Tóm tắt luận án Nghiên cứu xây dựng mô hình bơm tưới hợp lý cho vùng đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

NGUYỄN TIẾN THÁI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH BƠM TƯỚI HỢP LÝ
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
Mã số chuyên ngành: 62-62-30-01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI, NĂM 2016


Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Thủy lợi

Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS. Lê Chí Nguyện
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh

Phản biện 1: TS. Lê Viết Sơn, Viện Quy hoạch Thủy lợi
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Quang Trung, Viện Khoa học Thủy lợi
Phản biện 3: GS.TS. Dương Thanh Lượng, Trường Đại học Thủy lợi

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án họp tại
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................

Tuy nhiên, hiện nay các hệ thống trạm bơm ở ĐBSCL còn nhỏ lẻ, manh mún,
chưa có quy hoạch cụ thể. Hơn nữa, với một vùng đồng bằng rộng lớn như
ĐBSCL có các vùng sinh thái khác nhau (ngọt, ngọt hóa, mặn lợ, mặn), với cơ
cấu mùa vụ khác nhau, tập quán canh tác của người dân ĐBSCL cùng với điều
kiện địa hình và nguồn nước khác nhau thì việc xác định mô hình bơm tưới hợp
lý là một vấn đề cần được xác định trên cơ sở khoa học, đảm bảo các yêu cầu
về kinh tế, kỹ thuật và phù hợp với tình hình thực tế của ĐBSCL.
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình bơm tưới hợp lý vùng ĐBSCL”
1


là đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Định nghĩa về mô hình bơm tưới hợp lý: là tổ hợp các thông số tối ưu về quy
mô diện tích, lưu lượng trạm bơm phụ trách, cột nước bơm, loại máy bơm, số
máy bơm trong một trạm, hiệu suất bơm, công suất bơm và loại hình nhà máy
bơm.
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết lập được bài toán mô hình bơm tưới hợp lý, nhằm xác định được các
thông số tối ưu của mô hình về quy mô diện tích, lưu lượng trạm bơm phụ
trách, số máy bơm trong một trạm, loại máy bơm, cột nước bơm, hiệu suất bơm
và loại hình nhà máy bơm. Nhằm ứng dụng trong công tác quy hoạch và thiết
kế hệ thống trạm bơm đảm bảo cung cấp nước tưới cho phát triển nông nghiệp,
nông thôn vùng ĐBSCL.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình bơm tưới hợp lý bao gồm các thông số về quy
mô diện tích, lưu lượng trạm bơm phụ trách, số máy bơm trong một trạm, loại
máy bơm, cột nước bơm, hiệu suất bơm và loại hình nhà máy bơm
- Phạm vị nghiên cứu: Vùng ĐBSCL, không xét đến biến đổi khí hậu mực nước
biển dâng, sử dụng các loại máy bơm trong nước sản xuất.
4. Nội dung nghiên cứu

8. Bố cục của luận án
Gồm phần mở đầu, 03 chương chính và kết luận. Ngoài ra còn có phần: các tài
liệu khoa học tác giả luận án đã công bố; tài liệu tham khảo; phụ lục.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về bài toán quy hoạch, thiết kế tối ưu
1.1.1. Ngoài nước
Vài thâp niên trở lại đây, trên thế giới, có rất nhiều ứng dụng lý thuyết tối ưu
rộng rãi và hiệu quả trong khoa học kỹ thuật, kinh tế và đời sống. Trong đó có
3


