TÓM LƯỢC
1. Tên đề tài: “Hoàn thiện chính sách tiền lương của Công ty Cổ phần Giáo
dục và Truyền thông Nam Việt”
2. Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thúy
Lớp:
K47U5
3. Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phạm Công Đoàn
4. Thời gian thực hiện: 26/02/2015 – 29/04/2015
5. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục
hoàn thiện chính sách tiền lương và nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty cổ phần
Giáo dục và Truyền thông Nam Việt.
6. Nội dung chính của khóa luận
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sánh tiền lương tại
doanh nghiệp
Chương 3: Phân tích thực trạng về chính sách tiền lương của Công ty Cổ phần
Giáo dục và Truyền thông Nam Việt
Chương 4: Đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách tiền lương tại Công ty Cổ phần
Giáo dục và Truyền thông Nam Việt
7. Kết quả đạt được chủ yếu
STT
Tên sản phẩm
1
Đề cương chi tiết
2
Khóa luận tốt nghiệp chính thức
3
iii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Công cuộc hiện đại hóa đất nước, tự do hóa thương mại diễn ra nhanh chóng,
môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần có một
chính sách tiền lương hợp lý, chính sách tiền lương hợp lý sẽ thúc đẩy, kích thích,
động viên người lao động làm việc có trách nhiệm, phát huy hết khả năng sáng tạo
trong công việc. Mặt khác, tiền lương là một khoản chi phí tương đối lớn của các
doanh nghiệp. Và vì vậy, ngoài việc đảm bảo nguồn thu nhập của người lao động,
khuyến khích họ làm việc một cách tốt hơn thì doanh nghiệp còn cần sử dụng khoản
chi phí này hợp lý phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước. Do đó, mỗi doanh nghiệp cần chọn cho
mình một chính sách tiền lương một cách hợp lý để có thể thúc đẩy người lao động
làm việc một cách hiệu quả nhất cũng như phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh
của mình và tuân thủ các quy định của nhà nước. Và nếu không có chính sách tiền
lương hợp lý thì không những không tạo động lực cho người lao động mà còn làm cho
họ không nhiệt tình với công việc, làm việc một cách thụ động và như vậy hiệu quả
công việc là thấp.
Dựa trên tình hình thực tế như trên, em muốn làm đề tài: “HOÀN THIỆN
CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÁO DỤC VÀ TRUYỀN
THÔNG NAM VIỆT”
1.2.Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Hiên nay, việc hoàn thiện chính sách tiền lương đang là vấn đề quan trọng, nó đã
và đang được nghiên cứu khá phổ biến và khai thác dưới nhiều khía cạnh trong thời
gian trở lại đây, đặc biệt là trong quá trình đổi mới nền kinh tế, chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Tìm hiểu về tình hình nghiên
cứu trong và ngoài nước, đã có không ít công trình đề cập tới nội dung này. Điển hình
chế, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các hình thức trả lương
của Công ty. Dù vậy, công trình cũng chưa đề cập chi tiết tới cacs hình thức, chính
sách tiền lương của Công ty nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu làm rõ, đưa ra
hướng giải quyết hiệu quả cho vấn đề.
Như vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiền lương và các chính sách
tiền lương. Tuy nhiên, các công trình đó, cho đến nay, vẫn còn khá ít hay chưa có một
công trình được công bố nào tập trung nghiên cứu đầy đủ một cách có hệ thống các
vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng của các chính sách tiền lương với doanh
nghiệp ở nước ta. Đặc biệt, khẳng định chưa có một công trình nào nghiên cứu về
chính sách tiền lương tại Công ty Cổ phần Giáo dục và Truyền thông Nam Việt trong
3 năm trở lại đây. Do vấn đề nghiên cứu là rất quan trọng và cấp thiết nên việc nghiên
cứu công trình này sẽ có ý nghĩa rất to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn.
2
1.3.Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Thông qua việc đánh giá tình hình thực tế, chính sách tiền lương của Công ty
Cổ phần Giáo dục và Truyền thông Nam Việt đang có những thành công và hạn chế
nhất định. Đó chính là lý do tôi quyết định lựa chọn đề tài: “ Hoàn thiện chính sách
tiền lương của Công ty Cổ phần Giáo dục và Truyền thông Nam Việt” làm đề tài
nghiên cứu trong bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Đề tài tập trung nghiên cứu chính sách tiền lương tại Công ty, đưa ra những
đánh giá, nhận xét, những mặt ưu điểm và hạn chế, tìm ra nguyên nhân, từ đó
hướng đến những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền lương và
nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.
