1
Kinh nghiệm thu hút FDI thành công của 1 số nước trên Thế giới
I, Mỹ
Vào những năm 1980, dòng vốn FDI đã đổ dồn vào Mỹ do quy mô và độ mở của nền kinh
tế, đặc biệt là khi quá trình toàn cầu hóa được đẩy mạnh. Nhiều doanh nghiệp ở châu Âu và
châu á đã tìm đến Mỹ như địa điểm đầu tư lý tưởng vì Mỹ có thế mạnh về công nghệ và thị
trường vốn phát triển cũng như môi trường đầu tư thân thiện (vốn pháp định thấp, quy định
và luật ít, dễ dự báo, không nặng gánh về thuế). Tuy nhiên, những chính sách và môi
trường kinh doanh thân thiện không phải là chiến lược quốc gia để thu hút FDI của Mỹ. Nó
chỉ phản ánh văn hóa thúc đẩy kinh doanh truyền thống vốn đã tồn tại trong thời gian dài,
ảnh hưởng về mặt chính trị của những chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư và các nhà quản lý
trong việc tìm kiếm những quy định để thúc đẩy và tạo điều kiện cho đầu tư trong nước.
Mỹ đã thành công trong việc thu hút FDI dựa vào các quy định pháp luật, cụ thể là ở cấp
độ liên bang. Mặc dù chính quyền liên bang không liên quan nhiều đến quá trình cạnh
tranh thu hút FDI bằng luật, nhiều quy định có liên quan đến các nhà đầu tư không phải
được xây dựng bởi chính quyền liên bang mà bởi chính quyền cấp bang, thậm chí ở mức
độ nào đó bởi chính quyền thành phố và cộng đồng. Bên cạnh đó, việc cạnh tranh bằng các
ưu đãi hiếm được đặt ra ở cấp chính quyền trung ương nhưng lại rất phổ biến ở cấp chính
quyền bang. Theo đó, nên xem xét kinh nghiệm của Mỹ thông qua việc nghiên cứu các
chính sách ưu đãi của chính quyền các bang. Các chính sách ưu đãi thường được các bang
áp dụng là: giảm thuế tài sản, tín dụng thuế theo thu nhập, miễn hoặc giảm thuế doanh thu.
Tuy nhiên, do các gói khuyến khích về lợi ích cho nhà đầu tư giữa các bang thường giống
nhau nên họ sẽ phải tiếp tục đưa ra những chính sách ưu đãi hơn nữa để cạnh tranh thu hút
FDI.
Từ những năm 1980, quan điểm về hiệu ứng của chính sách ưu đãi trong thu hút đầu tư đối
với quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư đã thay đổi. Theo nghiên cứu của Donahue - Giáo
sư trường Jonh F.kenedy, Đại học Harvard (Mỹ) năm 2000, có nhiều nhân tố dẫn đến sự
thay đổi về vai trò của chính sách ưu đãi trong thu hút FDI, trong đó có những yếu tố tạo ra
sự khác biệt giữa địa điểm đầu tư này với địa điểm đầu tư khác: ví dụ như cải thiện về cơ
sở hạ tầng giao thông và viễn thông, sự tăng mạnh nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ có giá
Thứ ba là tạo nên liên minh giữa các bang, theo đó các chính quyền sẽ có sức mạnh thương
lượng lớn hơn. Sự liên minh cũng giúp giảm thiểu những khác biệt về chính sách và ưu đãi
(chi tiêu công, gánh nặng thuế...). Những nhà đầu tư có nhiều lựa chọn về địa điểm đầu tư
rõ ràng sẽ có sức mạnh thương lượng lớn hơn. Theo đó, để cân bằng hơn trong đàm phán,
các chính quyền có thể liên minh với nhau để thương lượng với các nhà đầu tư về các ưu
đãi trong thu hút FDI. Ví dụ, các bang gần nhau ở khu vực quanh NewYork và ở vùng
Trung Tây, Hiệp hội các Thống đốc quốc gia đã phê chuẩn “Khung hướng dẫn nhằm loại
bỏ sự leo thang trong cuộc cạnh tranh giữa các bang trong việc đưa ra các ưu đãi”, trong đó
kêu gọi việc trao đổi thông tin về các gói ưu đãi và kinh nghiệm áp dụng ưu đãi đem lại
hiệu ứng tràn tích cực. Tuy nhiên, trên thực tế các liên minh như vậy thường thiếu tính gắn
kết và dễ đổ vỡ.
