NHÓM
Company
LOGO
2
CIVIL LAW
LUẬT SO SÁNH
THÀNH VIÊN
NHÓM 2 - Civil Law
Hoàng Thị Hồng Hà
Bạch Phạm Đăng Huy
Nguyễn Thị Diễm Phượng
Đinh Xuân Hiệp
Trịnh Ngọc Hồng Nhung
CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
NHÓM 2 - Civil Law
1. Lịch sử hình thành của hệ thống Civil Law
2. Các nguyên tắc của hệ thống Civil Law
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
4. Pháp điển hóa trong hệ thống Civil Law
5. Vai trò của thẩm phán
6. Tòa phá án
7. Giải thích Luật trong hệ thống Civil Law
Âu (cuối
thế kỷ
XVIII – đến
nay)
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
NHÓM 2 - Civil Law
1.1 GĐ LUẬT TẬP QUÁN (TRƯỚC TK XIII)
Code (Bộ luật Justinianus)
Digest (Tổng luận luật học Justinianus)
Institutes (Sách sưu tập các định chế
Justinianus
Novels (Luật mới ban hành bởi Hoàng đế
Justinianus).
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
NHÓM 2 - Civil Law
1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
NHÓM 2 - Civil Law
1.2 GĐ LUẬT THÀNH VĂN (TK XIII –
XVIII)
Thế kỷ XI kinh tế Tây Âu phát triển
Năm 1080, trường tổng hợp Bologna ở Ý được thành
lập. Thế kỷ XII đại học Paris thành lập
2. Các nguyên tắc của hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
Nguyên tắc khái quát hóa
Luật là những gì quy định trong các bộ luật,
được soạn thảo thành những nguyên tắc
chung để áp dụng cho mọi trường hợp.
Nguyên tắc ổn định
Những vấn đề của luật cần
được dự đoán trước và qui
định trong các văn bản luật.
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
Phân loại
Nguồn nội dung và nguồn hình thức
Nguồn chủ yếu (nguồn cơ bản) và nguồn
thứ yếu
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
1
2
Luật được hiểu theo nghĩa rộng là nguồn
đầu tiên và hầu như duy nhất của pháp luật
ở các nước “luật thành văn”.
Các quy phạm của “luật thành văn” do cơ
quan lập pháp hoặc hành pháp đưa ra,
được các nhà luật học giải thích và áp dụng
cho mỗi quyết định về mỗi vụ việc cu thể, đã
tạo nên hệ thống có thứ bậc: hiến pháp,
công ước quốc tế, các bộ luật, các quy chế,
sắc lệnh, và các thông tư.
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
Luật
Hiến pháp là cấp cao nhất của hệ thống dân
luật, là những quy phạm có tính tối thượng.
Ở một vài nước, tính tối thượng mang tính
chính trị, các điều khoản được thông qua
theo một trình tự đặc biệt
Công ước quốc tế có hiệu lực cao hơn nội
lực (hiến pháp). Việc giải thích công ước
quốc tế có thể được đưa vào thẩm quyền
của các tổ chức trên quốc gia.
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
xét xử của tòa án tạo ra và những quy phạm do các nhà lập
pháp thiết lập cũng có hai khác biệt quan trọng:
thực tiễn xét xử của tòa án hoạt động trong khuôn khổ do
nhà lập pháp lập ra cho pháp luật, trong khi hoạt động của
nhà lập pháp chính là sự thiết lập những khuôn khổ đó bị hạn
chế quyền giải thích pháp luật của tòa án
(ii) quy phạm do thực tiễn xét xử của tòa án tạo ra không
có được uy tín của những quy phạm lập pháp, không bền
vững, có thể bị hủy bỏ vào bất kỳ thời điểm nào phụ thuộc vào
vụ việc mới.
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
Học thuyết
Trong một thời gian dài, học thuyết đã từng là
nguồn chính của pháp luật ở các nước “pháp luật
thành văn” từ thế kỷ 13-18. Và chỉ cách đây không
lâu cùng với thắng lợi của các tư tưởng dân chủ và
pháp điển hóa sự thống trị của học thuyết mới được
thay bằng sự thống trị của luật.
Vai trò của học thuyết thể hiện ở chỗ chính nó đã tạo
ra ngân hàng và những khái niệm pháp luật mà nhà
lập pháp sử dụng, tạo ra những phương pháp để
hiểu pháp luật và giải thích các luật. Ngoài ra nó còn
đóng vai trò áp dụng luật.
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
vì những nguyên nhân có tính lịch sử.
Pháp có Hội đồng bảo hiến được thành lập năm 1958. Quyền
thỉnh cầu lên Hội đồng chỉ có ở một vài nhân vật cấp cao hoặc
nhóm đại biểu quốc hội không quá 60 thành viên và chỉ trước khi
luật được ban hành. Như vậy, Hội đồng bảo hiến không được coi là
tương đương với các tòa án hiến pháp ở các nước khác.
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
Nguồn luật của Pháp
2. Luật EU
3. Quy chế, sắc lệnh
Ngoài các đạo luật theo đúng nghĩa của từ “pháp luật thành văn”,
còn có vô số những quy phạm và chỉ dẫn do các cơ quan nhà nước
ban hành.
Hiếp pháp cộng hòa Pháp 1958 đã đưa vào thực tiễn tư tưởng về
việc Nghị viện chỉ cần phải có những thẩm quyền có khả năng được
thực hiện trên thực tế. Như vậy, phạm vi của luật bị giới hạn, nhà
lập pháp chỉ có quyền lập nên những nguyên tắc chủ đạo. Ngoài
quyền lập pháp của Nghị viện ra, Hiếp pháp công nhận sự tồn tại
của quyền lập quy không thuộc quyền lực lập pháp. Nguyên tắc này
đã làm nảy sinh vấn đề mới và Hội đồng bảo hiến có nhiệm vụ giải
quyết trong phạm vi luật và quy chế.
3. Nguồn luật trong hệ thống Civil Law
NHÓM 2 - Civil Law
toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật trong thực
tế.
5. Văn bản quy phạm pháp luật
Đây là loại nguồn hình thức chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất
của pháp luật, bởi lẽ, các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải
quyết các vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình
đều chủ yếu dựa vào các VBQPPL.