Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ
HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU
HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ.
1.1 Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và vai trò của nó đối với sự phát
triển kinh tế-xã hội và quốc phòng an ninh.
1.1.1 Vài nét khái quát về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ .
1.1.2 Vai trò của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với sự phát
triển kinh tế-xã hội, chính trị và quốc phòng an ninh..
1.2 Đặc điểm đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
1.3 Nguồn vốn tham gia đầu tư vào kết cấu hạ tâng giao thông đường bộ.
1.2.1 Khái niệm chung về nguồn vốn đầu tư.
1.2.2 Các nguồn vốn tham gia đầu tư vào kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ.
1.4 Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TRONG THỜI GIAN VỪA QUA.
2.1 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội và hạ tầng giao
thông đường bộ ở Việt Nam trong thời gian qua.
2.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên.
SV: Ngô Văn Thiềm
1
3.2.3 Về nguồn vốn nước ngoài.
3.2.4 Về cơ chế chính sách huy động vốn từ tư nhân (PPP)
3.2.5 Một số cơ chế chính sách huy độngkhác từ nhân dân.
3.4 Điều kiện thưc hiện giải pháp.
SV: Ngô Văn Thiềm
2
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Giao thông đường bộ là một bộ phận quan trong của giao thông vận tải
nói riêng và của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung, nó có vai
trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đóng góp to lớn vào nhu cầu
đi lại của nhân dân, nâng cao giao lưu với các vùng, xoá đi khoảng cách về
địa lý, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý phát huy lợi thế của từng
vùng, từng địa phương, từng ngành, xoá đói giảm nghèo, củng cố an ninh
quốc phòng…Tuy nhiên hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ giao thông
đường bộ của nước ta trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế làm cản
trở nhiều tới mục tiêu phát triển chung của đất nước, làm giảm khả năng thu
hút vốn đầu tư vào nền kinh tế đặc biệt là các nguốn vốn nước ngoài và giảm
tốc độ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, cản trở tiến trình hội nhập kinh
tế khu vực và trên thế giới.
Để có thể phát huy được tối đa vai trò của mình thì yêu cầu đặt ra là
pháp, kiến nghị nhằm tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam.
*Phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng công tác huy
động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở
Việt Nam.
- Phương pháp nghiên cứu sử dụng: phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mac – Lênin là cở sở phương pháp luận, Kết hợp lý luận với phân tích
thực tế, thực trạng của công tác huy động các nguồn vốn đầu tư, kết hợp
phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, diễn giải, so sánh, phỏng vấn,
nghiên cứu tài liệu và kế thừa các kết quả đã nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của đề tài được chia ra làm ba phần:
Chương 1 : Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và huy động các
nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Chương 2 : Thực trạng huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng giao thông đường bộ trong thời gian vừa qua.
Chương 3 : Giải pháp tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
SV: Ngô Văn Thiềm
4
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
tư phát triển kết cấu hạ tầng vì vậy trước khi tìm hiểu hiểu về khái niệm triển
kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm chung về
kết cấu hạ tầng.
Kết cấu hạ tầng ngày càng được sử dung nhiều hơn với thuật ngữ khoa
học trong các công trình nghiên cứu và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
cao cấp. Nhìn nhận một cách tổng quát chúng ta có thể hiểu :Kết cấu hạ tầng
là toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện
của một quốc gia từ kinh tế - xã hội cho đến bảo đảm quốc phòng, an ninh,
góp phần bảo vệ môi trường và phục vụ đời sống nhân dân.
Hệ thống kết cấu hạ tầng thường được chia thành 2 nhóm chính:
- Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế (bao gồm: hệ thống giao thông vận
tải, thủy lợi, cấp thoát nước, điện, khí, viễn thông,…)
- Hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội (bao gồm: trường học, bệnh viện, cơ
sở văn hóa, nghiên cứu khoa học, công trình công cộng, nhà ở, công trình bảo
vệ môi trường...).
Đặc trưng thứ nhất của kết cấu hạ tầng là có tính thống nhất và đồng bộ,
giữa các bộ phận có sự gắn kết hài hoà với nhau tạo thành một thể vững chắc
SV: Ngô Văn Thiềm
6
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
đảm bảo cho phép phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống. Đặc
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
Đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Những đóng góp tích cực của hệ thống giao thông đường bộ vào sự phát triển
kinh tế là rất rõ ràng và được thế hiện ở các vai trò sau:
- GTĐB góp phần thu hút đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước
ngoài, rút ngắn được khoảng cách địa lý giữa các tỉnh thành trong cả nước do
đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, rút ngắn trình độ phát triển kinh tế
giữa các địa phương, tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của từng địa
phương và thúc đẩy các địa phương phát triển kinh tế.