1.4.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống lý luận cơ bản về tiền lương và phân tích thực trạng chính
sách tiền lương của Công ty cổ phần Giáo dục và Truyền thông Nam Việt, đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương và nâng cao
tiến hành phỏng vấn Giám đốc Công ty, Trưởng phòng HCNS, Chuyên viên Nhân sự
chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức quá trình xây dựng chính sách tiền lương, và
một số nhân viên từ các phòng ban trong Công ty. Phương pháp này giúp thu thập
được nhiều thông tin, tìm hiểu sâu vào những thông tin cần thiết, thu được bức tranh rõ
ràng hơn về chính sách tiền lương tại Công ty. Những câu hỏi phỏng vấn chủ yếu tập
trung vào các thông tin liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tiền lương
tại Công ty, mong muốnhoàn thiện chính sách tiền lương và nâng cao hiệu quả hoạt
động của Công ty
Dựa trên các dữ liệu thu thập được từ việc nghiên cứu tài liệu để lấy ý kiến đánh
giá khách quan về tình hình công tác trả lương và các nhân tố ảnh hưởng tới chính
sách tiền lương tại Công ty. Cách nhìn nhận của họ đối với công tác trả lương như thế
nào cũng như cách họ tiến hành xây dựng chính sách tiền lương ra sao, đồng thời cũng
làm rõ một số thông tin đã thu thập trong bảng hỏi.
2.Cách tiến hành:
Bước 1: Xây dựng 1 bộ câu hỏi mẫu gồm 11 câu hỏi dành cho nhà quản trị, các
câu hỏi liên quan đến chính sách tiền lương và thực tế việc thực hiện hoạt động trả
công như thế nào, quan điểm của nhà quản trị về việc nâng cao hiệu quả hoạt động của
chính sách tiền lương
Bước 2: Tới Công ty để phỏng vấn trực tiếp 3-5 nhà quản trị.
Bước 3: Thu nhận lại ý kiến bằng cách viết lại những câu trả lời của họ, sử dụng
làm tài liệu để nghiên cứu và phân tích thực trạng chính sách tiền lương tại Công ty.
4
- Phương pháp bảng hỏi hay phương pháp sử dụng phiếu điều tra: Thiết kế bảng
hỏi gồm 19 câu hỏi tập trung vào một số nội dung chính sau: (1) là các câu hỏi thông
tin chung về thực trạng chính sách tiền lương tại Công ty; (2) câu hỏi để các đối tượng
điều tra đưa ra đánh giá về chất lượng hoạt động của chính sách tiền lương của Công
ty; (3) là câu hỏi mở để nhà quản trị đưa ra những hướng giải pháp nâng cao chất
- Phương pháp toán thống kê và sử dụng Excel: Sau khi thu thập các số liệu
thứ cấ p và sơ cấp thu, sử dụng phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của
phần mềm Excel nhằm tổng hợp để tổng hợp các số liệu đã thu thập được.
1.7.Kết cấu khóa luận
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ,
hình vẽ và danh mục viết tắt, khóa luận được kết cấu bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sánh tiền lương tại
doanh nghiệp
Chương 3: Phân tích thực trạng về chính sách tiền lương của Công ty Cổ phần
Giáo dục và Truyền thông Nam Việt
Chương 4: Đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách tiền lương tại Công ty Cổ phần
Giáo dục và Truyền thông Nam Việt
Bên cạnh đó, khóa luận tốt nghiệp còn có các nội dung: Tóm lược; Lời cảm ơn;
Mục lục; Danh mục bảng biểu; Danh mục sơ đồ, hình vẽ; Danh mục từ viết tắt; Tài
liệu tham khảo; Phụ lục.
6
CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
CHÍNH SÁNH TIỀN LƯƠNG TẠI DOANH NGHIỆP
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản liên quan đến tiền lương và chính
sách tiền lương
2.1.1. Khái niệm tiền lương
Trong thực tế, khái niệm và cơ cấu tiền lương được xác định khác nhau ở các
nước trên thế giới. Tiền lương có thể có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao lao động,
thu nhập lao động,.v.v…
Tại Pháp, sự trả công (remuneration) được hiểu là tiền lương, bao hàm tất cả các
khoản thu nhập trực tiếp hay gián tiếp mà người sử dụng lao động trả cho người lao
thu hút được lao động giỏi, doanh nghiệp phải đầu tư khá nhiều tiền bạc vào tìm kiếm,
tuyển dụng, đào tạo. Đánh giá năng lực của người lao động trở nên rất quan trọng.
