HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 7 LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHỨNG MINH VÀ GIẢI THÍCH - Pdf 34

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 7 LÀM BÀI VĂN
NGHỊ LUẬN CHỨNG MINH VÀ GIẢI THÍCH
MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở khoa học.
Môn Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong lĩnh vực khoa học
xã hội. Đây là môn học nghiên cứu và thể hiện các vấn đề mang tính xã hội, các
giá trị đạo đức nhân văn, tình cảm của con người. Trong luật Giáo dục Việt Nam
có ghi: “ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc”. Như vậy môn Ngữ văn có vai trò quan trọng góp phần thực hiện mục
tiêu giáo dục.
“ Văn học là nhân học”- M.Gooc- ki, có nghĩa là dạy văn là dạy cách làm
người. Văn học giúp chúng ta hiểu về cuộc đời, lẽ sống…vv từ đó ta hiểu về
mình. Từ đó ta biết cảm nhận những âm vang của cuộc sống, biết thế nào là
chân, thiện, mĩ. Người giáo viên là người giúp các em cảm nhận được những vẻ

1


đẹp đó. Rồi từ đó các em biết trình bày những quan điểm nhận xét, đánh giá về
các tác phẩm văn chương, biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn. Với
phương thức tạo lập văn bản ở bậc THCS thì kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận
là quan trọng nhất. Đặc biệt là ở học sinh lớp 7 khi học sinh bắt đầu được làm
quen với kiểu bài này.
2. Cơ sở thực tiễn.
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS, tôi nhận thấy: Ở

Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu văn nghị luận tôi nhận thấy
đây là một vấn đề lớn. Trong bài viết này tôi chỉ đề cập tới hướng dẫn học sinh
lớp 7 làm hai kiểu bài: Nghị luận chứng minh và nghị luận giải thích.
V. Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thiện chuyên đề này tôi sử dụng các phương pháp sau:
-

Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

-

Phương pháp điều tra sư phạm.

-

Phương pháp phân tích, tổng hợp.

-

Phương pháp so sánh, đối chiếu.

-

Phương pháp thống kê.

-

Phương pháp thực nghiệm.

VI. Kế hoạch nghiên cứu:

diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu, nhất quán. Luận điểm là linh hồn của bài văn nghị
luận. Luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng được nhu cầu thực tế thì mới
có sức thuyết phục.
2.2. Luận cứ:
Luận cứ trong bài văn nghị luận là những lý lẽ, dẫn chứng đưa ra để làm cơ
sở cho luận điểm, làm sáng tỏ cho luận điểm. Luận cứ phải đúng đắn, chân thật,
đáp ứng được nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục.
2.3. Lập luận:
Là cách nêu luận cứ để dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ, logic,
hợp lý thì bài văn mới có sức thuyết phục cao.
Từ những đặc điểm trên ta thấy sức thuyết phục của một bài văn nghị luận
trước hết toát lên từ nội dung sâu sắc, từ luận điểm rõ ràng, từ hệ thống lý lẽ và
dẫn chứng phong phú, xác đáng.
3. Bố cục của bài văn nghị luận:
Bài văn nghị luận có bố cục ba phần:
a. Mở bài: Nêu vấn đề có ý nghĩa đối với đời sống xã hội (luận điểm xuất
phát, tổng kết).
b. Thân bài: Trình bày nội dung chủ yếu của bài ( có thể chia thành nhiều
đoạn nhỏ, mỗi đoạn có một luận điểm phụ).
c. Kết bài: Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái độ, quan điểm của
bài.
4. Các bước làm bài văn nghị luận:
4.1. Tìm hiểu đề và tìm ý:
4.1.1.Tìm hiểu đề:
Giáo viên hướng dẫn học sinh khi tìm hiểu đề các em cần tập trung vào
những công việc sau:
Đọc kĩ đề bài, gạch chân những từ ngữ quan trọng để tìm hiểu và nắm bắt
yêu cầu đề ra.