- GTĐB góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
thông qua kích thích tạo việc làm và tăng năng suất lao động.Sự phát triển của
hạ tầng giao thông đường bộ đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng
GDP của Việt Nam trong thời gian qua.Các công trình GTĐB sẽ thu hút một
lượng lớn lao động do đó góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho quốc
gia, mặt khác khi vốn đầu tư cho hệ thống GTĐB lớn sẽ kích thích thu hút
vốn đầu tư cho các ngành trực tiếp sản xuất sản phẩm phục vụ cho sự phát
triển của các công trình giao thông như sắt, thép, xi măng, gạch …
- Hạ tầng GTĐB phát triển sẽ đóng góp tích cực vào việc tiết kiệm chi
phí và thời gian vận chuyển, từ đó tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm,
kích thích tiêu dùng và phát triển của các ngành khác.
Phát triển văn hoá-xã hội.
Phát triển văn hoá xã hội là phát triển đời sống tinh thần của người dân,
điều nay góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của quốc gia.Dân số
Việt Nam năm 2012 là khoảng hơn 88 triệu người đến từ các dân tộc khác
Bảo đảm an ninh quốc phòng.
Hệ thống GTĐB đóng góp tích cực vào việc giữ gìn trật tự an ninh xã
hội, và bảo vệ quốc phòng.Với hạ tầng GTĐB hiện đại sẽ giảm thiểu đuợc
tình trạng ùn tắc đường đang xảy ra trong thời gian qua đặc biệt là ở các thành
phố lớn, giảm tai nạn giao thông, giữ gìn trật tự xã hội. Đây là một trong
những vấn đề mà đảng và chính phủ đang rất quan tâm.
Hơn nữa, hệ thống GTĐB phát triển sẽ góp phần bảo vệ biên giới của đất
nước.GTĐB phát triển góp phần nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức của
người dân đặc biệt là các dân tộc ở vùng xâu vùng xa từ đó đảm bảo sự ổn
định về chính trị quốc gia.
SV: Ngô Văn Thiềm
9
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
Đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế.
Hội nhập và giao lưu kinh tế về mọi mặt đang là xu hướng diễn ra mạnh
mẽ giữa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới và Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu hướng đó.Hiện nay thì hạ tầng GTĐB của nước ta còn ở
mức yếu so với các nước trong khu vực nên ảnh hưởng lớn khả năng hội nhập
và giao lưu với các nước.Chính vì vậy mà Việt Nam đang xúc tiến để xây
dựng các hệ thống đuờng xuyên quốc gia góp phần mở rộng giao lưu kinh tế
và văn hóa giữa các nước.
nhiều hạn chế nên nhiều công trình xây dựng không phát huy được hiệu quả
cần thiết.
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư phát triển thì đầu
tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ cũng có những đặc điểm riêng của
nó:
- Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ mang tính hệ thống và
đồng bộ:
Tính hệ thống và đồng bộ là một đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
phát triển hạ tầng giao thông đường bộ.Tính hệ thống và đồng bộ được thế
hiện ở chỗ mọi khâu trong quá trình đầu tư phát triển hạ tầng giao thông
đường bộ đều liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng của hoạt động đầu tư: bất kì sai lầm nào từ khâu kế hoạch hoá hệ thống
giao thông đường bộ đến khâu lập dự án hay thẩm định các dự án đường bộ…
cũng sẽ ảnh hưởng đến quá trình vận hành của toàn bộ hệ thống đường bộ và
gây ra những thiệt hại lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã
hội.Tính hệ thống và đồng bộ không những chi phối đến các thiết kế,quy
hoạch mà còn được thế hiện ở cả cách thức tổ chức quản lý theo ngành và
theo vùng lãnh thổ.Chính đặc điểm này đã đòi hỏi khi lập kế hoạch, quy
hoạch, chiến lược phát triển hạ tầng giao thông đường bộ không được xem xét
tới lợi ích riêng lẻ của từng dự án mà phải xét trong mối quan hệ tổng thể của
toàn bộ hệ thống để đảm bảo được tính đồng bộ và hệ thống của toàn bộ mạng
lước hạ tầng giao thông đường bộ tránh tình trạng có một vài dự án ảnh hưởng
đến chất lượng của toàn bộ hệ thống.
- Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ mang tính định hướng:
Đây là đặc điểm xuất phát từ chức năng và vai trò của hệ thống giao
thông đường bộ.Chức năng chủ yếu của giao thông đường bộ là thoả mãn nhu
cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá của người dân cũng như của các doanh
SV: Ngô Văn Thiềm
Các công trình giao thông đường bộ là những hàng hoá công cộng vì mục
đích sử dụng của nó là để phục vụ cả chức năng sản xuất và đời sống; là tổng
hoà mục đích của nhiều ngành, nhiều người, nhiều địa phương và của toàn xã
hội. Điều này cho thấy đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ cần phải
giải quyết cả mục tiêu phát triển kinh tế và cả mục tiêu cộng đồng mang tính
chất phúc lợi xã hội. Điều này là rất quan trọng đặc biệt là đối với các nước
SV: Ngô Văn Thiềm
12
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
đang phát triển như Việt Nam trong điều kiện NSNN của hạn hẹn cùng với đó
là thu nhập của người dân vẫn còn thấp nên không thế đáp ứng hết nhu cầu
đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ.
1.3 Nguồn vốn tham gia đầu tư vào kết cấu hạ tâng giao thông đường bộ.
1.3.1 Khái niệm chung về nguồn vốn đầu tư.
Vốn là một nhân tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất xã hội, là
toàn bộ tài sản mà nền kinh tế có được trong quá trình xây dựng và phát
triển.Nó đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển của mọi hình thái kinh tếxã hội.Về bản chất vốn đầu tư là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có
thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội và vốn đầu tư
được thể hiện dưới hai hình thái là hiện vật và giá trị.Vốn hiện vật không chỉ
tồn tại dưới dạng các tài sản hữu hình như các loại máy móc, nhà xưởng, thiết
bị… mà nó còn tồn tại dưới dạng các tài sản vô hình như bằng phát minh sáng
nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn của doanh
nghiệp nhà nước), vốn từ khu vực tư nhân ( tiền tiết kiệm của dân cư, vốn
tích luỹ của các doanh nghiệp tư nhân và các hợp tác xã)
- Vốn nước ngoài: bao gồm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI),
Vốn đầu tư gián tiếp ( vốn tài trợ phát triển chính thức- ODF trong đó viện trợ
phát triển chính thức – ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu, nguồn tín dụng từ các
ngân hàng thương mại và nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế).
Trong các nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài thì nguồn vốn
nước ngoài đóng vai trò là cú hích cho sự phát triển của một quốc gia đang
phát triển như Việt Nam.
1.3.2 Các nguồn vốn tham gia đầu tư vào kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội được hình thành từ 5 nguồn, đó
là vốn ngân sách nhà nước ( gồm cả vốn ODA và vốn viện trợ), vốn tín dụng
đầu tư, vốn do các doanh nghiệp nhà nước đầu tư, vốn đầu tư trong dân
cư và tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI).
Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (bao gồm cả ODA, vốn viện
trợ, tài trợ của quốc tế cho Chính phủ Việt Nam) chủ yếu được đầu tư trực
tiếp cho kết cấu hạ tầng ở cả nông thôn và đô thị. Nguồn vốn đầu tư từ
ngân sách nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng, tạo dựng nền tảng và
điều kiện ban đầu để thu hút các nguồn vốn khác tập trung cho đầu tư phát
SV: Ngô Văn Thiềm
14
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
1.3 Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ.
Để huy động vốn cho đầu tư kết cấu hạ tầng GTĐB có các hình thức sau:
+ Phát hành trái phiếu: Đây là một hình thức vay nợ trong đó thể hiện
cam kết của người phát hành sẽ thanh toán một sô tiền xác định vào một
ngày xác định trong tương lai với một mức lãi nhất định cho chủ sở hữu nó.
Các chủ thể phát hành trái phiếu có thể là Chính phủ, chính quyền địa
phương hay các công ty. Trái phiếu Chính phủ phát hành nhằm mục tiêu
cân bằng ngân sách, thực hiện các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và được
đảm bảo bằng ngân sách quốc gia. Trái phiếu của chính quyền địa phương
phát hành để tài trợ cho các dự án xây dựng của địa phương. Các công ty
phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển.
+ Đổi đất lấy công trình: là một chính sách, biện pháp tạo vốn để xây
dựng phát triển hạ tầng giao thông.. Trong xây dựng hệ thống đường giao
thông, ở những nơi có tuyến đường chạy qua, giá trị của đất đai hai bên
đường sẽ tăng lên. Vì vậy, khi xây dựng tuyến đường, ở điều kiện cho phép
nên giải phóng mặt bằng rộng ra hai bên từ 50- 100 m để sau khi hoàn thành
công trình sẽ chuyển nhượng đất hai bên đường để bù vào tiền giải phóng
mặt bằng và tiền đầu tư xây dựng tuyến đường.