lĩnh vực thiết kế quy hoạch và quản lý hệ thống tưới, cấp nước sạch. Cụ thể là:
Quy hoạch tuyến tính được ứng dụng giải quyết các vấn đề như: Phân tích
phương án quy hoạch hệ thống tưới cho một lưu vực ở Ấn Độ; Tính toán mức
độ cải thiện về năng suất cây trồng và quy trình tưới nhằm khống chế vấn đề
xâm nhập mặn; Xác đinh cơ cấu cây trồng tối ưu và quy trình cấp nước tối ưu
từ hệ thống kênh tưới kết hợp với các giếng bơm nước ngầm trong năm; Xác
định hệ thống kinh nghiệm quản lý tốt nhất nhằm giảm mức độ xâm nhập mặn
tại Grand Valley (Colorado); Lựa chọn cơ cấu cây trồng và quản lý các phương
án sử dụng nguồn nước tưới; Tối đa lợi nhuận ròng (NPV) từ cây trồng trong
nông nghiệp khi cơ cấu cây trồng, diện tích trồng trọt và lượng nước tưới điều
tiết từ một hồ chứa đã xác định; Lựa chọn loại máy bơm, công suất bơm và số
máy bơm vận hành đáp ứng yêu cầu nước cho nuôi trồng thủy sản; Tối ưu hóa
lập kế hoạch chạy máy bơm cho hệ thống cấp nước sạch được ứng dụng ở
Toronto phía Bắc nước Mỹ
Trong khi đó quy hoạch phi tuyến được áp dụng để lập kế hoạch và điều khiển
tối ưu cho hệ thống đa máy bơm, xuất phát từ quan điểm hiệu quả năng lượng
với mục tiêu chi phí năng lượng là nhỏ nhất.
Còn quy hoạch động được sử dụng: Xác định sản lượng thu hoạch tối đa từ cây
bông được tưới và cây lúa không được tưới, tương ứng với các mức độ cấp

trạm bơm. Xuất phát từ thực tế ấy, từ năm 2000 đến nay, các trạm bơm vừa,
nhỏ và các máy bơm lưu động không ngừng được xây dựng, phát triển. Tuy
nhiên các trạm bơm được xây dựng vẫn còn nhỏ, lẻ, phân tán, chủ yếu là tự
phát, theo kinh tế hộ cá thể và tổ hợp tác xã.
1.2.2. Về loại máy bơm
ĐBSCL chủ yếu sử dụng 2 hình thức là bơm điện (1 pha và 3 pha) và bơm dầu.
Trong đó bơm dầu đang được sử dụng phổ biến. Diện tích canh tác được tưới,
tiêu bằng bơm dầu hiện chiếm từ 60% đến 75%. Nguyên nhân do máy bơm dầu
cơ động, thích hợp cho khu bơm nhỏ lẻ, ngoài nhiệm vụ bơm nước còn có
nhiệm vụ chạy ghe, xay sát.
1.2.3. Hình thức kết cấu nhà trạm
Kết cấu nhà trạm của các trạm bơm ở ĐBSCL có 2 loại kiên cố và bán kiên cố.
5


Trong đó bán kiên cố chiếm chủ yếu.
1.2.4. Quản lý vận hành
Hiện nay ở ĐBSCL chủ yếu là hình thức quản lý vận hành bởi các hợp tác xã
nông nghiệp, tổ hợp tác dùng nước, tổ liên kết sản xuất, hộ gia đình. Các hình
thức này chủ yếu do người dân tự lập ra, hoạt động theo nguyên tắc “ tự thu, tự
chi theo quy định của nhà nước và thỏa thuận giữa các đối tượng”. Trong các
mô hình này, mô hình hộ gia đình đang chiếm tỷ trọng lớn ở ĐBSCL. Ngoài ra
mô hình quản lý khai thác như Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một
thành viên, trạm thủy nông các huyện chỉ được áp dụng một vài hệ thống trạm
bơm lớn.
1.3. Tổng quan về điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL
1.3.1. Quá trình hình thành ĐBSCL
ĐBSCL được hình thành và phát triển đầy đủ cách đây khoảng 2500 năm.
Trong đó vùng đất mũi Cà Mau là vùng trẻ nhất được hình thành cách đây 1000
năm.