Việc đánh giá đúng sẽ giúp doanh nghiệp có những đầu tư đúng và ngược lại.
2.1.2. Khái niệm chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương là những quy định được thể chế hóa thành luật và các văn
bản pháp quy của nhà nước về trả công hay quy định của doanh nghiệp về trả công gắn
với điều kiện, chính sách phát triển của doanh nghiệp, phù hợp với các quy định của
nhà nước về trả công, sự thỏa thuận của doanh nghiệp với người lao động qua hợp
đồng lao động có tính đến yếu tố thị trường lao động.
Chính sách tiền lương được xây dựng nhằm thực hiện chiến lược phát triển
doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp và được thay đổi, điều
chỉnh trong sự phù hợp với chiến lược phát triển nguồn nhân lực, tính đến lao động
của môi trường trong từng giai đoạn.
Chính sách tiền lương của nhà nước về tổng thể là các quy định về tiền lương tối
thiểu, hệ thống thang bảng lương, quy chế trả lương, tổ chức trả lương và các bộ phận
cấu thành khác của thù lao lao động.
2.2. Nội dung về tiền lương và chính sách tiền lương
2.2.1. Vai trò của tiền lương
- Đối với người lao động
Tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp cho họ
và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt và dịch vụ cần thiết. Do vậy, các mức tiền
lương là đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và định hướng của
người lao động. Khi độ lớn của tiền lương phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất của công ty
nói chung và cá nhân người lao động nói riêng thì họ sẽ quan tâm đến việc không
ngừng nâng cao ăng suất lao động và chất lượng công việc.
8
Mặt khác, tiền lương kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong
gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị
lương của doanh nghiệp phải được xác định nhằm đáp ứng đầy đủ ba nguyên tắc cơ bản
bao gồm: Nguyên tắc công bằng, nguyên tắc cạnh tranh, nguyên tắc cân bằng tài chính.
9
-Tiền lương phải thể hiện sự công bằng. “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công
bằng”. Yêu cầu này phải thể hiện ở mọi khía cạnh của chính sách và là tư tưởng, triết
lý xuyên suốt toàn bộ chính sách. Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối
theo lao động “Trả lương bằng nhau cho lao động như nhau”. Có nghĩa là khi quy định
tiền lương, tiền thưởng cho người lao động, nhất thiết doanh nghiệp không được phân
biệt giới tính tuổi tác, dân tộc mà phải trả cho mọi người tương xứng với số lượng,
chất lượng mà họ cống hiến cho doanh nghiệp.
Để duy trì nhân viên giỏi ngoài mức lương cao còn phải thực hiện công bằng
trong nội bộ doanh nghiệp. Trong các trường hợp trả lương không công bằng, người
lao động sẽ cảm thấy khó chịu, bị ức chế, chán nản và dễ rời bỏ doanh nghiệp.
-Tiền lương phải đảm bảo tính cạnh tranh. Tiền lương của doanh nghiệp phải
đảm bảo nganh bằng hoặc cao hơn so với các doanh nghiệp khác, nhất là các doanah
nghiệp trong ngành nhằm thu hút được lao động có năng lực. Nguyên tắc này được
thực thi sẽ đảm bảo sức thu hút của doanh nghiệp trên thị trường lao động. Ứng viên đi
tìm việc thường không biết mức lương chính xác cho những công việc tương tự, họ
thường khó so sánh về mức phúc lợi, khen thưởng, cơ hội thăng tiến trong nghề
nghiệp, hay tính thách thức, thú vị của công việc. Mức lương đề nghị khi tuyển dụng
thường là yếu tố cơ bản để ứng viên quyết định có làm ở doanh nghiệp hay không.
Lương càng cao càng có khả năng thu hút nhân viên giỏi.
Thực tế cho thấy, dù doanh nghiệp có những biện pháp thu hút nhân sự rất tốt
thông qua các công cụ đãi ngộ phi vật chất thì doanh nghiệp vẫn thất thoát nhân viên
do mức lương không cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong ngành. Theo quan điểm
của Maslow, đãi ngộ thông qua tiền lương là yếu tố cơ bản cần phải được thỏa mãn
song song với việc thỏa mãn các nhu cầu bậc cao hơn.