+ Huy động vốn đầu tư theo hình thức BOT: Đây là hình thức đã và
đang được triển khai với nhiều dự án trong ngành GTVT. Để giảm chi tiêu
công cộng từ ngân sách, nhiều quốc gia đã tìm kiếm hình thức đầu tư mới
hướng và sử dụng nguồn vốn, nhân lực của khu vực dân doanh ở trong và
17
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG
THỜI GIAN VỪA QUA.
2.1 Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội và hạ tầng
giao thông đường bộ ở Việt Nam trong thời gian qua.
2.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên.
-Vị trí: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở vị trí gần như
trung tâm Đông Nam Á. Phía Bắc giáp với TRung Quốc, phía Tây giáp với
Lào và Campuchia, phía Đông và phía Nam giáp với biển Đông. Nhìn trên
bản đồ, dải đất liền Việt Nam có hình dáng lượn cong hình chữ S, kéo dài từ
Bắc xuống Nam, trên đó quần tụ 54 dân tộc lớn nhỏ anh em trong đại gia
đình các dân tộc Việt Nam. Thử đô là thành phố Hà Nội, tính đến năm 2012
dân số Việt Nam khoảng gần 89 triệu người.
Việt Nam có diện tích đất liền là 331.689 km 2. Ngày 12/5/1977, Chính
phủ Việt Nam đã tuyên bố lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng tiếp giáp lãnh thổ
rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế hợp với lãnh hải Việt Nam thành một
vùng biển rộng 200 hải lý. Nước Việt Nam có ba mặt giáp biển, có bờ biển
dài khoảng 3620 km từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Nam.
-Về địa hình: Việt Nam có địa hình tương đối đặc biệt, rất đa dạng và
phức tạp. Nó được chia là ba vùng gồm Vùng Đồng Bằng, Vùng Trung Du
dẫn tới tình trạng lũ lụt xảy ra thường xuyên. Nhưng lượng nắng cũng cao,
đặc biệt là khu vực miền Trung, gây ra hạn hán ảnh hưởng nhiều đến phát
triển kinh tế, gây hư hại rất lớn đến các công trình giao thông vận tải.
-Về tài nguyên: Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong
phú, cs đủ các loại khoáng sản nhưn than, đồng, nhôm, sắt... thủy điện
nhưng nó phân bổ rời rạc, không đồng đều, dẫn đến khó khăn trong khai
thác và sử dụng, tài nguyên rừng lớn, biển cũng nhiều tài nguyên được ví là
SV: Ngô Văn Thiềm
19
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
“ Rừng vàng, biển bạc”. Nhưng những năm gần đây đang bị cạn kiệt dần, bị
ô nhiễm nghiêm trọng như nạn phá rừng, đốt nương làm rẫy... làm thiệt hại
hệ thống GTVT.
Với đặc điểm tự nhiên của đất nước cho thấy GTVT chủ yếu là đường
bộ. Những đặc điểm của đường bộ phù hợp với điều kiện phát triển ở Việt
Nam do tính cơ động cao, điều kiện xây dựng ít tốn kém hơn so với đường
sắt, đường hàng không và đường thủy.
Tuy nhiên, việc xây dựng đường bộ cũng rất khó khăn. Chi phí xây dựng
đường cao trong khi vốn đầu tư lại ít, điều kiện địa hình phức tạp
2.1.2 Tình hình kinh tế và nhu cầu phát triển.
Sau khi giành được độc lập, nước ta tiến hành xây dựng đất nước theo
con đường xã hội chủ nghĩa và đã đạt được nhiều thành quả trong mọi lĩnh
với 7-8% giai đoạn trước). 2008 là một năm không vui với tăng trưởng GDP
của Việt Nam khi tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt ~6,23%, thấp nhất kể từ
năm 1999. Các năm 2007-2008, lạm phát tăng tốc và hàng năm đều ở mức
10-20%. Năm 2009, tốc độ tăng trưởng GDP tụt xuống còn 5,3%, năm 2010
là 6,78% , năm 2011 là 5,89%, và tới năm 2012 là 5,03%.