Thứ tư là áp dụng những hạn chế mang tính liên bang đối với quá trình cạnh tranh. Chính
quyền liên bang cần có trách nhiệm trong việc quản lý hoạt động đầu tư và cấp ưu đãi đầu
tư, thu lại quyền hành trong tay chính quyền các bang trong việc thu hút đầu tư. Theo các
nhà kinh tế Graham và Krugman, các bang sẽ có lợi hơn nếu quyền cấp ưu đãi đầu tư của
họ bị xóa bỏ. Tuy nhiên, biện pháp này bị hạn chế bởi việc các ưu đãi của các chính quyền
bang có thể đồng thời thu hút cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó,
biện pháp chính quyền liên bang can thiệp nhằm giới hạn quyền cấp ưu đãi của chính
quyền bang trong khi không ảnh hưởng đến nỗ lực thu hút các nhà đầu tư trong nước bị coi
là không hiệu quả hoặc can thiệp quá sâu.
Một hướng tiếp cận khác là có thể ban hành luật liên bang, trong đó không thu hồi quyền
cấp ưu đãi nhưng sẽ hạn chế sự cạnh tranh giữa các bang thông qua việc đánh thuế khoản
3
thu nhập của nhà đầu tư có được ưu đãi (có thể ở mức cao) nhằm giảm động lực hay tính
hiệu quả của ưu đãi. Tuy nhiên, ở đây cũng nảy sinh vấn đề là rất khó để phân biệt được
trong thực tế giữa công cụ mang tính “ưu đãi” hay “chính sách chung”. Theo Donahue,
việc chính quyền liên bang can thiệp vào ưu đãi ở cấp bang yêu cầu những thủ tục hành
ngoại lệ trong quy định về hạn chế trợ cấp chỉ bao gồm trợ cấp cho doanh nghiệp quy mô
nhỏ và cho những khu vực nghèo đói.
Mức hỗ trợ của các chính quyền nước thành viên thường không được vượt quá 50% chi phí
hữu hình của mỗi dự án - chi phí chủ yếu liên quan đến tài sản cố định (ở khu vực kém
4
phát triển) và không quá 20% ở khu vực cần thúc đẩy phát triển. Các nước thành viên cần
thông báo trước cho Cao ủy trước khi thực hiện bất kỳ chương trình trợ cấp nào, và chính
Cao ủy chứ không phải chính phủ nước thành viên quyết định xem chương trình ưu đãi đó
có đáp ứng đủ các yêu cầu để được xem là trường hợp ngoại lệ hay không. Theo đó, chính
những chương trình ưu đãi cấp quốc gia được thiết kế cho các vùng/khu vực kém phát triển
hoặc cần thúc đẩy phát triển hoặc có tỷ lệ thất nghiệp cao lại là những công cụ chính được
chính quyền các nước thành viên hoặc chính quyền cấp thấp hơn cấp quốc gia sử dụng để
cạnh tranh thu hút các dự án đầu tư lớn.
Do đã loại bỏ nhiều hình thức bảo hộ đầu tư trong khu vực châu Âu cũng như sự gia tăng
tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều nước, cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng gay gắt, trước hết
được phản ánh qua số lượng các cơ quan xúc tiến đầu tư được thành lập trong những năm
gần đây, bao gồm cả việc thành lập những cơ quan cấp quốc gia mới ở Thụy Điển, Đan
Mạch, Phần Lan và Hy Lạp. Ngoài ra, rất nhiều cơ quan xúc tiến tăng cường mở rộng
mạng lưới, bao gồm nhiều chi nhánh ở nước ngoài và họ có quyền tự chủ lớn hơn, đồng
thời, nhiều cơ quan chính phủ các nước có nguồn lực nhiều hơn cho việc thu hút FDI.
