá bằng các phương pháp xác định trị giá
hải quan cụ thể đi kèm với những hướng dẫn rõ ràng. Chính vì vậy, Hiệp định Trị
giá Hải quan đã tạo nên sự ổn định và thống nhất mới trong việc định giá chung
trên thế giới, được rất nhiều nước ủng hộ.
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) coi ACV là một phần bắt buộc các
nước thành viên của WTO phải thực hiện. Theo Hiệp định Trị giá Hải quan thì
khái niệm trị giá hải quan là trị giá giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hay
sẽ phải thanh toán cho hàng hóa được xuất khẩu đến nước nhập khẩu sau khi đã
tính đến các khoản điều chỉnh (các khoản phải cộng, các khoản được trừ) theo
Điều 8 của Hiệp định này.
Để phù hợp với luật pháp về thuế của Việt Nam, cụm từ “trị giá hải quan”
tại Hiệp định được thay thế bằng “trị giá tính thuế”. Cụ thể, tại Điều 9 Luật Thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 quy định “trị giá
tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu
11
nhập đầu tiên theo hợp đồng, phù hợp với cam kết quốc tế”, và tại Điều 1 Nghị
định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007của Chính phủ quy định về việc xác
định trị giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng nêu “Xác định trị giá hải
quan nhằm mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
Theo hiệp định trị giá GATT, trị giá tính thuế được xác định bằng một trong
các phương pháp sau:
- Phương pháp trị giá giao dịch
- Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng nhập khẩu giống hệt
- Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng nhập khẩu tương tự
- Phương pháp khấu trừ
- Phương pháp tính toán
- Phương pháp suy luận
Hiệp định cũng chỉ ra rằng không một nhà nhập khẩu hoặc cơ quan quản lý
nào có quyền lựa chọn tùy tiện phương pháp xác định trị giá mà đều phải tuân
thủ theo một trình tự đã định sẵn. Để xác định trị giá tính thuế của hàng nhập
khẩu phải áp dụng tuần tự sáu phương pháp, bắt đầu từ phương pháp thứ nhất
“trị giá giao dịch” và chỉ khi vì một lý do nào đó mà phương pháp này không
thể áp dụng được thì mới áp dụng phương pháp thứ hai. Nếu không thể xác định
trị giá tính thuế theo phương pháp thứ hai thì sẽ phải áp dụng lần lượt các
phương pháp khác cho đến phương pháp cuối cùng. Nguyên tắc này chỉ ngoại lệ
đối với phương pháp thứ tư “Phương pháp khấu trừ” và phương pháp thứ năm
“Phương pháp tính toán”. Trong quá trình xác định trị giá tính thuế, hai phương
pháp này có thể hoán đổi vị trí cho nhau nếu có yêu cầu của doanh nghiệp và sự
đồng ý của cơ quan hải quan. Sở dĩ có thể hoán đổi hai phương pháp này cho
nhau là do việc xác định trị giá tính thuế theo hai phương pháp này chủ yếu dựa
trên các tài liệu, số liệu và bằng chứng khách quan của doanh nghiệp. Do đó,
doanh nghiệp sẽ là người hiểu rõ nhất việc xác định trị giá tính thuế theo phương
pháp nào là hợp lý nhất để từ đó đề nghị cơ quan hải quan áp dung phương pháp
phù hợp.
2.1.2
Ý nghĩa của việc xác định trị giá tính thuế
14
Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả, từ đó tác động lên các hoạt
động xuất nhập khẩu và ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác của các quốc gia
xuất nhập khẩu.
Tại Việt Nam, hoạt động chuyển giá nhằm trốn thuế của nhiều doanh
nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang diễn ra ngày càng tinh vi và
phức tạp, có thể kể đến một số hình thức như: chuyển giá thông qua chuyển
giao tài sản hữu hình giữa các bên liên kết, chuyển giá thông qua chuyển giao
tài sản vô hình, chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ nội bộ tập đoàn,
chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh…Nếu xác định
đúng trị giá tính thuế hàng nhập khẩu đây sẽ là cơ sở thuận lợi để chống
chuyển giá, tránh những tác động tiêu cực của hoạt động này đến nền kinh tế
của quốc gia.