Muốn đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, doanh nghiệp phải tiến hành khảo sát mức
Hình thức này có ưu điểm là cách tính đơn giản, đảm bảo thu nhập ổn định song
hạn chế là không kích thích được tích cực của người lao động do việc trả lương không
gắn với số lượng và chất lượng công việc hoàn thành. Hình thức trả lương này cũng
còn được gọi là hình thức trả lương theo thời gian giản đơn, hình thức này thường áp
dụng đối với các loại công việc khó xác định được số lượng và chất lượng công việc
hoàn thành. Để khắc phục hạn chế của hình thức trả lương theo thời gian giản đơn các
tổ chức, doanh nghiệp thường áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm.
11
2.2.3.2. Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng
Là hình thức kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn với tiền thưởng gắn với số
lượng và chất lượng công việc hoàn thành cùng với các yêu cầu về chấp hành kỷ luật
lao động, sự tiết kiệm chi phí.
Hình thức trả lương này đã ít nhiều gắn với số lượng, chất lượng hoàn thành
công việc do đó có tác dụng kích thích tính tích cực của người lao động làm cho họ
quan tâm hơn tới kết quả hoàn thành công việc. Để trả lương theo thời gian có thưởng
thì tổ chức, doanh nghiệp phải xây dựng tiêu chuẩn và có phương pháp đánh giá kết
quả hoàn thành công việc của người lao động về số lượng, chất lượng và việc chấp
hành các quy định về kỷ luật lao động về số lượng, chất lượng và việc chấp hành các
quy định về kỷ luật lao động và quy định sử dụng các nguồn lực.
2.2.3.3. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động hay
tập thể người lao động dựa trên số lượng, chất lượng sản phẩm hay công việc mà họ
hoàn thành. Hình thức này có ưu điểm là trả lương gắn với số lượng, chất lượng sản
phẩm do đó nó kích thích được tính tích cực, sáng tạo của người lao động trong công
việc, cho phép họ nâng cao thu nhập từ nỗ lực lao động của bản thân, song cũng có
nhược điểm là không coi trọng chất lượng sản phẩm, không tiết kiệm được nguồn lực
lao động trong công việc và làm việc quá sức dẫn đến ảnh hưởng về sức khỏe, tai nạn,
=
(Đơn giá tiền lương/SP)
Licb: Mức lương cấp bậc của người lao động thứ I trong tổ/nhóm (có n người lao
động)
Qo: Số lượng sản phẩm sản xuất theo quy định trong một đơn vị thời gian đối với
nhóm theo kế hoạch
Q1: Số lượng sản phẩm sản xuất thực tế đạt yêu cầu chất lượng
c, Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
Là hình thức trả lương cho người lao động phục vụ có liên quan trực tiếp và theo
mức sản lượng của lao động chính (trực tiếp sản xuất ra sản phẩm) dựa trên cơ sở số
lượng sản phẩm sản xuất của lao động chính và đơn giá tiền lương cho lao động phục
vụ đối với 1 sản phẩm của lao động chính.
2.2.4. Chính sách tiền lương trong doanh nghiệp
Trên cơ sở chính sách, chế độ tiền lương của Nhà nước, tính đến lĩnh vực, ngành
hoạt động của doanh nghiệp, kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, chiến lược
phát triển doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, quan điểm, triết lý trả lương của
lãnh đạo doanh nghiệp để xác định chính sách tiền lương của doanh nghiệp. Chính
sách tiền lương của doanh nghiệp gồm có các quy định về mức lương tối thiểu, cơ cấu
tiền lương và thu nhập, quy chế trả lương.
Mức tiền lương tối thiểu của doanh nghiệp về nguyên tắc được xác định không
được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định và có thể sử dụng các
phương pháp xác định mức lương tối thiểu theo mức tiền lương trên thị trường lao
13
động hoặc theo tiền lương tối thiểu thực trả cho người lao động trong các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế chính thức đến khả năng tài chính của doanh nghiệp tính
đến yếu tố ngành nghề, lĩnh vực hoạt động.
có thể tự mình xây dựng thang bảng lương theo quy định của pháp luật về lao động và
chế độ lương tối thiểu.