DTTN. Trong các loại đất này ngoại trừ đất lầy và than bùn, đất đỏ vàng và đất
xói mòn chủ yếu sử dụng trồng rừng, còn lại đều có thể trồng lúa và các loại
cây trồng khác với từng mức độ thích nghi khác nhau. Thực tế cho thấy, cùng
một loại cây trồng, trồng trên các loại đất khác nhau, hệ số tưới sẽ khác nhau.
Nó ảnh hưởng đến lưu lượng trạm bơm phụ trách, đây là thông số cần tìm trong
mô hình bơm tưới.
1.3.6. Đặc điểm mưa
Vùng phía Tây ĐBSCL có lượng mưa năm lớn nhất (2.000-2.400 mm), vùng
phía Đông có lượng mưa trung bình (1.600-1.800 mm), còn vùng trung tâm
đồng bằng có lượng mưa nhỏ nhất (1.200-1.600 mm). Lượng mưa năm tập
trung vào các tháng mùa mưa. Như vậy lượng nước cần tưới cho các loại cây
trồng chủ yếu là về mùa khô và hệ số tưới của vùng trung tâm đồng bằng dọc
hai bên sông Tiền sông Hậu là lớn nhất, ngược lại vùng phía Tây có hệ số tưới
nhỏ nhất.
1.3.7. Đặc điểm thủy triều
ĐBSCL chịu tác tác động của triều biển Đông và biển Tây. Độ lớn của triều
7


vùng ven biển Đông đạt khoảng 3.0-4.0m (lớn nhất Việt Nam), trong khi đó độ
lớn triều vùng ven biển Tây đạt khoảng 0.8-1.2m. Mực nước triều cao nhất năm
thường xuất hiện vào các tháng X, XI, còn các tháng VI và VII, mực nước triều
thấp nhất năm. Như vậy các vùng của ĐBSCL bị ảnh hưởng triều, thời gian lấy
nước tưới trong một ngày giảm dẫn đến hệ số tưới tăng so với các vùng không
bị ảnh hưởng thủy triều.
1.4. Một số kết luận rút ra từ phần tổng quan
1. Về đối tượng nghiên cứu: Lê Chí Nguyện (2009) đã sử dụng lý thuyết phân
tích hệ thống và tối ưu hóa để xác định quy mô trạm bơm tưới phù hợp cho
ĐBSCL. Nhưng chỉ tiêu tối ưu về kinh tế được sử dụng là chỉ tiêu tĩnh, chỉ tiêu
này không phản ánh đúng về hiệu quả kinh tế, chỉ có chỉ tiêu tối ưu động mới

Lý thuyết phân tích hệ thống coi trọng tính tổng thể, đây chính là quan điểm hệ
thống, thể hiện tính biện chứng trong nghiên cứu hệ thống. Quan điểm đó phải
được lượng hóa bằng các mô hình toán học mô tả các quá trình của hệ thống.
Lý thuyết phân tích hệ thống thừa nhận tính bất định của hệ thống, tôn trọng và
thừa nhận tính liên ngành. Kết hợp giữa phương pháp hình thức và phương
pháp phi hình thức, kết hợp giữa phân tích toán học và kinh nghiệm.
2.1.2. Nguyên lý tiếp cận hệ thống
Nguyên lý cơ bản khi tiếp cận lý thuyết phân tích hệ thống, đó là tiếp cận từng
bước và liên tiếp làm rõ mục tiêu của bài toán. Mô hình mô phỏng đóng vai trò
đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp cận hệ thống.
2.1.3. Phương pháp mô phỏng và phương pháp tối ưu hóa trong phân tích hệ
thống
Phân tích hệ thống, đặc biệt là hệ thống nguồn nước sử dụng hai công cụ chính
là phương pháp tối ưu hóa và phương pháp mô phỏng. Phương pháp mô phỏng
không giải bài toán tối ưu mà chỉ tìm các giá trị khả dĩ chấp nhận được với hàm
mục tiêu. Vì phương pháp tối ưu có những hạn chế về phương pháp nhận
nghiệm, cho nên có thể có sự giản hóa trong mô phỏng đối với các quá trình
của hệ thống, trong khi đó các mô phỏng đó được mô tả chi tiết hơn khi sử

9


dụng phương pháp mô phỏng. Do vậy trong luận án sử dụng cả hai phương
pháp này để giải bài toán mô hình bơm tưới hợp lý.
2.1.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Khi thiết kế hệ thống phải tuân theo hệ thống chỉ tiêu về kinh tế hoặc kỹ thuật.
Đối với hệ thống thủy lợi nói chung đặc biệt là hệ thống trạm bơm người ta
thường dùng chỉ tiêu kinh tế để đánh giá. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá có thể
được mô tả bằng các đẳng thức hay bất đẳng thức, hoặc có thể được đưa về cực
trị (max(min)), hoặc có thể có dạng hỗn hợp (cả hai trường hợp trên).