Năm là,việc xác định trị giá tính thuế theo GATT phù hợp với hệ thống
thương mại quốc tế do đó tạo điều kiện cho giao lưu thương mại quốc tế phát
triển.
Hệ thống xác định trị giá tính thuế đề cập đến các yếu tố điều chỉnh như
giá bán hàng, thời gian, địa điểm, số lượng, cấp độ thương mại, các chi phí
phát sinh trước hoặc sau quá trình nhập khẩu mà chưa được đưa vào giá bán
hàng hóa và dự liệu được các tình huống có thể xảy ra trong giao dịch hàng
hóa thực tế với cơ chế xác định giá tính thuế ổn định góp phần giải phóng
nhanh hàng hóa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán hàng và thu hồi vốn
nhanh, do đó đẩy mạnh lưu thông thương mại và tạo ra nhiều nguồn hàng hóa
cho lưu thông trong nước
2.1.3
2.1.3.1.
thanh toán hay sẽ
phải thanh toán
Các khoản điều
±
chính
Các khoản điều chỉnh cộng bao gồm:
- Tiền hoa hồng (trừ hoa hồng mua hàng) và chi phí môi giới:
Đây là khoản chi phí do người mua thanh toán cho một bên thứ ba nào
đó do có sự tham gia của bên này vào việc ký kết hợp đồng mua bán hàng
hóa. Bên thứ ba có thể là đại lý mua, đại lý bán hàng, người môi giới…
Khoản tiền thù lao trả cho bên thứ ba này thường được thể hiện dưới dạng tiền
hoa hồng hoặc chi phí môi giới và được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm
nhất định trên tổng giá trị hợp đồng đã ký kết.
- Chi phí bao bì và đóng gói hàng hóa:
16
Đây là các khoản chi phí có liên quan đến việc mua các loại bao bì gắn
liền với hàng hóa và các chi phí liên quan đến việc đóng gói sản phẩm, được
coi là đồng nhất với hàng hóa đang được xác định trị giá.
- Các khoản trợ giúp:
Đây có thể là những hàng hóa hay dịch vụ do chủ hàng cung cấp trực
tiếp hoặc gián tiếp, miễn phí hoặc giảm giá cho người sản xuất để sử dụng
trong quá trình sản xuất ra chính lô hàng đang được xác định trị giá.
•
Điều kiện để thực hiện điều chỉnh cộng hoặc trừ:
Các khoản điều chỉnh phải liên quan trực tiếp đến lô hàng đang được xác
định trị giá
Có khả năng định lượng và có giấy tờ chứng minh. Nếu không tính toán
được giá trị của các khoản điều chỉnh hoặc không có chứng từ chứng minh thì
không áp dụng phương pháp này nữa mà chuyển sang phương pháp kế tiếp.
Chưa được tính vào giá hóa đơn đối với các khoản điều chỉnh cộng hoặc đã
có trong giá hóa đơn đối với các khoản điều chỉnh trừ.
Phương pháp trị giá giao dịch là một phương pháp đơn giản và dễ áp dụng.
Tuy nhiên, để áp dụng phương pháp này, giao dịch cần phải thỏa mãn những
điều kiện sau:
- Điều kiện thứ nhất, người mua (chủ hàng) có toàn quyền định đoạt hay sử
dụng hàng hóa nghĩa là có đầy đủ quyền chuyển giao, có quyền sở hữu, quyền tự
mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, thừa kế, từ bỏ hàng hóa, quyền khai thác
công dụng, hưởng lợi, lợi tức từ hàng hóa.
- Điều kiện thứ hai, giao dịch mua bán không phụ thuộc vào bất cứ điều
kiện nào dẫn đến việc không xác định được trị giá lô hàng nhập khẩu.
- Điều kiện thứ ba, người mua sẽ không phải trả thêm một khoản tiền nào
trích từ doanh thu hay lợi nhuận bán hàng của mình cho người cung cấp hàng
hóa (người bán), trừ khi khoản tiền đó chính là khoản điều chỉnh đã quy định.
