Khóa luận tốt nghiệp bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết hồng lâu mộng của tào tuyết cần cao ngạc (TT) - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU 
THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA 
 TÀO TUYẾT CẦN – CAO NGẠC

Sinh viên

: Nguyễn Thị Hà

Chuyên ngành: Sư phạm Ngữ văn
Khóa học

: 2011 ­ 2015


Đắk lắk, 5 /2015

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BI KỊCH CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU 
THUYẾT “HỒNG LÂU MỘNG” CỦA 
TÀO TUYẾTCẦN – CAO NGẠC
Sinh viên


4


MỤC LỤC

5


PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.  Lí do chọn đề tài
Văn học Minh – Thanh có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Trung 
Quốc. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình phát triển văn học cổ điển, 
đánh dấu sự  chuyển mình sang khuynh hướng hiện đại của nền văn học 
Trung Hoa đặc sắc. 
Ở  Trung Quốc trước đây, tiểu thuyết bị  xếp vào thể  loại phi chính thống  
và bị coi thường. Đến thời Minh – Thanh, tiểu thuyết đã trở thành thể loại 
chủ  đạo. Có thể  kể  tên những bộ  tiểu thuyết nổi tiếng của giai đoạn này  
như: “Tam chí quốc diễn nghĩa”, “Thủy hử”, “Tây du kí”, “Liêu trai chí dị”, 
“Kim Bình Mai”, “Chuyện làng nho”, “Hồng lâu mộng”,…
“Hồng lâu mộng” là một trong bốn kiệt tác của văn học cổ  điển Trung  
Quốc. Người Trung Hoa đương thời có câu rằng “ Khai đàm bất thuyết  
Hồng lâu mộng, độc tận thi diệc uổng nhiên!” (Chuyện trò mà không nói 
“Hồng lâu mộng”, đọc lắm sách xưa cũng uổng công). “Hồng lâu mộng” đã 
góp phần làm cho đời sống văn học Trung Quốc nói riêng, văn học nhân  
loại nói chung trở nên phong phú hơn. 
“Hồng lâu mộng”  phê phán xã hội phong kiến Trung Hoa mục nát với 
những giáo điều khắc nghiệt đã ăn sâu, bén rễ  hàng ngàn năm trong đời 
sống của người dân Trung Quốc. Tác phẩm còn thể hiện tinh thần dân chủ, 
đòi tự do yêu đương, giải phóng cá tính; đòi bình đẳng và khát khao một lí 
tưởng sống mới.

ảnh hưởng lớn trong xã hội mà còn gây hứng thú mạnh mẽ  trong giới 
nghiên cứu của nhiều thế hệ người Trung Quốc.
Ngay từ đầu đã có hội nghiên cứu riêng về  “Hồng lâu mộng” gọi là 
Hồng học. Các nhà Hồng học chia làm nhiều trường phái nhưng họ  đều 
cho rằng “Hồng lâu mộng” viết về một câu chuyện có thật vào đời Thanh. 
Năm 1919, ở Trung Quốc diễn ra cuộc vận động Ngũ tứ, Hồng học chia ra  
thành Cựu Hồng học và Tân Hồng học. Cựu Hồng học đi tìm những câu 
chuyện có thực để  chứng minh cho thiên truyện của Tào Tuyết Cần. Tân 
Hồng học lại đi nghiên cứu sự  tương đồng giữa cuộc đời tác giả  và tác  
phẩm. Sau 1954, việc nghiên cứu “Hồng lâu mộng” có nhiều bước chuyển  
đáng kể. Các bài viết dần đi đến chỗ  thống nhất, khẳng định giá trị  tác 
phẩm về cả nội dung và nghệ thuật.
Nhiêu Đạo Khánh từ góc độ của “Phê bình văn học chủ nghĩa nữ quyền” đã  
khảo sát quan điểm nữ  giới của Tào Tuyết Cần qua “Hồng lâu mộng” và 
qua đó khẳng định tư tưởng tiến bộ của tác giả.
Lý Quốc Tường trong “Luận quan niệm đạo đức hôn nhân của Hồng lâu 
mộng” đã nhận định:  “Vấn đề  đạo đức hôn nhân và nữ  giới là nội dung  
chủ yếu và chiếm số trang tương đối của Hồng lâu mộng. Dường như hết  
thảy nhân vật, sự  kiện, tất cả  việc miêu tả, yếu tố  trữ  tình đều liên quan  
đến vấn đề này, cụ thể là liên quan tới vấn đề tự do hôn nhân của phụ nữ,  
ái tình và địa vị bình đẳng nam nữ”.
2.2. Ở  Việt Nam, từ những năm đầu thế  kỉ  XX, khi nhắc đến tiểu thuyết 
cổ điển Trung Quốc, ít ai không nhắc đến “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết 
8