5

+ Đối với cả văn chứng minh và giải thích vấn đề nghị luận thường được
chứa trong nội dung câu tục ngữ, ca dao, câu thơ, câu văn hay ý kiến, nhận định
(phần ở trong dấu ngoặc kép)

6


+ Vấn đề nghị luận có khi thể hiện rất rõ qua nội dung ý kiến, nhận định.
Nhưng cũng có khi ẩn trong nghĩa bóng, nghĩa rộng hay trong mối quan hệ giữa
các vế trong câu văn, giữa các câu trong đoạn văn.
Trường hợp này cần xác định nghĩa đen rồi từ đó khái quát thành nghĩa
bóng, tìm quan hệ giữa các vế câu ( nhân- quả, tương phản, điều kiện- hệ quả...)
rồi rút ra vấn đề.
- Phạm vi nghị luận: trong sách vở, thực tế cuộc sống, giới hạn nội
dung...)
4.1.2. Tìm ý:
Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi xoay quanh vấn
đề được đề yêu cầu:
Ví dụ: Cho đề văn sau:
“Gần mực thì đen gần đèn thì sáng”.
Hãy giải thích câu tục ngữ và lấy dẫn chứng trong thực tế đời sống để chứng
minh.
Giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi và trả lời các câu hỏi như
sau:
-

Nghĩa của câu tục ngữ là gì ? (Nghĩa đen, nghĩa bóng)

-


trượt băng. Ix-pen, một nhà văn Thụy Điển đã để hẳn một năm lao động xây
dựng bố cục cho bản trường ca và ông đã hoàn thành bản trường ca đó trong
vòng ba tháng.
Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn. Nói cách khác, đó là những hệ
thống suy nghĩ tìm tòi, nhận xét, đánh giá của học sinh dựa trên yêu cầu cụ thể
của đề bài. Lập dàn ý trước khi viết bài văn có những cái lợi như sau:
- Nhìn được một cách bao quát, toàn cục nội dung chủ yếu mà bài văn cần
đạt được, đồng thời thấy được mức độ giải quyết vấn đề nghị luận và đáp ứng
những yêu cầu đề bài đặt ra, tránh làm bài xa lệch trọng tâm.
- Thông qua việc lập dàn ý có điều kiện suy nghĩ sâu xa và toàn diện hơn
để điều chỉnh hệ thống luận điểm. Lập dàn ý sẽ tránh được tình trạng bỏ sót
những ý quan trọng hoặc tránh những ý thừa.
- Khi có dàn ý cụ thể người viết có thể chủ động phân chia thời gian cho
hợp lý. Tránh tình trạng bài làm mất cân đối “ đầu voi đuôi chuột”.
Dàn ý của một bài văn nghị luận gồm:
* Mở bài: - Dẫn dắt vấn đề nghị luận (xuất xứ, hoàn cảnh…)
- Nêu vấn đề nghị luận: Trích dẫn lại nhận định ý kiến hoặc
câu văn, câu thơ trong đề tài.
- Phạm vi giới hạn của đề.
* Thân bài: Trình bày các nội dung mà đề bài yêu cầu.
- Giới thiệu ý lớn thứ nhất ( Luận điểm 1).
+ Ý nhỏ thứ nhất để phân tích, chứng minh bằng lí lẽ, dẫn
chứng.
Sau đó chuyển sang ý nhỏ thứ hai…
- Giới thiệu ý lớn thứ hai….Cứ như vậy cho đến hết bài.
* Kết bài: - Tóm tắt, khẳng định ( mở rộng và nâng cao vấn đề).
- Rút ra suy nghĩ, bài học cho bản thân.
4.3. Viết bài:
a. Kĩ năng viết mở bài, kết bài:


- Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ nhân – quả: Bởi vậy, bởi thế, cho
nên, vì vậy, vì thế, chính vì vậy, chính vì thế, do đó, vậy nên, vì lí do trên…
- Từ ngữ liên kết các đoạn văn có quan hệ cụ thể - khái quát: Đối với
trường hợp này, đoạn văn trước mang ý nghĩa cụ thể, đoạn văn sau mang ý