- Điều kiện thứ tư, người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt,
hoặc là nếu có mối quan hệ đặc biệt thì mối quan hệ đó cũng không ảnh hưởng
đến giá cả của hàng hóa nhập khẩu.
2.1.3.2.
Phương pháp trị giá đối với hàng hóa nhập khẩu giống hệt
Phương pháp này chỉ được áp dụng khi không thể xác định được trị giá hải
- Lô hàng nhập khẩu giống hệt phải có cùng cấp độ thương mại và số lượng
với lô hàng đang được xác định trị giá hoặc đã được điều chỉnh về cùng cấp độ
thương mại và số lượng với lô hàng đang được xác định trị giá.
- Lô hàng nhập khẩu giống hệt phải có cùng điều kiện về khoảng cách và
phương thức vận chuyển với lô hàng đang được xác định trị giá hoặc đã được
19
điều chỉnh về cùng khoảng cách và phương thức vận chuyển với lô hàng đang
được xác định trị giá
- Nếu có hai hoặc nhiều lô hàng giống hệt thỏa mãn tất cả các điều kiện thì
lựa chọn lô hàng có trị giá thấp nhất làm cơ sở để xác định trị giá hải quan cho lô
hàng đang được xác định trị giá.
2.1.3.3.
Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự
Phương pháp này được áp dụng khi không thể xác định được trị giá tính
thuế theo phương pháp trị giá giao dịch (Phương pháp 1) hay phương pháp trị
giá giao dịch của hàng giống hệt (Phương pháp 2). Theo phương pháp này, trị giá
hải quan của hàng nhập khẩu sẽ là trị giá giao dịch của hàng tương tự bán để
xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô
hàng đang được xác định trị giá hải quan.
Theo Điều 15.2 (a) của ACV quy định: hàng hóa tương tự là những hàng
hóa dù không giống nhau về mọi chi tiết nhưng có các đặc điểm, tính chất giống
nhau, được làm từ các nguyên liệu, vật liệu cấu thành giống nhau và điều đó làm
cho hàng hóa thực hiện được các chức năng tương tự và có thể hoán đổi cho
nhau trong giao dịch thương mại.
Khi xem xét xác định hàng hóa được coi là tương tự cần phải đảm bảo các
điều kiện sau:
hóa nhập khẩu giống hệt hay tương tự tại nước nhập khẩu (bán hàng tại thị
trường nội địa).
Điều kiện thứ hai, hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt
hay tương tự khi bán phải cùng điều kiện như khi chúng nhập khẩu.
Điều kiện thứ tư, hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt
hay tương tự phải được bán lại vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang
được xác định trị giá.
Khi lựa chọn phương pháp khấu trừ thì bước đầu tiên là phải xác định đơn
giá bán lại hàng hóa. Đơn giá bán lại hàng hóa là đơn giá hàng nhập khẩu được
bán nguyên trạng như khi nhập khẩu và là đơn giá mà tại đó số lượng hàng hóa
được bán ra là lớn nhất.
21
Sau khi đã thiết lập được đơn giá bán lại hàng hóa thì phải xác định được
các khoản được khấu trừ từ giá đó. Các khoản được khấu trừ bao gồm:
Thứ nhất, các khoản tiền hoa hồng thường trả hoặc thỏa thuận sẽ trả hay
các khoản lợi nhuận bổ sung và các chi phí chung liên quan đến các giao dịch
bán hàng tại nước nhập khẩu hàng hóa cùng phẩm cấp hay cùng chủng loại.
Thứ hai, các chi phí thông thường về vận tải và bảo hiểm và cả chi phí cho
các hoạt động khác có liên quan đến việc vận tải hàng hóa sau khi nhập khẩu
Thứ ba, thuế hải quan và các khoản thuế, phí, lệ phí khác phải nộp tại nước
nhập khẩu khi nhập khẩu và khi bán hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa.
2.1.3.5.