2.3.2. Một số khái niệm
- Biến (hay biến chính): là các biến số mà bài toán tối ưu phải tìm nhằm đạt
được mục tiêu đặt ra và thỏa mãn các điều kiện ràng buộc kèm theo.
- Ràng buộc (hay điều kiện ràng buộc): Trong bài toán tối ưu, biến chính không
thể nhận giá trị bất kỳ mà chúng bị giới hạn và buộc phải thỏa mãn các điều
kiện hay yêu cầu nào đó, người ta gọi chung là điều kiện ràng buộc.
- Hàm mục tiêu: Nhiệm vụ của bài toán tối ưu là so sánh, lựa chọn phương án
tốt nhất trong các phương án có thể. Muốn vậy phải có một tiêu chí hay chỉ tiêu
để so sánh. Thông thường tiêu chí này được thể hiện dưới dạng hàm số của các
biến chính và được định nghĩa là hàm mục tiêu.
2.3.3. Đặt bài toán
Bài toán tối ưu ở đây được lập với hai trường hợp:
- Trường hợp 1: chưa biết diện tích và lưu lượng của trạm bơm. Yêu cầu tìm
các thông số tối ưu về hình dạng khu tưới (f), diện tích trạm bơm phụ trách (ω),
lưu lượng trạm bơm (Qtb), loại máy (p), cột nước bơm (h), hiệu suất bơm (ηb),
công suất bơm (N), số tổ máy bơm trong một trạm (n), loại nhà máy.
- Trường hợp 2: diện tích và lưu lượng của trạm bơm đã biết. yêu cầu tìm các
thông số tối ưu (p, ηb, N, n, loại nhà máy bơm).
2.3.4. Lựa chọn phương pháp giải bài toán tối ưu
Bài toán đã lựa chọn trong luận án, hàm mục tiêu và ràng buộc đa số là hàm phi
tuyến của các biến thông số trong mô hình bơm tưới. Do vậy dạng bài toán tối
11


ưu ở đây là quy hoạch phi tuyến. Trong quy hoạch phi tuyến được chia thành
hai loại chính, tối ưu phi tuyến không ràng buộc và tối ưu phi tuyến ràng buộc.
Về tổng quát có hai phương pháp giải bài toán tối ưu phi tuyến đó là phương
pháp không đạo hàm và phương pháp dùng đạo hàm. Phương pháp đạo hàm chỉ
phù hợp với những bài toán có thể hàm hóa được. Ngoài ra cần chứng minh sự
tồn tại nghiệm và các đạo hàm tương ứng. Trong các bài toán kỹ thuật những

làm rõ mục tiêu của bài toán. Trình tự theo sơ đồ hình 2.5

Hình 2. 5. Sơ đồ các bước xây dựng mô hình bơm tưới hợp lý
2.5. Lựa chọn hàm mục tiêu
2.5.1. Các chỉ tiêu tối ưu để xây dựng hàm mục tiêu
Chỉ tiêu tối ưu để xây dựng hàm mục tiêu cho hệ thống tưới động lực cần bao
gồm các vấn đề kinh tế, khả năng phát triển của hệ thống và độ tin cậy của sự
làm việc của các phần tử trong đó, đồng thời chỉ tiêu tối ưu cũng phản ánh được
tính chất xác suất của quá trình. Do đó các chỉ tiêu tối ưu để xây dựng hàm mục
tiêu bao gồm chỉ tiêu tối ưu tĩnh (chi phí tĩnh, lợi nhuận) và chỉ tiêu tối ưu động
(chi phí, giá trị thuần hiện tại NPV).