9


nghĩa tóm tắt, tổng kết, khái quát. Từ ngữ liên kết được sử dụng ở đoạn văn sau
có thể là: Tóm lại, nhìn chung, nói tóm lại, vậy là tổng kết lại, chung qui lại.
* Cách dùng câu để liên kết:
- Câu nối có nhiệm vụ tóm tắt nội dung của đoạn trước và mở ra nội dung
của đoạn sau:
+ Không những A (nội dung đoạn trước) mà còn B (nội dung khái quát của
đoạn sau).
Ví dụ: Khi nghị luận về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi: “Nguyễn Trãi
không những là người giàu lòng yêu nước mà ông còn có tinh thần thương dân
sâu sắc…”
+… Càng A (nội dung đoạn trước) … càng B (nội dung khái quát của đoạn
sau).
Ví dụ: Khi nghị luận về bài thơ “Khi con tu hú” hoặc bài thơ “Nhớ đồng”
của Tố Hữu: “Bị giam cầm cách biệt với thể giới bên ngoài, càng cảm thấy cô
đơn bao nhiêu, nhà thơ (Tố Hữu) càng khao khát cuộc sống tự do bấy nhiêu…”
+ Nếu A (nội dung đoạn trước)… thì B (nội dung khái quát của đoạn sau).
Ví dụ khi nghị luận về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố:”… Nếu bọn quan lại
dâm dục, tham ô, tàn ác bao nhiêu thì bọn địa chủ lại bủn xỉn, keo kiệt bấy
nhiêu…”
- Dùng câu hỏi để tự mở ra một ý cho đoạn mới (đoạn văn sau):
+ Ví dụ 1: Khi nghị luận về câu tục ngữ Ăn quả nhớ người trồng cây: “…
Vấn đề đặt ra ở đây là, vì sao khi “ăn quả” ta phải nhớ đến “người trồng


Đặc điểm của văn bản nghị luận

3.

80

Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận

83

Tự học có hướng dẫn: Bố cục và phương pháp lập luận
trong bài văn nghị luận

4.

5.

87,88

Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh

6.

91

Cách làm bài văn lập luận chứng minh

7.


Luyện tập lập luận giải thích

13.

111

Luyện nói: bài văn giải thích một vấn đề

Viết bài tập làm văn số 5

11


II. Thực trạng của việc học làm văn nghị luận của học sinh lớp 7 Trường
THCS Nguyễn Viết Xuân:
1. Thực trạng:
Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy kiến thức làm văn nghị luận nói
chung và nghị luận chứng minh, nghị luận giải thích nói riêng của học sinh lớp 7
còn nhiều hạn chế.
- Với học sinh lớp 7, việc trình bày một ý kiến hay lí lẽ trong cuộc sống
thường ngày không phải là việc các em chưa từng làm. Tuy nhiên việc trình bày
ý kiến, quan điểm dưới dạng hệ thống với nhiều luận điểm lớn nhỏ, đòi hỏi có
lập luận chặt chẽ lại là việc không đơn giản chút nào.
- Qua khảo sát nhiều bài văn nghị luận của học sinh lớp 7 ( với hai kiểu:
chứng minh và giải thích) tôi thấy nổi bật mấy vấn đề sau:
+ Một số học sinh không biết mình cần phải trình bày nội dung gì, hoặc
nếu biết nội dung thì không biết trình bày cụ thể như thế nào.
+ Vốn kiến thức của đa số các em (về cuộc sống và sách vở) còn hạn hẹp,
và khả năng vận dụng kiến thức đã học từ các phân môn khác trong khi làm bài
chưa tốt.


- Về kết quả học tập:

12


Lớp

Tổng
số HS

Giỏi

Khá

TB

Yếu

TS

%

TS

%

TS

%


13,3

11

36,6

13

43,3

2

6,8

7C

30

8

26,6

10

33,3

10

33,3


13


Chứng minh là phép lập luận dùng những lý lẽ, bằng chứng chân thực,
đã được thừa nhận để chứng tỏ luận điểm mới (cần được chứng minh) là đáng
tin cậy.
Các lý lẽ bằng chứng trong văn chứng minh phải được lựa chọn, thẩm
tra, phân tích thì mới có sức thuyết phục.
1.2.

Các bước làm bài văn nghị luận chứng minh:

Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý
*Tìm hiểu đề: Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề, gạch chân những từ ngữ
quan trọng sau đó xác định yêu cầu chung của đề:
- Xác định kiểu bài? Kiểu bài nghị luận chứng minh được thể hiện qua các
từ: Hãy chứng minh, hãy làm sáng tỏ, chứng tỏ rằng
- Xác định vấn đề chứng minh?
- Xác định phạm vi dẫn chứng?
* Tìm ý: Muốn tìm được ý ta cần đặt câu hỏi để xác định các luận điểm
chính và luận điểm phụ. Xác định các thao tác lập luận.
Ví dụ: Đối với kiểu bài chứng minh để tìm ý có thể trả lời các câu hỏi:
- Vấn đề mà bài văn đưa ra có nghĩa là gì ?
- Vấn đề ấy được thể hiện như thế nào (trong đời sống, trong văn học, trong
quá khứ, ở hiện tại, tương lai…)
- Từ những điều trên , có thể rút ra bài học gì trong cuộc sống?
Ví dụ: Cho câu tục ngữ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” chứng minh câu tục
ngữ trên. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm ý như sau:
- Vấn đề mà đề bài đưa ra là chứng minh truyền thống ăn quả nhớ người