Các doanh nghiệp nhà nước áp dụng mức lương tối thiểu chung và có thể xây
dựng hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung, hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp và khả năng chi trả của doanh nghiệp: Mức lương tối thiểu để
tính bảo hiểm xã hội là mức lương tối thiểu chung của nhà nước quy định không phải
là mức lương tối thiểu mà doanh nghiệp đã điều chỉnh với nguyên tắc chung là mức
lương tối thiểu của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế không được thấp hơn mức lương
tối thiểu chung – các loại lao động áp dụng trả lương tối thiểu …
Trong điều kiện làm việc và môi trường bình thường, các loại lao động làm công
việc đơn giản về dịch vụ, buôn bán hàng hóa, lao công, giúp việc gia đình, trông nom
nhà cửa và các công việc đơn gianrkhacs trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản,
phục vụ khai thác mỏ xây dựng, công nghiệp, giao thông, y tế, giáo dục…
b, Chế độ lương cấp bậc
Chế độ lương cấp bậc là toàn bộ các quy định về trả lương của nhà nước mà các
cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp vận dụng để trả lương cho người lao
động trực tiếp dựa trên số lượng, chất lượng lao động và hiệu quả mà người lao động
tạo ra tính đến điều kiện và môi trường lao động cụ thể.
Số lượng lao động hao phí thường được thể hiện bởi thời gian làm việc và số
lượng sản phẩm của người lao động tạo ra; chất lượng lao động được đánh giá qua
trình độ thành thạo về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ qua tiêu chuẩn cấp bậc,
chuyên môn, kỹ thuật gắn với các điều kiện tổ chức, kỹ thuật và đặc thù của các ngành
nghề. Trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài nhà nước, việc đánh
giá lao động theo tiêu chuẩn cấp bậc để đãi ngộ, trả công chủ yếu dựa trên đóng góp
thực tế của người lao động chứ không phải dựa vào hoàn toàn bằng cấp.
Chế độ trả lương cấp bậc là chế độ trả lương căn cứ vào số lượng và chất lượng
lao động, theo các nguyên tắc của trả công lao động.
Chế độ trả lương cấp bậc của nhà nước là khung hướng dẫn để các doanh nghiệp
lương đối với bậc I sẽ được tính:
Mi = M1 x Ki
Trong đó, M1: Mức lương tối thiểu
Ki: Hệ số lương của bậc i
Ví dụ: Lương tối thiểu là 1.150.000 VNĐ/tháng (Mi)
Người lao động có hệ số lương 6.78 (Giáo viên chính bậc 8/8) có mức lương
M8= 1.150.00 x 6.78 = 7.797.000VNĐ/tháng.
16
Mức lương bậc 1 tháng cao hơn mức lương tối thiểu do mức độ phức tạp của các
ngành nghề, mức độ nặng nhọc và điều kiện lao động khác nhau.
Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật:
Tiêu chuản cấp bậc kỹ thuật là văn bản quy định mức độ phức tạp của công việc và
yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở mỗi bậc ứng với hiểu biết về kiến thức và
ký năng thực hành nghề nghiệp, có khả năng hoàn thành công việc do họ đảm nhận
Trong điều kiện kỹ thuật có cấp bậc công việc và cấp bậc công nhân.
Cấp bậc công việc thể hiện mức độ phức tạp của công việc, bậc công việc càng
cao thì công việc càng phức tạp. Để xác định cấp bậc công việc người ta có thể dùng
các phương pháp khác nhau: chuyên gia, cho điểm, so sánh…
Bậc công nhân xác định gắn với trình độ lành nghề của người lao động. Bậc công
nhân càng cao thì trình độ lành nghề càng cao và ngược lại.
Trong tổ chức lao động và tiền lương, người ta thường dựa vào tiêu chuẩn cấp
bậc kỹ thuật theo đó người lao động có trình độ lành nghề nhất định được bố trí công
việc có trình độ thích hợp, từ đó họ sẽ được trả lương theo số lượng và chất lượng lao
động đã hao phí.
Để đảm bảo tính toán chính xác và tương quan hợp lý giữa các công việc có cùng
bậc hay bậc trên, bậc dưới nối nhau thì sau khi xác định được cấp bậc công việc phải
tiến hành cân đối khung, bậc giữa các ngànhnghề tính đến tính chất nặng nhọc, độc
kinh doanh song phân phối theo kết quả đầu ra, dựa theo năng suất, chất lượng, hiệu
quả công việc mà lao động đã tạo ra và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Do đóviệc trả lương theo nguyên tắc giá cả ngang với giá trị lao động song
chính sách tiền lương trong kinh tế thị trường phải đặt trong mối quan hệ với chính
sách việc làm và chính sách về lao động nói chung, phải tính đến quan hệ cung cầu và
cạnh tranh trên thị trường lao động, tính đến sự điều tiết của nhà nước đối với thị
trường lao động và sự thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động, đảm
bảo sự hài hòa về lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước.