Thậm chí, có số liệu cho thấy, có những mức ưu đãi lớn được dành cho các dự án lớn (ví
dụ dự án của Huyndai xây dựng nhà máy chế tạo chất bán dẫn ở Scotland, dự án đầu tư xây
dựng nhà máy ô tô Ford-VW năm 1991 tại Bồ Đào Nha...). Không chỉ các chính phủ xem
các quốc gia láng giềng là đối thủ cạnh tranh chính, họ cũng tập trung cạnh tranh trong một
số ngành tương tự nhau như ô tô, điện tử, dược phẩm. Điều này cũng đồng nghĩa mức độ
cạnh tranh thu hút đầu tư vào những ngành này sẽ tăng lên do các chiến lược định hướng
thu hút của các chính phủ có nhiều nét tương đồng, đi cùng với việc tăng quy mô và mức
Thứ hai, để giám sát quá trình tuân thủ trong cạnh tranh bằng ưu đãi của các nước thành
viên, ủy ban châu Âu đã ra các quyết định và yêu cầu các nước thành viên cung cấp thông
tin. Tuy nhiên, các quan chức vùng và địa phương lại giao dịch trực tiếp với nhà đầu tư
(đặc biệt là cung cấp những ưu đãi như các chương trình đào tạo nhân lực và hỗ trợ địa
điểm đầu tư). Trong khi đó, các cơ quan quản lý cấp trung ương lại không có động lực để
yêu cầu cơ quan địa phương đáp ứng yêu cầu của ủy ban châu Âu. Chính vai trò ngày càng
tăng của chính quyền địa phương trong việc cung cấp những ưu đãi đầu tư đã giúp cho họ
tránh được sự giám sát và kiểm tra của ủy ban châu Âu.
Thứ ba, đó là thiếu sự độc lập về chính trị cũng như hiệu quả điều hành cần có của các
nước thành viên. Trong khi quyền lực của ủy ban châu Âu được xác định là rất lớn (bao
gồm cả quyền lập pháp, cảnh sát, hành pháp và tư pháp), nhưng việc thực thi các quyền
này trên thực tế cũng còn nhiều tranh cãi giữa các nước thành viên, đặc biệt về việc xác
định chính xác biên giới địa lý của những vùng và khu vực đủ điều kiện để nhận hỗ trợ từ
phía nhà nước. Đồng thời, việc ủy ban cố gắng kiểm soát qua các chương trình ưu đãi đầu
tư của các nước thành viên có thể khiến các nước thành viên tăng cường sử dụng các
phương tiện kém minh bạch hơn là những ưu đãi thẳng cho nhà đầu tư. Đặc biệt là làm
tăng mối lo ngại gia tăng sử dụng cạnh tranh về thuế vì chỉ một phần nhỏ các ưu đãi thuế
để thu hút đầu tư của doanh nghiệp được xem là “hỗ trợ từ phía nhà nước” và theo đó chịu
sự kiểm soát của ủy ban.
III, Singapore
Singapore là một trong những nền kinh tế thành công trong việc thu hút FDI nhờ chiến
lược tập trung vào công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu. Chiến lược này được xây dựng từ
những năm 1960 dựa trên thực tế là thị trường nội địa nhỏ hẹp, nguồn vốn trong nước hạn
chế, các doanh nghiệp trong nước vẫn còn yếu. Chiến lược này đã được thực hiện hiệu quả
và đến năm 1981, ngành chế tác của Singapore đã thu hút được đến hơn 1/2 tổng số vốn
FDI vào trong nước. Đến năm 1993, các khoản đầu tư nước ngoài đã tăng mạnh và ngành
chế tác đã thu hút đến 60% tổng vốn đầu tư nước ngoài, đưa Singapore trở thành một trong
6
của Indonesia chiếm phần lớn.