Dẫn chứng: Lá lành đùm lá rách.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Phần kết bài:
- Rút ra bài học.
- Cần phải giữ gìn và phát huy tinh thần đoàn kết trong mọi thời đại.
Ví dụ 2: Nhân dân ta thường nói: “Có chí thì nên” chứng minh câu tục ngữ
trên.

15


Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập dàn ý như sau:
Mở bài: Nêu vai trò quan trọng của lý tưởng, ý chí và nghị lực trong cuộc
sống mà câu tục ngữ đã đúc kết. Đó là một chân lý.
Thân bài:
- Xét về lý:
+ Chí là điều cần thiết để con người vượt qua mọi trở ngại.
+ Không có chí thì không làm được gì.
- Xét về thực tế:
+ Những người có trí thì đều thành công (Dẫn chứng).
+ Chí giúp chúng ta vượt qua những khó khăn tưởng chừng như không thể
vượt qua được (nêu dẫn chứng).
Kết bài:
Mọi người nên tu dưỡng ý chí, bắt đầu từ những việc nhỏ, để khi ra đời làm
được việc lớn hơn.
Bước 3: Viết bài.
Giáo viên hướng dẫn học sinh viết từng đoạn, từ mở bài cho đến kết bài.

Sau đó viết đoạn văn phân tích lý lẽ: yêu cầu cần chú ý tính logic, chặt
chẽ
Viết đoạn văn nêu dẫn chứng tiêu biểu….
Ví dụ: Chứng minh câu nói sau đây: Một cuốn sách tốt là một người bạn
hiền.
Ta có thể hướng dẫn học sinh viết đoạn văn bằng lý lẽ như sau:
Cũng giống như bạn, có bạn tốt và bạn xấu, sách cũng có những cuốn sách
tốt và những cuốn sách xấu. Những cuốn sách xấu sẽ đầu độc đầu óc chúng ta
bởi những tư tưởng thấp kém, xuyên tạc sự thật, không lành mạnh, đồi trụy.
Không những thế, nó còn kích động con người, dẫn đến những hành vi bạo lực,
thấp kém, xấu xa. Đó là những người bạn xấu mà chúng ta phải tránh xa. Vì
vậy, trong cuộc sống ta phải biết chọn sách mà đọc. chọn được một cuốn sách
tốt cũng chính là tìm được một người bạn hiền.
* Yêu cầu về dẫn chứng và cách trình bày dẫn chứng:
Tiêu chí về dẫn chứng:
+ Số lượng: Dẫn chứng phải nhiều, phải có hàng loạt dẫn chứng.
+ Chất lượng: Dẫn chứng phải hay, tiêu biểu, điển hình và toàn diện.

17


+ Dẫn chứng phải sát đề, phải hướng vào luận đề hoặc luận điểm, hướng
vào từng khía cạnh của luận đề (vấn đề trong đề bài một cách khái quát, vấn đề
đó được thể hiện rõ bằng luận điểm.)
+ Dẫn chứng phải được trình bày theo một trình tự hợp lý: theo trình tự hệ
thống luận điểm; theo trình tự thời gian; theo trình tự không gian
Cách chép dẫn chứng:
+ Nếu dẫn chứng là một câu văn câu thơ phải chép thật đúng, thật chính
xác, phải đặt vào dấu ngoặc kép, chú thích tên tác giả, tác phẩm.
+ Muốn đưa dẫn chứng phải có lời dẫn (giải thích, giới thiệu-> dẫn chứng

-

Nếu mở bài đi thẳng vào vấn đề thì kết bài cũng nêu ngay bài
học.