Cần– Cao Ngạc. Nhìn chung, những nghiên cứu về  “Hồng lâu mộng”  ở 
Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với những nghiên cứu của Trung 
Quốc, nghĩa là các nhà nghiên cứu chủ  yếu đi vào tìm hiểu, khẳng định 
những đặc sắc về  nội dung, nghệ  thuật của tác phẩm. Có thể  kể  đến các  

tả tâm lí nhân vật trong tác phẩm.
“Mạn đàm về Hồng lâu mộng” của Trương Khánh Kiện, Lưu Vĩnh Lương 
do Nguyễn Phố dịch (2002) là những bàn luận khá sắc sảo và thấu đáo về 
tài năng miêu tả hiện thực một cách tỉ mỉ, chi tiết của tác giả. Tác giả đưa  
ra hai mươi tám vấn đề  luận giải đầy hấp dẫn và có ý nghĩa với độc giả 
về số phận, cuộc đời người phụ nữ.
Thành tựu của những công trình nghiên cứu nói trên đã góp phần khẳng 
định những giá trị to lớn của “Hồng lâu mộng” về cả hai phương diện nội  
dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Qua khảo sát những  
bài viết của các tác giả, chúng tôi nhận thấy vấn đề  bi kịch con người cá  
nhân trong “Hồng lâu mộng” là một trong những nội dung được quan tâm 
tìm hiểu nhằm làm rõ tư tưởng của tác giả trong tác phẩm, đó là một gợi ý  
hết sức quan trọng để  chúng tôi xây dựng đề  tài. Thành tựu của các công 
trình nghiên cứu nói trên là những tài liệu vô cùng quý báu, gợi ý cho chúng 
tôi thực hiện đề tài của khóa luận này.

10


PHẦN THỨ BA:
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Bi kịch con người cá nhân trong tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào 
Tuyết Cần – Cao Ngạc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Bộ tiểu thuyết “Hồng lâu mộng” của Tào Tuyết Cần – Cao Ngạc qua bản  
dịch của nhóm Bùi Hạnh Cẩn, Ngọc Anh, Kiều Liên dịch (2 tập), Nhà xuất 
bản Văn học, năm 2009.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu bi kịch con người cá nhân trong “Hồng lâu mộng” qua hai bi kịch  


PHẦN THỨ TƯ:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ ĐẶC ĐIỂM CHUNG 
CỦA TIỂU THUYẾT MINH – THANH
4.1.1. Vài nét về tác giả và tác phẩm
4.1.1.1. Tác giả Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc
Tào Tuyết Cần (1716 – 1763?) tên thật là Tào Triêm, tự  là Mộng 
Nguyên, hiệu là Tuyết Cần, Cần Phố, Cần Khê, quê ở Liêu Dương, tổ tiên 
ông vốn là người Hán sau nhập tịch Mãn Châu. Ông là một nhà thơ, một 
nhà tiểu thuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả  của cuốn tiểu thuyết  
“Hồng lâu mộng” nổi tiếng. 
Tào Tuyết Cần xuất thân trong một gia đình quan lại thuộc tầng lớp  
đại quý tộc thời nhà Thanh. Vào thời Tào Dần – ông nội Tào Tuyết Cần, 
gia đình họ  Tào hết sức thịnh vượng, vua Khang Hy năm lần đi kinh lý 
phương Nam thì đã bốn lần trú tại nhà ông. Qua đó có thể thấy được cuộc 
sống hào hoa và mối quan hệ  mật thiết giữa gia đình họ  Tào với hoàng 
thất.Không chỉ  là một hào môn vọng tộc, gia đình Tào Tuyết Cần còn có  
truyền thống về  văn chương thi phú. Tào Dần là người lưu giữ  sách nổi  
tiếng thời đó, chính Tào Dần là người đứng ra hiệu đính và in ấn bộ “Toàn 
Đường Thi” nổi tiếng, ông còn là tác giả bộ “Luyện đình thi sao” và nhiều  
trước tác khác.
Đến thời Ung Chính thứ  5 (1729), cha của Tào Tuyết Cần là Tào 
Diệu bị  cách chức với tội danh hành vi bất đoan, nhũng nhiễu dịch trạm, 
thiếu khống rồi bị  hạ  ngục trị  tội, tịch biên tài sản. Tào Tuyết Cần phải  
theo gia đình rời Giang Nam về  Bắc Kinh sinh sống, nhà họ  Tào lâm vào  
cảnh sa sút nhanh chóng. Tào Tuyết Cần phải sống qua ngày trong những 
14