Tuy nhiên, theo Rajenthran1[1] (2002), về cơ bản, Indonesia vẫn là thị trường hấp dẫn cho
FDI vào lĩnh vực khai khoáng, sản xuất do có nhiều loại khoáng sản phong phú, thị trường
nội địa rộng lớn, nguồn nhân lực tốt và chính sách kinh tế theo hướng thị trường. Năm
2008, Indonesia tiếp tục thu hút được 7,9 tỷ USD và con số này tăng lên ấn tượng tới 14,87
tỷ USD năm 2009. Nhiều phân tích cho rằng Indonesia có khả năng trở thành một trong
1
7
những địa điểm đầu tư hấp dẫn sau Trung Quốc và Ấn Độ. Ban Điều phối Đầu tư của
Indonesia (BKPM) cho biết, dự kiến đến năm 2015, Indonesia có thể thu hút được 30-40 tỷ
USD vốn FDI, gấp 3 lần năm 2009. Năm 2010, Tập đoàn Posco của Hàn Quốc đã ký hợp
đồng trị giá 6 tỷ USD để xây dựng nhà máy sản xuất thép. Tập đoàn Đầu tư Trung Quốc
cũng có kế hoạch đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng với trị giá lên tới 25 tỷ USD.
Quỹ đầu tư Syailendra Capital có trụ sở ở Jakarta đánh giá Indonesia là một trong những
địa điểm đầu tư hấp dẫn nhất trên thế giới. Các nhà đầu tư đã đổ xô vào Indonesia kể từ
giữa năm 2009, chủ yếu vào thị trường vốn, trái phiếu và cổ phiếu. New York Times đánh
giá rằng trong bối cảnh thị trường toàn cầu ảm đạm, những chỉ số tốt trong nền kinh tế
Indonesia như nợ thấp, tăng trưởng cao đã giúp nước này có được sự hấp dẫn đầu tư của
mình. Kinh ngh Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, Indonesia đứng trước thách thức cần
nguồn vốn để phục hồi nền kinh tế. Do nợ công của Indonesia lúc đó đã ở mức cao khiến
khả năng vay nước ngoài thấp và nguồn vốn trong nước cạn kiệt, giải pháp khả thi nhất là
thu hút FDI để phục hồi nền kinh tế. Đồng thời, Indonesia cũng đứng trước thách thức
quản lý nguồn vốn FDI đổ vào nước này, trong đó nổi bật là thách thức duy trì phát triển
đồng đều giữa các vùng miền và phân cấp quản lý hiệu quả.
Liên quan đến phát triển vùng miền, việc phát triển dựa vào nguồn vốn FDI có thể làm
tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng và tăng nguy cơ gây bất ổn, xung đột. Lý do là
nguồn vốn FDI có xu hướng tập trung vào một số địa phương ít có lợi thế về nguồn lực và
- Hài hòa giữa quyền tự chủ của địa phương và khả năng điều phối nguồn thu của chính
phủ, trung ương. Lý do là cho dù các biện pháp trên có được thực hiện, thì sẽ vẫn có một
số địa phương không thể cạnh tranh nổi trong việc thu hút nguồn vốn FDI. Do vậy, chính
quyền trung ương vẫn cần giữ thẩm quyền quản lý thu chi ngân sách ở một mức nhất định
để phân bổ cho các địa phương nghèo, vùng sâu vùng xa khó có khả năng thu hút FDI.
Tuy nhiên, qua thực tế triển khai cho thấy, ở một đất nước với rất nhiều sắc tộc, tôn giáo,
văn hóa, vùng đất tách biệt như Indonesia, thực hiện việc phát triển đồng đều giữa vùng
miền là khó. Trong những năm gần đây, vốn FDI chủ yếu đổ vào đảo Java, nơi có nhiều lợi
thế về cơ sở hạ tầng tốt và tập trung đông dân cư.
V, Thái Lan
FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan trọng đối với nền kinh tế
Thái Lan. Chính phủ Thái Lan đã xây dựng một chính sách ưu đãi để cho dòng vốn này
phát huy được lợi thế.