Ví dụ: “Mỗi người chúng ta nên tu dưỡng ý chí, hoài bão, nghị lực để làm
được những gì ta mong muốn”.
-

Nếu mở bài suy từ cái chung đến cái riêng thì có thể kết bằng ý:

Ví dụ: “ Mỗi người chỉ sống có một lần, chỉ có một thời tuổi trẻ, nếu không
có ý chí hoài bão, nghị lực để làm một công việc xứng đáng, chẳng phải là tiếc
lắm hay sao?”
-

Nếu mở bài bằng cách suy từ tâm lý ngại khó, thì nên kết bằng ý:

Ví dụ: “Cho nên có hoài bão tốt đẹp là rất đáng quý, nhưng đáng quý hơn
nữa là nghị lực và niềm tin, nó đảm bảo cho sự thành công của con người”.
Bước 4: Đọc lại và sửa lỗi:
Sau khi hướng dẫn học sinh viết bài xong, giáo viên nên hướng dẫn học
sinh thói quen đọc lại bài và sửa những lỗi như: Lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt
câu, lỗi liên kết giữa các phần trong bài xem đã hợp lý chưa. Nếu cần thiết và
hợp lý phải chỉnh sửa lại cho hoàn chỉnh.
2. Kiểu bài giải thích.
2.1. Khái niệm:
- Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ các tư tưởng,
đạo lí, phẩm chất, quan hệ,…cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí
tuệ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con người.

điểm chính cần phải rút ra là lời khuyên thực hiện tốt một điều nào đó, một đạo
lý nào đó)
Ví dụ: Tìm hiểu đề bài: “Tính trung thực”, ở bước tìm hiểu đề, trước hết
học sinh phải rút ra những yêu cầu cơ bản:
- Thể loại: giải thích
- Luận điểm tổng quát ( vấn đề cần giải thích): tính trung thực.
- Luận điểm chính: chúng ta phải rèn luyện đức tính trung thực.
Trên cơ sở đó, học sinh tìm ra các luận điểm triển khai:
- Tính trung thực là gì?
- Tính trung thực có vai trò quan trọng như thế nào (vì sao phải rèn luyện
tính trung thực)?
- Rèn luyện tính trung thực như thế nào?

20


b. Tìm ý:
Phần này giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi.
- Đặt câu hỏi thứ nhất và trả lời câu ấy: Nghĩa là gì? Đây là loại câu hỏi đặt
ra khi ta cần giải nghĩa một khái niệm trong câu trích của luận đề.
Ví dụ: Giải thích câu: “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Gặp đề này chúng ta phải cắt nghĩa hai từ, hai khái niệm: “Độc lập”, “Tự
do”. Và đặt câu hỏi tìm lý lẽ sẽ là: “ Độc lập” nghĩa là gì?, “Tự do” nghĩa là
gì?.
+ Độc lập: một nước giữ được chủ quyền chính trị, kinh tế và toàn vẹn lãnh
thổ, không thể để nước khác can thiệp vào, không bị ngoại bang nô dịch, thống
trị.
+ Tự do: quyền được sống và làm theo ý mốn của mình, miễn là không
xâm phạm đến quyền lợi của người khác. Tự do là quyền công dân. Thân phận
nô lệ là mất tự do. Nước được độc lập, nền dân chủ được mở rộng, thì mới có tự

* Thân bài:
- Giải thích câu tục ngữ: thất bại là nguồn gốc, động lực của thành công.
Nói cách khác, có thất bại mới có thành công.
- Tại sao nói “Thất bại là mẹ thành công”?
+ Thất bại giúp người ta có được những kinh nghiệm quý giá cho lần sau,
thất bại khiến ta hiểu được nguyên nhân vì sao ta chưa thành công, từ đó tìm ra
cách khắc phục.
+ Thất bại là động lực để con người cố gắng, nỗ lực cho bản lần sau: thất
bại khiến cho con người ta càng khao khát thành công hơn, càng cố gắng nghiên
cứu tìm tòi.
+ Nêu dẫn chứng để lời giải thích có sức thuyết phục.
* Kết bài:
- Khẳng định giá trị của câu tục ngữ: là lời khuyên đúng đắn, chỉ ra động
lực, nguồn gốc của thành công.
- Liên hệ bản thân: Gặp thất bại nhưng không nản chí mà tiếp tục học hỏi
để tiến bộ vươn lên thành công.
2.2.3. Bước 3: Viết bài:
2.2.3.1. Kỹ năng viết đoạn mở bài: (Luận điểm xuất phát).
Khi đã học văn nghị luận thì học sinh đã rõ 3 nội dung chính phải có của
phần mở bài là: dẫn dắt; nêu vấn đề; định hướng. Có nhiều cách mở bài khác
nhau và sự khác nhau này nằm ở phần dẫn dắt.
*Cách dẫn dắt:
22


Trước kia sách giáo khoa thường chia làm 2 cách dẫn dắt: trực tiếp và gián
tiếp. Theo chúng tôi có rất nhiều cách dẫn dắt, với học sinh cấp THCS thì nên
hướng dẫn một số cách dẫn dắt sau:
+ Dẫn dắt đi thẳng vào vấn đề. Đây là cách dẫn dắt dễ nhất, ngắn gọn nhất
nhưng nó thường khô khan nếu không khéo léo trong diễn đạt. Cách dẫn dắt này


“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
(8). Gần đây, nếu ai theo dõi VTV3 hẳn không quên chương trình truyền
hình trực tiếp Đêm trắng, Một nụ cười, Một cuộc đời…Theo dõi chương trình
này, chúng ta càng thấm thía lời dạy bảo của cha ông…
- Cách nêu vấn đề giải thích: Bước này, phần lớn ở các mở bài giải thích
đều giống nhau, đều chỉ cần một vài câu ngắn gọn nêu đầy đủ, chính xác vấn đề
cần giải thích. Với đề bài có đưa dẫn câu nói, câu văn thơ, câu ca dao tục ngữ,
thì phần này người nghị luận cũng phải trích dẫn ra câu nói, câu văn thơ hay câu
ca dao tục ngữ ấy.
- Cách nêu bước định hướng: Đây là bước kết thúc của một mở bài giải
thích. Bước này có thể có hoặc không có cũng được. Nếu có, nó luôn có dạng
một câu hỏi: Ta cần hiểu câu nói (câu văn thơ, câu ca dao tục ngữ…) như thế
nào?
Nói tóm lại, có nhiều cách mở bài cho một bài văn giải thích. Các
cách mở bài này khác nhau ở bước dẫn dắt còn bước nêu vấn đề và bước định
hướng thường là giống nhau.
Sau đây là các mở bài trọn vẹn cả ba bước của các ví dụ trên:
+ Cách dẫn dắt trực tiếp: “ Dân tộc ta vốn có truyền thống tôn trọng
nếp sống ân nghĩa. Nếp sống này được cha ông ta ghi lại trong câu tục ngữ: “Ăn
quả nhớ kẻ trồng cây ”. Ta cần hiểu câu tục ngữ này như thế nào?
+ Cách xuất phát từ vấn đề bao quát: “Người Việt Nam chúng ta luôn
tự hào về kho tàng ca dao tục ngữ phong phú của mình. Ca dao tục ngữ không
chỉ là người bạn tâm tình mà còn là người thầy daỵ bao điều hay lẽ phải. Dạy
chúng ta biết sống ân nghĩa, tục ngữ có câu: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
+ Cách xuất phát từ xuất xứ của vấn đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị
lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta. Dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn luôn quan
tâm đến sự nghiệp giáo dục. Trong lá thư gửi học sinh trong ngày khai trường
đầu tiên Người đã dạy: “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,

+ Nếu câu ca dao tục ngữ dùng hình ảnh so sánh thì phải xác định
được vế A (vế được so sánh), vế B (vế đem ra để mà so sánh). Ta phải giải nghĩa
vế B trước để từ đó ta hiểu vế A. Chẳng hạn giải nghĩa câu tục ngữ “Thương
người như thể thương thân” thì phải từ vế B (thương thân): thương yêu quí
trọng bản thân, chăm lo cho bản thân, làm điều tốt cho bản thân. Từ đó ta hiểu
vế A (thương người): thương yêu quí trọng người khác, chăm lo cho người khác,
tạo điều kiện tốt cho người khác…như đối với chính bản thân mình.
+ Nếu là hình ảnh ẩn dụ thì phải hiểu từ nghĩa đen ra nghĩa bóng.
Chẳng hạn giải nghĩa câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, ta phải giải nghĩa
đen: khi ta ăn những trái cây thơm mát ngon lành, tận hưởng vị ngọt ngào của
trái cây thì ta phải nhớ đến công sức của con người đã không quản ngại vất vả

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status