các trung thư, Nội  các  thị   độc. Năm Gia  Khánh thứ  6 (1801),  ông  đảm 
nhiệm việc khảo xét kì thi Hương và khảo thí quan lại. Đến năm 1809, ông 
làm chức Giang Nam đạo Giám sát ngự sử. Đến năm 1813, ông được thăng 
chức làm Hình khoa cấp sự trung. Trong thời gian làm quan ông được xem  
là người tiết tháo, cẩn trọng, chính sự  cần mẫn, tài năng đứng đầu, hiểu 
biết sâu rộng.Cao Ngạc làm quan dưới hai triều Càn Long – Gia Khánh, trải 
qua lắm hoạn nạn trên quan trường, về già lại sống cuộc sống thanh bần.
Ngoài 40 hồi viết tiếp “Hồng lâu mộng”, Cao Ngạc còn có nhiều tác phẩm  
khác: “Thanh sử  cảo – Văn uyển nhị” có chép “Lan thự  thi sao”, “Dương 
Tông Hy trong Bát kỳ văn kinh” có chép “Cao Lan Thự tập”, đến nay đều bị 
thất truyền. Hiện nay còn “Lan Thự  thập nghệ” (bản thảo), “Lại trị  tập  
yếu”  cùng  tập  thơ  “Nguyệt  tiểu  sơn  phòng  di  cảo”  và   tập  từ   “Nghiên 
Hương từ ­ Lộc tồn thảo”.
4.1.1.2. Quá trình hình thành tác phẩm “Hồng lâu mộng”
“Hồng lâu mộng” (Giấc mộng lầu son) là bộ  tiểu thuyết vĩ đại xuất hiện 
vào thời Kiền Long (cuối thế  kỉ  XVIII). Đó là tác phẩm có ý nghĩa cắm 
mốc một giai đoạn lịch sử  văn học vì dung lượng đồ  sộ, sự  thành thục  
trong phương pháp sáng tác, vì âm vang của sự chuyển mình lịch sử mà nó  
mang đến cho người đọc.
“Hồng lâu mộng” gồm 120 hồi, 80 hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết. Viết  
chưa xong, ông từ trần. Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi sau.
Sống trong xã hội nhiều thăng trầm, gia đình lại lâm vào cảnh sa sút, ngẫm 
trải  đủ  cay  đắng cuộc đời bi lụy đã thôi thúc Tào Tuyết Cần sáng tác 
“Hồng lâu mộng”. Ông đã dồn toàn bộ trí lực trong mười năm cuối đời để 
viết tác phẩm và qua năm lần sửa chữa thì đã hoàn thành được 80 hồi và dự 
thảo 40 hồi còn lại.
Khi Tào Tuyết Cần mất tác phẩm vẫn chưa hoàn thành và không được 
công bố. Mười lăm năm sau, bạn của ông là Cao Ngạc đã dụng tâm nghiên 

thành tựu tiêu biểu, ngoài ra còn có “Kim Bình Mai”, “Chuyện làng nho” 
17


cũng là những tác phẩm có giá trị. Loại cuối cùng là đoản thiên tiểu thuyết, 
có hàng ngàn tác phẩm nhưng “Liêu trai chí dị” là nổi tiếng hơn cả.
Tiểu thuyết Minh – Thanh được viết theo kết cấu chương hồi. Để hấp dẫn 
người nghe, đến đoạn cao trào, gay cấn, thì người kể dừng lại với lời mời:  
“Muốn biết sự  thể ra sao, xin xem hồi sau phân giải”. Trong tác phẩm có 
sự  giao thoa giữa biên niên sử  và truyện kể  dân gian, sự  xâm nhập của 
truyện hoang đường vào sử sách. Ví dụ trong ba tác phẩm “Tam quốc diễn 
nghĩa”, “Thủy hử”, “Tây du kí” đều được đúc kết trên cơ  sở  ba mảng  
chuyện kể về lịch sử, về hảo hán anh hùng, về chuyện nhà Phật.
Trong tiểu thuyết Minh – Thanh, cốt truyện rất được coi trọng.Câu chuyện  
cơ bản được kể theo thời gian một chiều, cái gì xảy ra trước kể trước, cái 
gì xảy ra sau kể  sau.Thông qua ngôn ngữ  và hành động tác giả  khắc họa  
tính cách  nhân  vật.Đây là  một  trong  những   đặc  điểm nổi bật  của  tiểu 
thuyết Minh – Thanh. Tinh thần hào hiệp, trượng nghĩa cứu người của Lỗ 
Trí Thâm trong “Thủy hử” được thể  hiện rất rõ nét thông qua ba cú đấm 
đánh   chết   Trần   Quan   Tây   Trịnh   Đồ.   Hoặc   tấm   lòng   cương   trực   của 
Trương Phi được thể hiện bằng hành động Trương Phi đánh đến gãy mười 
cành liễu vào mông của tên mọt dân hại nước Đốc Bưu.
Khi xây dựng hình tượng nhân vật, tiểu thuyết Minh – Thanh rất chú trọng 
vận dụng thủ pháp ước lệ và công thức để miêu tả, lí giải.Nhưng để  hình 
tượng nhân vật trở nên sinh động thì ngoài việc phải biết lựa chọn những 
chi tiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa tượng trưngcòn đòi hỏi tác giả phải sắp xếp 
các chi tiết đó thành một hệ thống hoàn chỉnh nhằm làm nổi bật đặc trưng 
tính cách nhân vật.Biểu hiện tấm lòng trung nghĩa của Quan Vũ có đâu chỉ 
vài lời giới thiệu sơ sài, mà là hàng loạt những câu chuyện sinh động.
Thơ  và từ  là hai thể  loại được dùng phổ  biến trong tiểu thuyết Minh –  

còn miêu tả tuyến tính như  trong tiểu thuyết đời Minh nữa. Vì vậy có thể 
thấy tiểu thuyết đời Thanh gần với tiểu thuyết hiện đại. Hình tượng nhân 
vật trong tác phẩm cũng có sự  thay đổi cho phù hợp với trình độ, thị  hiếu 
19


của tầng lớp thị  dân đang sống trong thời đại có nhiều biến chuyển mới. 
Nhân vật lúc này gắn với đời thực và được miêu tả tâm lí nhiều hơn. Trong 
tiểu thuyết “Hồng lâu mộng”, Tào Tuyết Cần cũng đã chú ý vận dụng 
những đoạn miêu tả tâm lí ngắn gọn để  khai thác bộ  mặt tinh thần và nội  
tâm nhân vật. 
4.1.3. Tiểu kết
Hoàn cảnh sống cơ hàn đã hình thành cho Tào Tuyết Cần cái nhìn sâu  
sắc về xã hội phong kiến suy tàn đương thời. Ngòi bút nhạy cảm và tài hoa 
của ông đã cho ta thấy được cái tâm trạng tích tụ về con người và thời đại  
trong ông. Về cuối đời, trong lúc đói khổ, bệnh tật, đau đớn giày vò thì tài 
năng của ông vẫn tỏa sáng ở đỉnh cao, “Hồng lâu mộng” là minh chứng cho 
tài năng kiệt xuất ấy.
Tiếp bút đầy tài hoa cho bộ  tiểu thuyết còn dang dở  của Tào Tuyết Cần, 
Cao Ngạc thực sự  đã kết nối được quan điểm sáng tác của Tuyết Cần,  
hoàn thành kết cấu bi kịch cho tác phẩm. Dù còn nhiều hạn chế về mặt nội  
dung và tư tưởng nhưng Cao Ngạc đã góp phần đưa bộ tiểu thuyết “Hồng 
lâu mộng” trở thành một tác phẩm hoàn chỉnh có giá trị cao, đáng được tôn  
vinh là cuốn tiểu hay nhất mọi thời đại mang ý nghĩa xã hội rộng lớn.
“Hồng lâu mộng” được xem là một tiểu thuyết mang tính hiện đại vì 
trong tác phẩm đã xuất hiện những tình huống tâm lí đầy mâu thuẫn của số 
phận con người cá nhân cụ  thể, họ  đại diện cho một giai cấp, một tầng  
lớp. Số phận của họ gắn với những đau đớn, bất hạnh, những thăng trầm,  
vui buồn trong cuộc sống đời thường.
Văn học Minh – Thanh giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển văn  


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status