Ngay từ giai đoạn 1959 - 1971, Thái Lan đã thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế thay
thế hàng nhập khẩu. Quốc gia này đã có chủ trương giảm dần đầu tư từ Chính phủ, khuyến
khích đầu tư tư nhân. Theo đó, năm 1959, Thái Lan đã thành lập Bộ Đầu tư và đến năm
1960 đã ban hành Đạo luật Đầu tư.
Giai đoạn 1972 - 1996, Bộ Đầu tư Thái Lan đã ban hành chính sách thu hút các chuyên gia,
lao động chất lượng cao từ bên ngoài với những ưu đãi về đất, việc làm để thực hiện Chiến
lược phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Từ năm 2005, chính sách thu hút FDI của
Thái Lan có sự biến chuyển theo hướng đầu tư chọn lọc với chính sách ưu tiên nhà đầu tư
trong nước, hỗ trợ phát triển các loại hình dịch vụ phi sản xuất và các loại hình dịch vụ tài
chính. Thống kê cho thấy, FDI vào Thái Lan đầu tư nhiều nhất là lĩnh vực công nghiệp, sau
đó là thương mại, bất động sản, xây dựng…
VI, Malaysia
Đối với Malaysia, các chính sách khuyến khích FDI được áp dụng:
+ Các doanh nghiệp hoạt động ở vùng sâu vùng xa được miễn thuế đầu tư 10 năm.
9
chính phủ Malaysia đang tăng cường sau khi thực hiện các cam kết hội nhập nhẵm thực
hiện đúng như lịch trìnhđã đặt ra , tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một cọng
đồng kinh tế ASEAN và đồng thời cũng làm tăng tính hấp dẫn của thị trường Malaysia đối
với các nhà đầu tư nước ngoài.
10
Ủng hộ quan hộ quan điểm tự do hoá thương mại và đầu tư giũa các ASEAN ,Malaysia
cũng nỗ lực thực hiện Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN được ký vào tháng 101998, nhằm cung cấp một môi trường đầu tư tự do và thuận lợi hơn cho các thành viên
ASEAN
+ Tăng cường mối quan hệ hợp tác: Tăng cường các mối quan hệ hợp tác nhằm tạo điều
kiện cho đầu tư , thông qua việc tăng tính minh bạch của các thủ tục , luật pháp chính
sách đầu tư, mở rộng số lượng các đối xử ưu đãi thuế trong các nước thành viên
ASEAN.Các nước thành viên cũng đồng thiết lập các cơ sở dữ liệu về đầu tư ,thúc đẩy
mối liên kết cộng cộng-tư nhân,xác định các lĩnh vực mục tiêu cho hợp tác công nghệ.
+ Thúc đẩy đầu tư bằng cách thành lập các chương trình đào tạo lao động kỹ năng ,đào tạo
chuyên gia ,công nghệ và các hoạt động liên kết giữa các nước thành viên.
+ Tự do hoá đầu tư thông qua giảm và huỷ bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư, thúc đẩy dòng
vốn chảy vào tự do hơn.
+ Tạo thuận lợi cho việc đi lại ,trao đổi giữa doanh nhân các nước: Chính phủ Malaysia đã
thực hiện chính sách một cửa trong cấp vía , cấp giấu phép kinh doanh ,giải quyết các thủ
tục hành chính ...nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian ,giảm bớt những phiền hà cho các nhà
đầu tư nước ngoài vào Malaysia.Thời hạn xử lý trước đây,thời hạn xin cấp phép đầu tư ở
Malaysia thường kéo dài từ 1-3 tháng, thì hiện nay là 8 tuần .Chính phủ cũng cho phép
người nước ngoài được sỏ hữu nhà ở nếu đáp ứng được một số yêu cầu nhất định ở
Malaysia, để đảm bảo an toàn vốn cho người nước ngoài chính phủ đã ký hơn 54 kiệp ước
đảm bảo đầu tư với cam kết không tước đoạt hoặc quóc hữu hoá vốn đầu tư nước
ngoài,cho phép các nhà đầu tư tự do chuyển lợi nhuận về nước.
+ Tăng cường các cơ hội đầu tư nước ngoài trong những ngành ưu tiên nhằm nâng cao