13


2.5.2. Lựa chọn chỉ tiêu tối ưu làm hàm mục tiêu
Ngày nay khi đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án người ta thường dùng các chỉ
tiêu tối ưu động, ít dùng các chỉ tiêu tối ưu tĩnh, vì chỉ tiêu tĩnh không xét đến
yếu tố thời gian nên không phản ánh đúng thực tế hiệu quả đầu tư của một dự
án. Đối với các chỉ tối ưu động, thì chỉ tiêu NPV thường áp dụng cho những bài
toán xác định phương án tối ưu khi chi phí và hiệu ích thay đổi theo các phương
án khác nhau. Bài toán nghiên cứu trong luận án này giả thiết lợi ích của
phương án là không đổi, chỉ có sự khác nhau về chi phí xây dựng và quản lý
vận hành. Do vậy, chỉ tiêu tối ưu về chi phí động được lựa chọn để làm hàm
mục tiêu.
(2.14)

Trong đó: Kj =   m j - Tổng chi phí xây dựng đơn vị toàn hệ thống ứng với
phương án đầu tưmj


K: Tổng chi phí xây dựng đơn vị của toàn hệ thống
KĐM: Chi phí xây dựng công trình đầu mối trạm bơm. Trong luận án này sử
dụng phương pháp tính trực tiếp để mô phỏng chi phí xây dựng công trình đầu
mối trạm bơm theo các phương án số tổ máy bơm khác nhau tương ứng với các
phương án loại máy bơm khác nhau.
KKM: Chi phí xây dựng hệ thống kênh mương. Trong luận án này tác giả sử
dụng phương pháp hồi quy tương quan để mô phỏng toán học mối quan hệ giữa
chi phí xây dựng kênh mương với lưu lượng trạm bơm tương ứng với các hình
dạng khu tưới xác định.
2.6.2. Chi phí quản lý hàng năm bình quân đơn vị
M[B] = (M[Le] + Bcl + Bcsctx + Bcdn)/ω

(2.22)

Trong đó:
- M[B]: Bình quân gia quyền của chi phí quản lý hàng năm đơn vị cho hệ thống
- M[Le]: Bình quân gia quyền của chi phí năng lượng hàng năm

 

n

 L e j  a  Wi , j . p wi

(2.25)

i 1

Trong công thức thức (2.25): a - Đơn giá năng lượng bơm (đ/KWh); Wi,j - Điện
năng tiêu thụ trong năm thứ i với phương án loại máy và số máy bơm đặt trong

2.8. Lập chương trình tính toán
Chương trình được lập bằng ngôn ngữ C# (đọc là Csharp) trong bộ công cụ
.NET. Đây là ngôn ngữ lập trình có tính ưu việt cao.
2.9. Kết luận chương 2
Từ những luận cứ lý thuyết trong phân tích hệ thống và toán tối ưu, đã phân
tích đánh giá lựa chọn được phương pháp xây dựng mô hình bơm tưới hợp lý
dựa trên những quan điểm, nguyên lý và phương pháp để tìm lời giải tối ưu
hoặc hợp lý. Trên cơ sở nguyên lý tiếp cận từng bước, các bước xây dựng mô
hình bơm tưới hợp lý được thiết lập. Trong đó có ứng dụng mô hình mô phỏng
đánh giá phản ứng của hệ thống theo các phương án có thể để xác định phương
án có thể chấp nhận được. Lập hàm mục tiêu ứng trường hợp áp dụng trong
công tác quy hoạch các trạm bơm tưới và trường hợp phục vụ công tác thiết kế
trạm bơm tưới. Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các biến thông số trong
16


hàm mục tiêu, để đưa hàm mục tiêu về dạng rút gọn có dạng phi tuyến. Phương
pháp quét với bước không đổi được sử dụng để giải bài toán tối ưu đơn mục
tiêu phi tuyến, với chỉ tiêu tối ưu là chi phí động cho một đơn vị diện tích,
nhằm tìm các thông số tối ưu trong các phương án được chấp nhận.

Hình 2. 8. Sơ đồ khối của thuật toán quét hàm mục tiêu C*p = C*p(f,n,h,p)

17


Hình 2.9. Sơ đồ khối của thuật toán quét hàm mục tiêu C*p = C*p(p)
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG MÔ HÌNH
BƠM TƯỚI HỢP LÝ VÙNG ĐBSCL
3.1. Mô phỏng các thông số của mô hình bơm tưới

tưới; ht - Hệ số lợi dụng của hệ thống kênh mương; q - Hệ số tưới, được lấy
trong cuốn Thủy nông ĐBSCL của tác giả Lê Sâm.
- Diện tích trạm bơm phụ trách:



Qtram  ht

(3.5)

q

- Hình dạng khu tưới: qua điều tra thực tế của tác giả và căn cứ vào bản đồ hệ

TuyÕn c«ng tr×nh tr¹ m b¬m

a

S« n g , k ª n h

TuyÕn c«ng tr×nh
tr¹ m b¬m

S« n g , k ª n h

S« n g , k ª n h

thống sông kênh. Các hình dạng khu tưới được mô phỏng như hình 3.8.

b

Chi phí thiết bị

2

638,383,000

122,858,000

3

800,414,000

184,287,000

4

866,074,000

245,716,000

5

1,027,120,000

307,145,000

6

1,240,483,000


Phân bố mùa vụ; Công thức tưới tăng sản đối với cây lúa; Hệ số tưới thiết kế;
Hệ số sử dụng kênh mương; Số công nhân làm việc trong trạm; Hệ số lương cơ
bản; Mức lương tối thiểu;Số tháng trong một năm; Ksctx = 1,1; Kdn = 4,06; Tỷ lệ
chiết khấu R =10%; Thời gian hoạt động của dự án T = 20 năm; Đối với trường
hợp 2 còn phải nhập cụ thể cột nước bơm và diện tích trạm bơm phụ trách.

Hình 3. 9. Quan hệ chi phí xây dựng kênh mương với lưu lượng trạm bơm
3.5. Kết quả mô hình bơm tưới hợp lý cho ĐBSCL (trường hợp 1)
3.5.1. Khu ngọt ven sông Tiền sông Hậu

21


- Khu ngọt cao không ngập úng: ω=358.5ha, Q=0.63m3/s, loại máy (10HTĐ80)
n=3, Hb=2.3m, η=67%, Nb=7.07KW, nhà máy bơm kiều buồng ướt, khu tưới
hình vuông.
- Khu ngọt địa hình trung bình ngập nông: ω=392ha, Q=0.644m3/s, loại máy
(HL1200-3), n=2, Hb=3.4m, η=80.08%, Nb=13.29KW, nhà máy bơm kiều kiều
móng tách rời, khu tưới hình vuông.
- Khu ngọt địa hình cao ngập sâu: ω=267.3ha, Q=0.45m3/s, loại máy (HL400 5), n=3, Hb=4m, η=78.3%, Nb=7.52KW, nhà máy bơm kiều kiều móng tách rời,
khu tưới hình vuông.
3.5.2. Khu chua nội địa Đồng Tháp Mười
ω=331.6ha, Q=0.63m3/s, loại máy (10HTĐ80), n=3, Hb=2.3m, η=67%,
Nb=7.07KW, nhà máy bơm kiều buồng ướt, khu tưới hình vuông.
3.5.3. Khu chuaTứ Giác Long Xuyên
ω=308ha, Q=0.44m3/s, loại máy (200HH200), n=4, Hb=2.2m, η=71%,
Nb=3.34KW, nhà máy bơm kiều móng tách rời, khu tưới hình vuông.
3.5.4. Khu mặn bán đảo Cà Mau
- Khu có khả năng tiếp nước ngọt từ sông Hậu: ω=412.1ha, Q=0.63m3/s, loại
máy (10HTĐ80), n=3, Hb=2.3m, η=67%, Nb=7.07KW, nhà máy bơm kiều

phổ biến từ 50ha đến 500ha.
Do vùng chua nội địa Đồng Tháp Mười có hệ số tưới lớn nhất (qtk = 1.33l/s.ha),
trong khi đó vùng bán đảo Cà Mau có hệ số tưới nhỏ nhất (qtk = 0.92l/s.ha).
Điều này dẫn đến vùng mặn bán đảo Cà Mau không có khả năng tiếp nước từ
sông Hậu có tổng chi phí đơn vị nhỏ nhất ngược lại vùng chua nội địa Đồng
Tháp Mười có chi phí đơn vị lớn nhất.
KẾT LUẬN
Với hướng nghiên cứu đã chọn, trong luận án đã giải quyết được một số vấn đề
về phương pháp luận và mô hình toán, về xác lập bài toán, áp dụng mô hình
vào một thí dụ thực tiễn, giải bài toán và phân tích kết quả. Từ kết quả nghiên
cứu của luận án, có thể rút ra một số kết luận dưới đây:
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status