Thực hiện giao quyền quyết định tiền lương cho khu vực doanh nghiệp, cho tổ
chức đại diện người lao động và thủ trưởng đơn vị quyết định, chuyển trả lương theo
chuyên môn và thâm niên theo vị trí, chức danh và hiệu quả công việc, đối với khu
vực dịch vụ công trả theo đóng góp và chất lượng, hiệu quả của dịch vụ công cho xã
hội. Việc trả lương do thủ trưởng đơn vị và tổ chức công đoàn thống nhất, quy định
chế độ tiền lương, tương tự như khu vực doanh nghiệp.
b, Xác định điều chỉnh tiền lương tối thiểu
tiền lương tối thiểu phải đảm bảo mức sống tối thiểu, đảm bảo sự an toàn cuộc
sống cho người lao động trong toàn xã hội, là công cụ tấn công trực tiếp vào đói nghèo
18
của một quốc gia, làm giảm sự cạnh tranh không công bằng, chống lại xu hướng giảm
chi phí sản xuất kinh doanh đến mức không thỏa đáng, trong số này có chi phí lao
động, không cho phép chủ doanh nghiệp cắt giảm tiền lương một cách tùy tiện. Tiền
lương tối thiểu là căn cứ để xác định các mức lương khác. Theo nguyên tắc lao động
phức tạp là bội số của lao động giản đơn.
Tiền lương tối thiểu được xác định từ một số phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp 1: Dựa trên nhu cầu tối thiểu của người lao động về các tư liệu sinh
hoạt để đảm bảo bù đắp hao phí lao động tái sản xuất mở rộng sức lao động, theo đó
tiền lương tối thiểu đủ để mua các tư liệu sinh hoạt theo giá trị thặng dư để đảm bảo tái
sản xuất mở rộng sức lao động. Đây là phương pháp phổ biến mà các doanh nghiệp tại
Ví dụ thang lương nhóm, ngạch công chức loại B theo NĐ 204/2004/NĐ – CP
STT Nhóm
Ngạch Bậc
1
Công
Bậc
Bậc
Bậc
2
3
4
Hệ số lương theo bậc
Bậc Bậc Bậc Bậc
5
6
7
Bậc
BS1 = 4,06/1,86 = 2,183
Bội số của các thang lương khác nhau thì khác nhau phụ thuộc vào độ phức tạp
của lao động đối với mỗi ngành, nghề song luôn thấp hơn bội số lương chung so với
mức lương tối thiểu theo quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ – CP về tiền lương.
Việc xác định bội số lương cho mỗi thang lương tương ứng với lao động của
nhóm ngành nghề, công việc thường căn cứ thời gian học tập cần thiết để hoàn thành
công việc ở bậc thấp nhất và công việc có mức độ phức tạp cao nhất.
Hệ số tăng tuyệt đối giữa hai bậc lương của 1 thang lương là chênh lệch của hai
hệ số liên tiếp tương ứng với hai bậc lương liên tiếp trong thang lương.
Hệ số tăng tương đối của 1 bậc lương là tỷ lệ của hệ số tăng tuyệt đối và hệ số
lương trước đó liền kề.
Hệ số tăng tương đối có 3 loại
-Hệ số tăng tương đối đều đặn
-Hệ số tăng tương đối lũy tiến
21
-Hệ số tăng tương đối lũy thoái
d, Các khoản tiền phụ cấp và trợ cấp
Các khoản phụ cấp trong lương được Nhà nước quy định như sau:
Phụ cấp khu vực áp dụng với những nơi xa xôi hẻo lánh, có nhiều khó khăn và
khí hậu xấu, gồm các mức tương ứng bằng 0,1; 0,2; 0,3; 0,4; 0,5; 0,6; 0,7 và 1 so với
mức lương tối thiểu
Phụ cấp độc hại nguy hiểm áp dụng với những ngành nghề hoặc công việc có
điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm chưa xác định được trong mức lương, gồm 4
mức, tương ứng bằng 0,1; 0,2; 0,3; 0,4 so với mức lương tối thiểu.
Phụ cấp trách nhiệm áp dụng đối với một số nghề hoặc công việc đòi hỏi tính
trahs nhiệm cao hoặc phải kiêm nhiệm công tác quản lý không thuộc chức vụ lãnh đạo,
gồm ba mức tương ứng bằng 0,1; 0,2; 0,3 so với mức lương tối thiểu.
Phụ cấp làm đếm áp dụng đối với những công nhân viên chức làm việc từ 22h