Trọng tâm ôn tập đường lối
LÊ THIÊN KIM
1. Quá trình ra đi tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (19111920)
Ngày 1/9/1958, thực dân Pháp nổ súng vào ĐN mở đầu cho quá trình xâm
lược Việt Nam, bắt đầu thiết lập bộ máy thống trị ở VN. Chúng áp đặt chính
sách cai trị thực dân, chia rẽ nước ta thành 3 xứ, tiến hành bóc lột nặng nề về
kinh tế, kìm hãm và nô dịch nền văn hóa. Dưới chính sách thống trị của thực
dân Pháp, đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chĩnh
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Xã hội Việt Nam xuất hiện thêm 2 giai cấp mới
là công nhân và tư sản Việt Nam và tồn tại 2 mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn
giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn
giữa nhân dân VN với giai cấp địa chủ phong kiến. Biến xã hội VN thành một
xã hội thuộc địa nửa phong kiến.
Thực tiễn lịch sử Vn đặt ra 2 nhiệm vụ cách mạng: một là, phải đánh đuổi
thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nd; hai là, xóa
bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, ruộng đất cho nông
dân.
Trước tình hình đó, nhiều phong trào yêu nước nổ ra, theo nhiều khuynh
hướng (khuynh hướng phong kiến và tư sản) cuối thế kỷ 19, đầu 20 ra đời
như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa yên Thế, phong trào yêu nước theo
tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Nhưng tất cả
đều đi đến thất bại.
Trước hoàn cảnh lịch sử của đất nước như vậy, xuất phát từ lòng yêu nước
nồng nàn, trên cơ sở rút kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của các bậc tiền bối đi
trước, 5/6 1911, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách
mạng điển hình trên tg. Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái
và quyền con người của các cuộc CM tư sản tiêu biểu như CM Mỹ (1776),
CM Pháp(1789)… nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc CM
đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào
khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Từ đây, cùng với việc thực hiện
nhiệm vụ với phong trào cộng sản Quốc tế, NAQ xúc tiến truyền bá CNMLN,
vạch phương hướng chiến lược CMVN, chuẩn bị điều kiện để thành lập
ĐCSVN.
TÓM TẮT
1. Hành tình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân,đã tác động mạnh mẽ đến xã hội
Việt Nam xuất hiện thêm 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản tồn tại 2 mâu thuẫn cơ
bảndân tộc Việt Nam với thực dânnhân dân VN với giai cấp địa chủ phong kiến, nhiều
phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ 19, đầu 20
.Nhưng tất cả đều đi đến thất bại.
Trước hoàn cảnh lịch sử của đất nước như vậy, 5/6 1911, Nguyễn Tất Thành đã ra
đi tìm đường cứu nước. Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên tg.
Đầu năm 1919, người đưa ra bản yêu sách 8 điểm.
Tháng 7/1920, Người đọc bản “ sơ thảo luận cương lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lê Nin
Tháng 12/1920, Người tham gia đại hội lần 18 Đảng XH Pháp, bỏ Phiếu tán thành
Quốc tế 3
2. Quá trình chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc để xúc tiến thành lập chính đảng của giai cấp CNVN.
Tháng 7-1920 : Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người vô cùng phấn khởi và tin
tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc
mình. “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài
con đường cách mạng vô sản”.
Mặc dù đã xác định được con đường cứu nước, nhưng NAQ không vội vã đi vào
tư tưởng chính trị quan trọng nhất khi thành lập chính đảng của giai cấp CN.
+) Từ tháng 12/1924 – 1930: (NAQ ở TQ)
Người tiếp tục viết nhiều bài báo đăng tải trên các tạp chí lớn. Đặc biệt là tác
phẩm: “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) của Người Đã tố cáo trước dư luận
Pháp và thế giới tội ác tày trời của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc
địa. Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm
đánh đuổi TD Pháp xâm lược.
Mở các lớp đào tạo cán bộ (1925-1927), huấn luyện chính trị cho cán bộ CM
VN, người cũng trực tiếp lựa chọn các thanh niên ưu tú gửi đi đào tạo nước ngoài
(ĐH Phương Đông - Liên Xô…). Tổ chức các tờ báo Thanh niên, Công nông, Tiền
phong,…nhằm truyền bá tư tưởng Mác – Lê nin vào VN, thức tỉnh và giác ngộ quần
chúng.
- Tác phẩm “Đường Kách Mệnh” 1927 tập hợp tất cả các bài giảng của người,
đã đề cập những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị, chuẩn bị về tư
tưởng chính trị cho việc thành lập ĐCSVN. Có giá trị lý luận và thực tiễn to
lớn với CMVN.