Kinh tế Vĩ mô bất ổn định, lạm phát năm 2011 lên tới trên 20%. Trong
năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng ba lần áp dụng biện pháp
phá giá đồng tiền VND. Ngày 11/2/2011, VND bị phá giá 9,3%. Mặc cho
các cuộc phá giá liên tục, tình trạng thâm hụt mậu dịch vẫn tiếp diễn, dù
mức thâm hụt năm 2011 đã giảm xuống thấp nhất kể từ năm 2000.
Sang năm 2012, do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân,nền kinh tế Việt
Nam lâm vào tình thế rất khó khăn, trong đó nổi bật là nợ xấu ngân hàng và
hàng tồn kho tăng cao, thị trường Bất động sản và Chứng khoán suy thoái,
đặc biệt là thị trường bất động sản suy thoái nghiêm trọng Một số lượng lớn
các doanh nghiệp phá sản. Đa số các doanh nghiệp lâm vào khó khăn. Nhiều
tập đoàn lớn, đa số là các tập đoàn nhà nước đầu ngành lỗ hàng nghìn tỷ, nợ
xấu hàng trăm tỷ. Tính chung hai năm 2011 và 2012 thì tổng số DN rời khỏi
thị trường bằng 20 năm trước đó. Và trong số gần 500.000 DN đang hoạt
động thì tỷ lệ thua lỗ cũng rất cao. Nợ xấu của toàn nền kinh tế tăng cao và
tăng với tốc độ nhanh đe doạ sự ổn định của nền kinh tế. Tuy nhiên cán cân
thương mại trong giai đoạn này đã khởi sắc khi mức nhập siêu đã giảm dần,
và năm 2012 là năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu kể từ năm 1992.
SV: Ngô Văn Thiềm
21
CQ47/01.03
nghèo của các vùng nông thôn.
SV: Ngô Văn Thiềm
22
CQ47/01.03
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
Không chỉ tập trung phát triển về mặt số lượng, lượng vốn đấu tư trong
thời gian qua cũng tập trung xây dựng các tuyến đường cầu theo tiêu chuẩn
quốc tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế như tuyến Bắc
Thăng Long- Nội Bài, đường cao tốc Pháp Vân, hoàn thành xây dựng hầm
đường bộ qua đèo Hải Vân…hay một số dự án đang tiến hành triển khai như
đường Láng Hoà Lạc, tuyến đường Hồ Chí Minh…
Mặc dù đã có những kết quả vượt bậc trong thời gian qua song hệ thống
đường bộ của nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.Hiện nay Việt Nam có
tổng chiều dài mạng lưới đường bộ tương đối lớn với khoảng trên 222.179
km:
Bảng 2.1: Mạng lưới giao thông đường bộ hiện nay
STT
Tuyến
Đơn vị
Số lượng
20.2
4
Đường xã,thôn
Km
131.455
59.2
5
Đường đô thị
Km
6.654
3.0
Toàn tuyến
Km
222.179
100%
Hệ thống
Đơn
Đường
Tổng
đường
vị
đất
số
Quốc lộ
600
2.254
17.295
83.5
11.657
553
60.7
Đường đô thị
Km
2.922
52.446
76.086
131.455
2.2
Tổng số
Km
42.167
55.744
124.26
222.179
19.0
Luận văn cuối khóa
Học viện tài chính
Mặc dù có chiều dài là trên 17.295 km với tỉ lệ đã trải mặt trên 83.5%
nhưng tỉ lệ đường cao tốc của nước ta còn quá nhỏ bé,và hầu như là không
có.Trong khi tỉ lệ đường cao tốc của các nước trong khu vực là khá
cao:Singapore 4.44%, Hàn Quốc 2.45%, Thái Lan 0.18%...
Chính vì vậy hệ thống đường quốc lộ của nước ta vẫn cần phải đầu tư
xây dựng nhiều để có thể theo kịp với các nước trong khu vực.
*Về đường tỉnh và nông thôn: Số lượng xã chưa có đường đến trung
tậm huyện ngày càng giảm, đến nay chỉ còn dưới 200 xã và chỉ chiếm
khoảng 2% trong số 10500 xã, số xã chưa có đường tập trung ở vùng xâu
vùng xa.Sau đây là hiện trạng hệ thống giao thông nông thôn:
Bảng 2.3: Hạ tầng giao thông nông thôn tính đến năm 2010
Vùng
Đơn vị
Tổng
Đường xã
29989
Đường
huyện
9286
Bắc Trung Bộ
9505
Tây Nguyên
Km
8830
2922
5908
Đồng bằng sông Cửu Long Km
41522
8402
33120
Tây Bắc
Km
8490
2704
5786
SV: Ngô Văn Thiềm
25
CQ47/01.03