Phương pháp tính toán
Phương pháp này là phương pháp thứ năm trong số các phương pháp xác
định giá hải quan. Phương pháp này chỉ được sử dụng khi các phương pháp từ
thứ nhất đến thứ tư không đem lại kết quả về trị giá hải quan.
nhiều khó khăn cho nước nhập khẩu.
Việc áp dụng phương pháp trị giá tính toán phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Chỉ được áp dụng phương pháp trị giá tính toán để xác định trị giá hải
quan nếu không áp dụng được phương pháp trị giá khấu trừ. Hoặc nếu có đủ tài
liệu để tính toán trị giá hải quan theo phương pháp này trước khi áp dụng
phương pháp khấu trừ. Khi đó, người khai Hải quan phải có văn bản đề nghị cơ
quan Hải quan cho phép đảo ngược trình tự áp dụng hai phương pháp 4 và 5.
- Người nhập khẩu phải có đầy đủ các thông tin về các yếu tố cấu thành trị
giá tính toán. Các thông tin này phải được thể hiện một cách khách quan và định
lượng được.
2.1.3.6.
Phương pháp suy luận
Phương pháp suy luận hay còn gọi là phương pháp dự phòng được quy định
tại Điều 7 của ACV và được sử dụng khi trị giá hải quan hàng nhập khẩu không
thể xác định được khi áp dụng lần lượt các phương pháp từ phương pháp 1 đến
phương pháp 5 như trên.
23
Theo phương pháp này, trị giá hải quan sẽ được xác định bằng cách áp
dụng tuần tự và linh hoạt năm phương pháp xác định trị giá tính thuế ở trên. Ở
đây, việc vận dụng linh hoạt được hiểu là mở rộng một số điều kiện áp dụng
phương pháp phù hợp để xác định trị giá hải quan.
Khi áp dụng phương pháp suy luận phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Thứ nhất, không áp dụng các phương pháp bị cấm
- Thứ hai, phải sử dụng các biện pháp hợp lý, phải dựa trên số liệu thu thập
được ở nước nhập khẩu.
- Thứ ba, các phương pháp này phải nhất quán với các nguyên tắc chung
. Quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
2.2.1 Khái niệm quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu
Quản lý giá tính thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành quản lý hành
chính nhà nước. Quản lý hành chính là sự tác động của cơ quan hành chính Nhà
nước và con người hoặc các mối quan hệ xã hội để đạt được các mục tiêu của
Chính phủ. Tiếp cận dưới góc độ thực thi quyền lực Nhà nước thì quản lý hành
chính là quá trình thực thi quyền hành pháp của Nhà nước.
Từ những cách hiểu như trên thì quản lý giá tính thuế hàng nhập khẩu được
hiểu là một hệ thống những quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau do cơ quan
Hải quan thực hiện trên cơ sở quy định của Luật Hải quan đối với tổ chức, cá
nhân có liên quan nhằm đảm bảo thu đúng, đủ và công bằng thuế đối với hàng
hóa XNK, bao gồm các hoạt động kiểm tra trị giá khai báo cho hàng hóa nhập
khẩu, tham vấn, xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của do cơ
quan Hải quan thực hiện trong quá trình làm thủ tục Hải quan và sau khi hàng
hóa đã thông quan.
Đối tượng của công tác quản lý trị giá tính thuế là hồ sơ hải quan hoặc hồ
sơ hải quan điện tử, các tài liệu liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế của
hàng hóa thuộc diện kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa trên cơ sở áp
dụng quản lý rủi ro về trị giá. Việc kiểm tra trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
được thực hiện trên cơ sở kiểm tra các mặt hàng thuộc Danh mục quản lý rủi ro
hàng nhập khẩu về giá do Tổng cục Hải quan ban hành.
2.2.2 Vai trò của quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu:
Thứ nhất, quản lý trị giá tính thuế hàng nhập khẩu nhằm tăng nguồn thu
cho ngân sách nhà nước
Một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra với quản lý trị giá tính thuế
hàng nhập khẩu là thu đúng, thu đủ số thuế của hàng hóa nhập khẩu nhằm đảm
25