Hệ thống quan điểm đó được truyền vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về tư tưởng và
chính trị cho việc thành lập Đảng.
NAQ truyền bá CN ML vào VN
1921- báo người
cùng khổ
2.
1922 - trưởng ban
NC thuộc địa
tổ chức và đội ngũ cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam sau này.
T2 - 1930, Hội nghị thống nhất Đảng đã họp tại Cửu Long Hương Cảng, dưới
sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc đã nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một
đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tóm tắt:
-Mở đầu:
7-1920: là mốc quan trọng – Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và thuộc địa của Lênin – thấy con đường giải phóng - tin tưởng – đi theo quốc tế III
Tích cực xúc tiến quá trình sau đó
-Chính trị:
Thành lập các báo, đăng các bài đăng khác nhau, tác phẩm khác nhau (ý này cần
học kĩ) – lên án, vạch trần bản chất, tố cáo trước dư luận pháp và thế giới
Nêu các quan điểm lý luận về cách mạng thuộc địa: kẻ thù chung – quan hệ mật
thiết – tính chất CMGP dân tộc – giai cấp công nhân và nông dân – công dân và Đảng
cộng sản
-Tổ chức:
Thống nhất hành động = cách 1924 lập nên hội liên hiệp các dân tộc bí áp bức á
đông
1925 thành lập thêm 1 hội, 1 tổ chức nữa, huấn luyện, đào tạo chiến sỹ cách mạng
Sự ra đời 3 tổ chức cộng sản ở VN ( Đông dương, an nam, đông dương) – do theo
khuynh hướng vô sản của tư tương HCM
Sự hoạt động của hội VNCMTN và ảnh hưởng của nó – 1928
1930 – thành lập ĐCSVN
3. ND bản chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và ND bản luận cương
tháng 10/1930.
a) Nội dung chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt (Bản luận cương thứ nhất
tháng 2) đã vạch ra nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam. Đó
Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày( công
hội,hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản
quốc gia.
Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh
niên, Tân Việt ..... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp.
Với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt
phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung
lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng ( Đảng lập hiến..) thì
phải đánh đổ.
Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ
phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi
liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi
ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với
các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Tóm tắt:
-
Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản.
-
Nhiệm vụ của cách mạng :
•
giai cấp công nhân lãnh đạo.
Luận cương chỉ rõ: mâu thuẫn diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân
cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân lao động với phong kiến, tư sản, đế quốc. Khác
so với luận cương tháng 2, đặt mâu thuẫn giai cấp lên trước mâu thuẫn dân tộc.
Luận cương vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương
là: lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có
tính chất thổ địa và phản đế, “tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm
xã hội cách mạng”, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục “phát
triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”.
So với luận cương tháng 2 giống nhau là đều xác định 2 thời kỳ của CMVN, khác ở
chỗ chỉ cụ thể cách thức tiến lên XHCN là bỏ qua TBCN.
Luận cương khẳng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là: đánh
đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa
Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan
hệ khăng khít với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa
chủ, để tiến hành cách mạng thổ địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến
thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa. Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác
định: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để
Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày. trong luận cương tháng 2 thì ngược lại, vấn
đề dân tộc lên trước vấn đề giai cấp.
Về lực lượng cách mạng, Luận cương chỉ rõ:
-
Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, vừa
là giai cấp lãnh đạo cách mạng.
-
khẳng định: cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới,
vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới,
trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng
ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho
cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương. (giống)
Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Luận cương khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng. Đảng phải có đường lối
chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng. Đảng là
đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lê Nin làm nền tảng tư tưởng,
đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt
được mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. (giống)
Tóm tắt:
-
Luận cương nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương.
-
Chỉ rõ mâu thuẫn giai cấp : giữa toàn thể nhân dân lao động vs phong kiến,tư sản,đế quốc.
-
Phương hướng chiến lược: làm cách mạng tư sản dân quyền có tính chất thổ địa phản đế,
sau khi thành công sẽ bỏ qua tư bản tiến lên XHCN.
-
Nhiệm vụ của cách mạng : đánh đổ phong kiến,đế quốc,làm Đông Dương độc lập.
-
1 cổ 2 tròng áp bức, bóc lột của Pháp- Nhật.
Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp – Nhật trở nên gay
gắt hơn bao giờ hết.
Thế giới:
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp thi hành biện
pháp đàn áp lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa.
Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ. Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.
Tháng 6-1940, Chính phủ Pháp đầu hàng Đức.
Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng:
Khi CTTG thứ 2 bùng nổ, Đảng rút vào hoạt động bí mật, đề ra đường lối chuyển
hướng chiến lược trong thời kỳ mới thông qua nghi quyết:
- HN BCHTW lần T6 (11/1939)
- HN BCHTW lần T7 (11/1940)
- HN BCHTW lần T8 (5/1941) (đặc biệt có đc NAQ chủ trì, hoàn thiện đường
lối chuyển hướng chiến lược)
Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
BCH TW nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách
là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp - Nhật. Bởi “Trong lúc
này nếu không giải quyết được VĐ dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự
do cho toàn thể DT thì chẳng những toàn thể quốc gia DT còn chịu mãi kiếp ngựa
trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Để
tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của CM lúc này, Ban Chấp hành Trung ương tạm
gác khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu
“Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức”, “Tịch thu ruộng đất
của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày nghèo” …
Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng
CM nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc.
Để tập hợp lực lượng CM đông đảo trong cả nước, BCH TW quyết định thành lập
đi theo con đường CNXH.
Do đó, đưa ra quyết định: Đưa nhiệm vụ GPDT lên hàng đầu; Chủ trương giải quyết
vấn đề GPDT trong khuôn khổ của từng nước, từng dân tộc, quyết định thành lập ở
mỗi nước một mặt trận riêng (ở VN là mặt trận ĐM). Phương pháp tiến hành là khởi
nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Ý nghĩa:
Quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được hoàn chỉnh góp phần giải quyết
mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, đưa đến những chủ
trương, sự chỉ đạo đúng đắn để thực hiện mục tiêu đó.
- Có ý nghĩa quyết định đvới sự ptriển của phong trào cm đi tới thắng lợi của cm
tháng 8/45, giúp cho nhân dân ta có đường hướng đúng để tiến lên giành thắng lợi
trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân
dân.
- Giúp công tác chuẩn bị giành độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương
trong cả nước, cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng của quần chúng
vùng lên đấu tranh giành chính quyền.
Tóm tắt:
Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc tay sai trở nên gay gắt và trở thành mâu
thuẫn chủ yếu cần phải giải quyết→ đặt nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên đầu
- Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được từng bước hoàn chỉnh qua ba hội
nghị:
+ Hội nghị lần thứ 6 (11-1939) mở đầu sự chuyển hướng.
+ Hội nghị lần thứ 7 (11-1940) tiếp tục bổ sung nội dung chuyển hướng
+ Hội nghị lần thứ 8 (5-1941) hoàn chỉnh nội dung chuyển hướng.
Nội dung cơ bản chuyển hướng chỉ đạo chiến lược:
- Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: tạm gác khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ,
chia ruộng đất cho dân cày” bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt
không thể thống trị nhân dân như cũ được nữa; Hai là, nhân dân lao động không thể
cam chịu ách áp bức bóc lột của giai cấp thống trị như cũ được nữa; Ba là, có một
chính Đảng ra đời và sẵn sàng đảm nhận sứ mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo cuộc
cách mạng của dân tộc giành chính quyền về tay nhân dân.
Tình hình thế giới và trong nước:
* Trên thế giới:
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
Ngày 22/6/1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Từ khi phát xít Đức xâm lược
Liên Xô, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng
dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
=> Điều kiện 1.
* Tình hình trong nước:
Trong thực tế, ở Việt Nam và Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính
sách thời chiến rất trắng trợn.
Lợi dụng lúc Pháp thua Đức, Nhật vào Đông Dương. Ngày 23/9/1940, tại Hà Nội,
Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật. Từ đó, nhân dân chịu cảnh một cổ 2 tròng áp bức,
bóc lột của Pháp - Nhật.
Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao
giờ hết.
=>Điều kiện 2.
Ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, với tầm nhìn chiến lược, lãnh tụ Hồ
Chí Minh và Trung ương Đảng ta đã phân tích, đánh giá tình hình, chuyển hướng
chỉ đạo chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu số 1 của CM bây giờ là Độc lập dân
tộc. Đồng thời nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang, thành lập các đội du kích,
mặt trận chính trị, thành lập đội VN tuyên truyền giải phóng quân… công việc chuẩn
bị cho cuộc tổng vũ trang diễn ra sôi nổi trên cả nước.
=> Điều kiện 3.
Như vậy cuối năm 1944, nước ta đã đủ cả 3 điều kiện.
3. Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân viễn chinh Nhật mất tinh thần
* Chỉ thị xác định: Phát xít Nhật là kẻ thù chính => Khẩu hiệu: Đánh đuổi Nhật Pháp
được thay bằng: Đánh đuổi phát xít Nhật
* Chỉ thi chủ trương:
- phát động cao trào kháng nhật trước tổng kn
- mọi hình thức tuyên truyền phải thay đổi phù hợp vs thời kỳ tiền kn
- Đẩy mạnh xd các đội tự vệ cứu quốc, xd LLVT, lập căn cứ địa cách mạng, phát
động đt du kích, gp từng vùng, mở rộng căn cứ địa
Giải quyết ý (*).
b) Nắm bắt thời cơ :
Ngày 9/5 phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện. Ở châu Á, phát xít Nhật đang đi đến
chỗ thất bại hoàn toàn. Trước sự pt hết sức nhanh chóng của tình hình TW quyết
định họp Hội nghị toàn quốc của Đảng tai Tân Trào (13-15/8/1945).Hội nghị nhận
định: Cơ hội tốt giành chính quyền cho ta đã đến và quyết định phát động toàn dân
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân đồng minh
vào đông dương.
* Thời điểm vàng: Từ khi quân Nhật đầu hàng quân Đồng Minh đến trước khi quân
Đồng Minh đổ bộ vào Việt Nam
Đây chính là khoảng thời cơ khi “Kẻ thù cũ đã suy yếu, kẻ thù mới chưa xuất hiện.
- Giữa trưa ngày 13 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực
lượng Đồng minh trên sóng phát thanh của Nhật Bản. Đến đây, kẻ thù của
cách mạng nước ta đã vô cùng suy yếu - tình thế của cách mạng đã xuất hiện.
Nếu tiến hành trước khi Nhật đầu hàng thì Nhật vẫn có thể ngóc đầu dậy.
- Theo thỏa thuận, Đồng Minh vào Việt Nam là: Phía Bắc là Mỹ, phía Nam là
Anh với mục đích áp giải quân Nhật Nhưng đó là các nước đế quốc, không
phải nước thuộc CNXH, bản chất bóc lột, thực dân, chắc chắn sẽ trở mặt và
tham vọng biến ta thành thuộc địa Ta nhận thấy đây là âm mưu các nước
đế quốc mượn danh quân ĐM vào nước ta Kẻ thù mới.
lập,
Dân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại + Đoàn kết toàn dân
thống chủ mới
nhất dân tộc
vọng
giao
+ Tự cấp, tự túc về mọi mặt
+ Lâu dài
+ Thực hiện toàn dân kháng chiến
+
Dựa vào sức mình là
chính: tự cấp tự túc về mọi
mặt
1. Hoàn cảnh lịch sử:
định
chiến trong cả nước, chủ động tiến công.
2. Nội dung của đường lối kháng chiến:
Đường lối kháng chiến của Đảng được thể hiện tập trung trong ba văn kiện lớn:
- "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" – Chủ tịch HCM (19/12/46)
- “Chỉ thị toàn dân kháng chiến” – TW Đảng (12/46)
- “Kháng chiến nhất định thắng lợi" năm 1947 – Trường Chinh (1947).
Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến thể hiện qua các văn kiện trên là:
- Mục đích kháng chiến
Kế tục và phát triển sự nghiệp CM Tháng Tám. “Đánh phản động thực dân Pháp
xâm lược, giành thống nhất và độc lập”
- Tính chất của cuộc kháng chiến
Một là: Cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.
+ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là kế tục sự nghiệp của Cách mạng tháng
Tám, cuộc kháng chiến này sẽ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mở rộng và
củng cố chế độ cộng hoà dân chủ Việt Nam và phát triển nó trên nền tảng dân chủ
mới. Cho nên cuộc kháng chiến của ta có tính chất dân tộc giải phóng. Lúc này nhiệm
vụ giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp bách nhất.
+ Tính chất dân chủ mới là trong quá trình kháng chiến, phải từng bước thực hiện
cải cách dân chủ và thực chất của vấn đề dân chủ lúc này là từng bước thực hiện
“người cày có ruộng”.
Hai là: Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn
diện và lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
+ chiến tranh nhân dân , toàn dân đánh giặc là đánh giặc bằng bất cứ vũ khí gì có
trong tay, đánh giặc ở bất cứ nơi nào chúng tới.
+ Kháng chiến toàn dân là xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và địch và xuất
phát từ chân lý: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
+ chiến tranh là một cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến. Vì thế phải đánh
địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị , kinh tế , văn hoá, trong đó quân sự
đánh thắng địch.
+ Dựa vào sức mình là chính: “Phải tự cung tự cấp, tự túc về mọi mặt” vì ta bị bao
vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh. Khi nào có
điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ
lại.
- Triển vọng kháng chiến:
Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn song nhất định thắng lợi
KẾT LUẬN: