Khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La Các chuyên đề - Pdf 34

Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
.............WX..............

đề tài khoa học cấp bộ năm 2007
M số: B07 - 25

Khai thác giá trị tri thức bản địa ngời Thái phục vụ
yêu cầu phát triển kinh tế - x hội ở các khu
tái định c thuộc dự án thuỷ điện Sơn la
Cơ quan chủ trì:

Học viện Chính trị khu vực I

Chủ nhiệm đề tài: Th/s. Nguyễn Thị Thanh Huyền
Th ký: Th/s. Nguyễn Việt Phơng

các chuyên đề

Hà Nội - 2007


Tầm quan trọng của khai thác giá trị tri thức bản địa ngời
Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - x hội tại khu tái định c
thuộc dự án Thuỷ điện Sơn la

TS. Lê Phơng Thảo(*)

Sau nhiều năm nghiên cứu, chủ trơng xây dựng Nhà máy thuỷ điện
Sơn La đã đợc Trung ơng Đảng, Quốc hội và Chính phủ quyết định xây
dựng Thuỷ điện Sơn La với phơng án 3 bậc trên sông Đà tại tuyến Pá Vinh
II, xã ít Ong, huyện Mờng La tỉnh Sơn La. Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội

thiệt hại tài sản của các tổ chức là 373 tỷ đồng, giá trị thiệt hại tài sản của hệ
gia đình và cá nhân là 1.051 tỷ đồng.
Nhiệm vụ cơ bản đặt ra đối với công tác di dân TĐC thuộc dự án Thuỷ
điện Sơn La tính đến năm 2010 là đảm bảo di dân đến nơi ở mới an toàn,
đúng tiến độ thi công xây dựng công trình, từng bớc ổn định sản xuất, đời
sống, để ngời đến nơi ở mới có điều kiện sản xuất, đời sống tốt hơn nơi ở
cũ. Di dân TĐC là nhiệm vụ mới quan trọng, toàn diện và nhạy cảm, liên
quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội
nh: đất đai, phong tục tập quán, t tởng, nhận thức, tâm lý dân tộc, môi
sinh, môi trờng, chế độ chính sách, đời sống, sản xuất, kinh tế, chính trị,
văn hoá, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng Mặt khác, công tác di
chuyển dân phải tiến hành trong một thời gian ngắn, tập trung ở những xã,
bản, vùng dân tộc ít ngời, đời sống khó khăn, dân trí thấp, lao động hầu hết
cha qua đào tạo, phong tục tập quán chủ yếu là thuần nông tự cấp tự túc,
cộng với tâm lý đồng bào không muốn dời bỏ quê hơng đây chính là
những khó khăn, thách thức lớn đặt ra đối với công tác TĐC thuộc dự án
Thuỷ điện Sơn La.
Trớc các nhiệm vụ lớn đó, ngày 22 tháng 10 năm 2002, Bộ Chính trị
đã cho ra đời Thông báo số 84-TB/TW về Kết luận của Bộ Chính trị về Dự
án Thuỷ điện Sơn La. Trong đó quan điểm chỉ đạo về công tác TĐC là:
Tiếp tục hoàn chỉnh phơng án TĐC, nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho
đồng bào TĐC sớm ổn định đợc chỗ ở, cuộc sống, sản xuất, tiến lên thay
đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, có cuộc sống vật
chất và văn hoá tốt hơn để ổn định lau dài. Xây dựng công trình Thuỷ điện
Sơn La phải tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội cả vùng

2


Tây Bắc theo hớng CNH, HĐH, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn

ĐCSVN, Tỉnh uỷ Sơn La, Ban chỉ đạo di dân, tái định c Thuỷ điện Sơn La, Nha fmáy Thuỷ điện Sơn
La và công cuộc di dânm, tái định c, Sơn La tháng 12 năm 2006, tr. 9.

3


Năm là, tiến độ quy hoạch và đầu t xây dựng khu TĐC di dân ra khỏi
vùng sẽ bị nhập phải nhanh hơn, đi trớc tiến độ xây dựng công trình Thuỷ
điện Sơn La, chủ động di dân theo hình thức một chốn đôi quê, không chờ
nớc dâng mới di chuyển dân.
Sáu là, xây dựng những mô hình TĐC về nhà ở, về sản xuất và kết cấu
hạ tầng phù hợp với phong tục tập quán đồng bào các dân tộc và điều kiện
địa lý tự nhiên, khí hậu từng nơi, theo định hớng của Trung ơng và của
Tỉnh; coi trọng việc lấy ý kiến đóng góp của cán bộ nhân dân ở các vùng
phải di dời cũng nh ở vùng quy hoạch khu TĐC đối với các phơng án
TĐC.
Nhận thức rõ tầm vóc và ý nghĩa của công trình Thuỷ điện Sơn La đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội Tây Bắc, Nhà nớc đã dành nguồn kinh phí
lớn đầu t quy hoạch, xây dựng các khu tái định c (TĐC) cho các đối tợng
thuộc diện di dời khỏi lòng sông Đà. Song dự án TĐC mới bắt đầu vận hành
đã bộc lộ nhiều hạn chế. Việc đa một số lợng lớn c dân phần lớn canh
tác nơng rẫy (xen lẫn canh tác ruộng nớc thung lũng) với tập quán canh
tác tự cấp tự túc là phổ biến chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hớng công
nghiệp hoá; việc chuyển từ phơng thức sản xuất tuỳ thuộc chặt chẽ vào môi
trờng tự nhiên sang một môi trờng nhân tạo với những quy hoạch chi tiết
của Nhà nớc; các tộc ngời thiểu số vốn có tập quán quần c mang tính
cộng đồng bền chặt với những bản sắc văn hoá đặc trng ít nhiều bị xé lẻ để
phục vụ cho các dự án TĐC; những yếu tố văn hoá truyền thống gắn liền với
những không gian sinh tồn đặc trng đã chuyển sang vận động trong cảnh
quan mang tính nhân tạo là chủ yếu đã tác động mạnh mẽ đến cuộc sống

ngời thiểu số ở nớc ta chủ yếu tập trung vào các khía cạnh sau đây:
- Tri thức địa phơng trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
- Tri thức địa phơng về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên, bao gồm rừng, đất đai và nguồn nớc.
- Tri thức về tổ chức và quản lý cộng đồng.
- Tri thức địa phơng về y học dân gian và chăm sóc sức khoẻ.
- Truyền thống giáo dục, trao truyền vốn tri thức dân gian trong phạm
vi cộng đồng làng bản, dòng họ, gia đình nhằm bảo tồn, phát huy và sử dụng
có hiệu quả những kiến thức đó vào phát triển cộng đồng.
Tây Bắc là một vùng rộng lớn có địa - chính trị, kinh tế - văn hoá
độc đáo, có vị trí chiến lợc rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nớc
cả về an ninh, quốc phòng, chính trị, kinh tế, văn hoá. Trong những năm đổi
5


mới vừa qua, đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá ở vùng đồng bào các dân
tộc Tây Bắc đã có bớc tiến đáng kể khi sự đầu t của Nhà nớc vào một số
các công trình trọng điểm trong thời kỳ CNH, HĐH. Đi cùng với sự phát
triển về kinh tế, bảo đảm ổn định về chính trị, an ninh, quốc phòng là việc
giữ gìn bản sắc văn hoá vốn có ở khu vực này, biến nó trở thành động lực
quan trọng trong việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH. Trớc
những mục tiêu đó, việc khai thác một cách triệt để những giá trị tri thức bản
địa của ngời Thái vốn là tộc ngời thuộc diện di chuyển, TĐC chủ yếu của
Dự án là nhiệm vụ cần thiết, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững, ổn định
của Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng. Mục tiêu đó đặt ra những yêu
cầu cơ bản trong việc khai thác tri thức bản địa của cộng đồng ngời Thái tộc ngời chiếm số đông trong các dự án TĐC của Thuỷ điện Sơn La nh
sau:
Một là, Dự án di dân, TĐC đối với tộc ngời Thái lu ý khai thác
những giá trị tri thức về việc lựa chọn địa bàn c trú gắn với đặc điểm là c
dân trồng lúa nớc, có tập quán định canh, định c lâu đời..

Khai thác những giá trị tri thức bản địa của ngời Thái trong sản
xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, trong khai thác nguồn tài nguyên
thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Những tri thức, kinh nghiệm của ngời Thái trong làm nơng làm
ruộng, trong xây dựng các công trình thuỷ lợi, trong giữ gìn và khai thác
rừng, khai thác nguồn nớc thực sự có giá trị đối với việc phát triển một
nền kinh tế mới phù hợp với địa hình, điều kiện tự nhiên ở đây. Mặt khác,
bản thân những tri thức bản địa luôn có tính động bởi nó là kết quả của một
quá trình tích luỹ kinh nghiệm, đổi mới và thích nghi một cách liên tục nên
đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác kiến thức bản địa kết hợp
với việc đa khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế ở vùng TĐC. Nhng
việc kết hợp giữa tri thức bản địa với những giá trị tri thức khoa học để tạo ra
sự hoà nhập trong xu thế phát triển bền vững luôn là vấn đề không đơn giản.
Những thất bại của việc đa tiến bộ khoa học kỹ thuật ở vùng phát triển vào
vùng chậm phát triển, của việc đa tri thức và kỹ thuật ở vùng đồng bằng lên
để quản lý môi trờng và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi và dân
tộc những năm qua trên đất nớc ta là những bài học thực tế cần lu tâm.
Ba là, khai thác giá trị tri thức bản địa ngời Thái trong xây dựng cơ
cấu xã hội phát huy tính cố kết cộng đồng, những yếu tố tiến bộ của hệ thống
luật tục và xây dựng một nền văn hoá tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc.
7


Đối với ngời Thái, điểm nổi bật nhất trong những giá trị tri thức về xã
hội đó là tính cộng đồng hết sức bền chặt, mọi thiết chế quản lý xã hội
truyền thống của tộc ngời này đều đợc thực hiện trên nền tảng yếu tố bản
sắc đó. Đây là giá trị tri thức, tập quán quý báu tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thực hiện mục tiêu xây dựng cộng đồng c dân đoàn kết, gắn bó, phát
triển ổn định trên các vùng đất mới tại các điểm TĐC. Nhng chính tính
cộng đồng bền chặt này của ngời Thái lại đặt ra nhiều yêu cầu khi di

thành nhiều bản, lại có bản mới bao gồm nhiều bản cũ, có bản mới bao gồm
nhiều dân tộc sinh sống với số lợng khác nhau,... Nếu không có những
chính sách hợp lý, tất yếu sẽ gây ra những hệ luỵ, thậm chí nó làm tổn hại
đến tình đoàn kết vốn có. Trong trờng hợp này, rõ ràng, văn hoá đóng một
vai trò rất quan trọng, với sự nhạy cảm và đôi khi hết sức tự nhiên, nó sẽ gắn
giữa các dân tộc với nhau bằng sợi dây vô hình và rất hiệu quả. Việc giữ gìn
"bộ gen di truyền" văn hoá quý hiếm của từng dân tộc, là cơ sở để tạo nên sự
đa dạng, phong phú trong nền văn hoá Việt Nam thống nhất, đa dân tộc. Đặc
biệt đối với ngời Thái vốn là c dân định c lâu đời, có truyền thống canh
tác lúa nớc khá sớm v có một nền văn hóa rất phong phú thì di dân, TĐC
đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc nghiên cứu về bảo tồn, khai thác v phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống nói chung và tri thức bản địa nói riêng
nh khảo sát, khai quật, di dời, phục chế... những di sản văn hóa vật thể.
Đồng thời tiến hnh nghiên cứu, su tầm, phân loại v lu giữ bằng các hình
thức dân gian v hiện đại những di sản văn hóa phi vật thể để phục vụ công
tác nghiên cứu, phổ biến v phát huy các giá trị văn hóa đó. Dự án nói trên
cũng bao gồm cả việc khảo sát điều tra v xử lý các số liệu khoa học về
những giá trị văn hóa của vùng đất đồng bo sẽ đến TĐC. Do vậy, công trình
thuỷ điện Sơn La rất cần một dự án quốc gia về văn hóa(1).
Bốn là, khai thác giá trị tri thức bản địa ngời Thái gắn với công tác
nâng cao chất lợng hoạt động y tế, bảo vệ môi trờng để thực hiện mục tiêu
phát triển bền vững.
Một trong những yếu tố ảnh hởng trực tiếp đối với việc nâng cao chất
lợng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH là chất lợng hoạt động
của công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân gắn với các dịch vụ y tế. Đối
với đồng bào dân tộc thiểu số sống ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa nơi mà
điều kiện giao thông, cơ sở vật chất phục vụ cho việc sử dụng lợi ích từ các
dịch vụ y tế là hết sức hạn chế. Do đó, việc kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả
trong khai thác những giá trị tri thức bản địa của đồng bào về lĩnh vực chăm
(1)

thực tiễn sâu sắc. Làm tốt nhiệm vụ này không chỉ có ý nghĩa đối với việc
hoàn thành công tác di dân, đảm bảo đúng tiến độ chất lợng công trình
quốc gia mà vấn đề quan trọng là tạo tiền đề để Sơn La và Tây Bắc nói
chung phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập.

10


Quan điểm của Đảng cộng sản việt nam về việc bảo
tồn giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số khu vực
tây bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá

TS. Don Hùng*

Văn hoá là động lực cho sự phát triển. Trong sự nghiệp đổi mới của đất
nớc ta hiện nay, việc bảo tồn những giá trị văn hoá các tộc ngời đợc đặt
trong tổng thể mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc và là
yếu tố có tính chất bản lề của quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lợc
thời kỳ CNH, HĐH. Tây Bắc là miền đất giàu truyền thống lịch sử, là địa
bàn c trú của nhiều dân tộc anh em với sự đa dạng về sắc thái văn hoá. Trải
qua lao động, sản xuất, sống hoà nhập với thiên nhiên và đóng góp tích cực
đối với lịch sử của dân tộc ta, mỗi tộc ngời đều lu giữ lại những bản sắc
văn hoá, những giá trị tri thức bản địa rất phong phú có ý nghĩa lớn đối với
sự vơn lên của Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay. Những giá trị đó còn là
lợng chất liệu lớn, quan trọng xây đắp nên nền văn hoá Việt Nam thống
nhất trong đa dạng.
Nhận thức rõ vai trò của văn hoá đối với sự nghiệp đổi mới đất nớc,
việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, giữ gìn những
giá trị văn hoá truyền thống của các tộc ngời luôn là nhiệm vụ đợc Đảng

Hai là, đảm bảo dân chủ tự do cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn
hoá, vun đắp các tài năng đồng thời đề cao trách nhiệm của văn nghệ sỹ trớc công chúng, dân tộc và thời đại.
Ba là, phát triển văn hoá dân tộc đi liền với mở rộng, giao lu với nớc
ngoài, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu đẹp thêm nền văn
hoá Việt Nam. Ngăn chặn và đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn
hoá độc hại, bảo vệ nền văn hoá dân tộc.
Bốn là, nâng cao tính chiến đấu của các loại văn hoá và văn học, nghệ
thuật, khẳng định mạnh mẽ, sâu sắc những nhân tố mới, những giá trị cao
đẹp của dân tộc ta, khắc phục những gì cản trở quá trình đi lên của đất nớc.
Phê phán cái sai, lên án các ác, cái xấu là để hớng con ngời tới cái đúng,
cái tốt, cái đẹp. Đấu tranh không khoan nhợng chống các luận điệu độc hại
của các thế lực thù địch.
Năm là, văn hóa, văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội. Phát triển các
hoạt động văn hoá, văn nghệ của Nhà nớc, tập thể và cá nhân theo đờng
lối của Đảng và sự quản lý của nhà nớc. Khắc phục tình trạng hành chính

12


hoá các tổ chức văn hoá, văn nghệ và xu hớng thng mại hoá trong lĩnh
vực này.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ơng khoá VIII đã bổ sung
các quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ơng 4 khoá VII, cụ thể là:
1. Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
2. Nền văn hoá của chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Tiên tiến là yêu nớc và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý
tởng độc lập và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con ngời, vì hạnh phúc và sự phát triển
phong phú, tự do, toàn diện của con ngời, mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân

tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
hội và con ngời trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế
quốc tế. Đảm bảo sự gắn kết giữ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm,
xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của
xã hội. Trong đó, đặc biệt coi trọng nâng cao văn hoá lãnh đạo quản lý, văn
hoá trong kinh doanh và văn hoá trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên;
chống những hiện tợng phản văn hoá, phi văn hoá. Đẩy mạnh xây dựng đời
sống văn hoá đại chúng và môi trờng văn hoá lành mạnh. Bồi dỡng các tài
năng văn hoá, khuyến khích sáng tạo. Nâng cao chất lợng và mở rộng diện
phổ biến các sản phẩm văn hoá đáp ứng nhu cầu hởng thụ văn hoá ngày
càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân
Những t tởng chỉ đạo trên thể hiện sự sáng tạo to lớn của Đảng ta
trong việc nhận thức về tầm quan trọng của văn hoá trong thời kỳ mới. Nó
cũng là nền tảng để chúng ta có sự nhận dạng đúng hơn về văn hoá từng
vùng, từng dân tộc. Trên cơ sở đó sẽ có những chính sách tốt hơn trong việc
xây dựng nền văn hoá mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tây Bắc bao gồm 6 tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên
Bái và Lào Cai, là một vùng rộng lớn, có địa chính trị, kinh tế - văn hoá độc
đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nớc cả về an ninh quốc phòng, kinh tế, xã hội và văn hoá. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay,
Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra nhiều chủ trơng, chính sách nhằm thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tạo
điều kiện để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào

(1)

ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H, 2006, tr. 212.

14



hoá truyền thống, những giá trị tri thức bản địa để xây dựng nền văn hoá mới

15


và đa văn hoá thực sự là động lực cho sự phát triển bền vững của Tây Bắc là
vấn đề có ý nghĩa quyết định.
Để thực hiện mục tiêu trên đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ.
Trong đó, việc bảo tồn và phát huy những bộ gien văn hoá truyền thống tại
của vùng tái định c nhằm biến nó trở thành động lực mới là giải pháp có
tính định hớng cơ bản. Bởi lẽ, đây chính là cơ sở liên kết tộc ngời và tạo
nên sức sống của các tộc ngời trong giao lu với các dân tộc khác trong đại
gia đình các dân tộc Việt Nam. Từ đó tạo nên sự thống nhất trong đa dạng
của nền văn hoá Việt Nam. Việc kiểm kê các tài sản văn hoá vật thể, phi vật
thể ở khu vực tái định c gắn liền những quan niệm mới về văn hoá, đặc biệt
là ở những vùng khó khăn, xa xôi là một trong những việc làm cấp bách hiện
nay của Đảng và Chính phủ, của bản thân mỗi tộc ngời và của các khu vực
dân c mới. Việc xây dựng quy hoạch và phân bố dân c theo một tổng thể
nào đó tất yếu phải có sự quan tâm đặc biệt tới truyền thống và đặc điểm văn
hoá. Việc quy hoạch các làng bản mới cần phải tôn trọng ý kiến của c dân
sinh sống ở đây, tạo điều kiện để c dân chuyển rời đến nơi c trú mới giữ
đợc bản sắc văn hoá của gia đình và cộng đồng. Do đó, mọi động thái cần
phải xuất phát từ yêu câu về văn hoá và đặc điểm văn hoá của đồng bào
thuộc khu vực tái định c ở Tây Bắc để xây dựng làng bản mới, tạo điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội theo hớng CNH, HĐH và mở rộng giao lu văn
hoá lại giữ đợc bản sắc độc đáo của từng tộc ngời. Bản sắc dân tộc không
phải là cái bất biến, tĩnh tại, khép kín mà là ở xu thế động và mở, rút tỉa và
tiếp nhận. Nó mang tính lịch sử cụ thể và luôn tạo lập các giá trị mới để
thích ứng với yêu cầu phát triển chung của thời đại. Vì vậy, bản sắc văn hoá
dân tộc phải đợc hiểu trong xu thế phát triển và phát triển là điều kiện để

hoá và phát triển, muốn giải quyết tốt mối quan hệ thống nhất và đa dạng,
truyền thống và hiện đại,... thì trớc hết phải nghiên cứu thật toàn diện các
mặt của đời sống từng dân tộc, nắm vững đặc điểm từng dân tộc, đánh giá
đúng đắn di sản văn hoá truyền thống từng dân tộc, lấy đó làm xuất phát
điểm đi lên CNH, HĐH.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hoá truyền thống nh vậy Đảng đã có những chủ trơng cụ thể
đối với văn hoá Tây Bắc nói chung và việc lu giữ những giá trị văn hoá khu
vực tái định c phục vụ các công trình lớn của đất nớc nói riêng, đó là:
- Tích cực tìm hiểu những thay đổi, biến đổi của văn hoá tại các khu
vực tái định c khu vực Tây Bắc nói chung, vùng tái định c mới của đồng
bào các dân tộc thiểu số,...

17


- Tìm kiếm những giải pháp nhằm bảo tồn các giá trị văn hoá truyền
thống của dân tộc thiểu số tại khu vực tái định c phục vụ các công trình
lớn, trong đó quan trọng nhất là các công trình thuỷ điện đã và đang xây
dựng. Có những đầu t thích đáng cho công tác bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hoá. Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ ngành văn hoá, hiểu biết rõ
các giá trị văn hoá của đồng bào các dân tộc, biết lấy văn hoá làm nền tảng
trong phát triển kinh tế - xã hội, chống lại những nọc độc văn hoá mới nảy
sinh hoặc du nhập từ bên ngoài.
Từ những chủ trơng chung về công tác văn hoá trong thời kỳ mới.
Đảng ta đã chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyển thống của
đồng bào các dân tộc thiểu số. Khu vực Tây Bắc đợc đặc biệt quan tâm nhất
là khi những công trình lớn của đất nớc có những tác động trực tiếp đến văn
hoá. Những chủ trơng, định hớng cũng nh những giải pháp cụ thể là hết
sức cần thiết để đạt đợc những kết quả tốt nhất trong công tác này./.

áp dụng mô hình sản xuất hàng hoá cho cộng đồng c dân cha hề có quá
trình chuẩn bị thích ứng với nó đã không tạo ra những bớc đi phù hợp cho
sự chuyển đổi về phơng thức sản xuất. Với quy hoạch chi tiết cả diện tích
canh tác lẫn phơng thức sản xuất tại các điểm TĐC, trên thực tế đã tách rời
(*)

Trởng khoa Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Khu vực I.

19


con ngời với không gian c trú, không gian sinh tồn (ruộng đất, vốn rừng,
thảm thực vật, sông suối) và những tập quán canh tác gắn với điều kiện tự
nhiên ấy vốn đã gắn bó với c dân bản địa qua nhiều thế hệ. Trải qua lao
đông, sản xuất, sống gắn bó, hoà nhập với thiên nhiên, các tộc ngời Tây
Bắc đã đúc kết đợc hệ thống tri thức bản địa trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
kinh tế và kinh tế nông nghiệp.
Trong hệ thống tri thức đó thì tri thức bản địa của ngời Thái chiếm
một vị trí đặc biệt quan trọng. Những giá trị cơ bản của tri thức bản địa
ngời Thái liên quan đến phát triển kinh tế là hệ thống những tri thức về
điều kiện tự nhiên (sinh quyển, khí hậu, thảm thực vật, sông suối, đất rừng,
vốn rừng); về ứng xử của con ngời đối với môi trờng tự nhiên nhằm
đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững (bảo tồn nguồn gien thiên nhiên, kết
hợp giữa khai thác với bảo vệ nguồn nớc, bảo vệ môi trờng sinh thái); về
tập quán canh tác và phơng thức sản xuất (sử dụng công cụ sản xuất,
phơng thức quản lý của cộng đồng và cá nhân với t liệu sản xuất, kinh
nghiệm tổ chức sản xuất). Nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa trong
lĩnh vực kinh tế của ngời Thái sẽ là cơ sở hình thành những giải pháp cho
sự phát triển kinh tế ở các khu TĐC thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La
1. Những giá trị tri thức cơ bản của ngời Thái có liên quan đến

việc lựa chọn các phơng pháp canh tác. Trong đó, đặc biệt là những tri
thức, kinh nghiệm về chọn lựa, phân loại đất trồng trọt với nhiều phơng
pháp khác nhau. Phơng pháp chọn đất bằng cách nhìn màu của đất đã đợc
đúc kết bằng câu tục ngữ: đất đen trồng da, đất đỏ trồng bông (đin đăm
pú teng, đin đeng pú khẩu). Đất trồng da có thể trồng đợc một số loại đậu,
rau xanh và đất trồng bông thì thông thờng có thể trồng lúa đợc. Đất màu
đỏ sẫm gọi là đin cắm khôn phán theo họ thì trồng gì cũng đợc ăn.
Ngời Thái còn lựa chọn đất canh tác bằng cách dùng dao chém đất hoặc lấy
thuổng chọc xuống rồi nhổ lên. Đất có thể trồng trọt đợc thờng bám trên
lỡi dao hoặc thuổng. Nhờ phơng pháp này, đồng bào có thể xác định đợc
đất có độ ẩm cao, hay thấp tức là có thể trồng trọt đợc hoặc không. Ngời
Thái còn dùng cả phơng pháp nếm đất để thử độ chua, độ đậm của đất.
Nhng phơng pháp này rất khó đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm canh tác
nên chỉ có các lão nông trong bản mới dùng. Phơng pháp chọn đất đợc
ngời Thái dùng phổ biến hơn cả là nhìn thực vật nơi đất định chọn. Ví dụ
nh đất trồng ngô thờng tốt hơn cả là nơi có rừng chuối và bên dới có cỏ,
gọi là nhả nhung. Từ kinh nghiệm lao động sản xuất của nhiều thế hệ,
ngời Thái rất a thích lựa chọn những vùng đất có quần thực vật phát triển

21


mạnh và đa dạng về chủng loại. Dân gian Thái thờng truyền nhau câu: cỏ
cây tốt, lúa bông cũng tốt (mạy nhả chăn, khẩu phải cọ chăn).
Ngời Thái thờng gọi đất trồng trọt đợc là đất làm nên (đin pá
dợn) còn đất không thể trồng trọt đợc gọi là đất không làm nên (đin
báu pá dợn). Đối với loại đất không thể trồng trọt đợc gồm những đất
nhạt hay bạc màu gọi là đin chứt đin cháng; đất cằn gọi là đin kẻ
dẻng, đất sét gọi là đin đeng pẳn mỏ (đất đỏ nặn nồi). Đất đầm lầy gọi
là: đin bớm. Đối với loại đất này chẳng những không trồng trọt đợc mà

ngấn cắm năng tẩu. Do đó, đối tợng trồng trọt của đồng bào là ruộng và
nơng ông nơng bà ruộng (po hay, mẹ na). Phơng pháp canh tác trên
ruộng nớc của ngời Thái nằm trong loại hình nông nghiệp dùng cày.
Trong đó, loại ruộng nớc hay gọi là na chính là mảnh đất đợc ngời
Thái coi trọng.
Vốn là c dân nông nghiệp trồng lúa nớc nên vấn đề quan tâm thứ
hai của ngời Thái sau đất chính là nguồn nớc. Trong lao động sản xuất, họ
đã tích luỹ đợc nhiều tri thức về cách sử dụng nguồn nớc phục vụ cho sản
xuất và đời sống. Chính vì vậy, ngời Thái là cộng đồng đạt trình độ cao về
công tác làm thuỷ lợi trên địa hình đa dạng của vùng núi Tây Bắc. Ngời
Thái luôn quan niệm nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của thành viên trong
cộng đồng là khai thác sử dụng nguồn nớc: có nớc mới nên ruộng, có
ruộng mới nên lúa (mí nặm chắng pên na, mi na chắng pên khẩu). Do đó,
trải qua hàng chục thế kỷ vừa lao động, vừa sáng tạọ, họ đã tích luỹ đợc
nhiều tri thức về việc làm thuỷ lợi, hoàn chỉnh hệ thống dẫn nớc tới ruộng
và đợc tóm tắt trong câu thành ngữ mơng, phai, lái, lín. Nguồn nớc
cũng là một yếu tố rất quan trọng trong đời sống của nhiều tộc ngời. Theo
quan niệm của ngời Thái ở bản Văn (huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình),
nớc là một yếu tố không thể thiếu đợc trong việc hình thành và tồn tại của
bản, lãnh địa của bản gồm: nà (ruộng), pá (rừng), nặm, huối (sông suối),
văng hẻm (vũng cấm), văn xên (nơi ở của thần nớc - tô luông). Ngời Thái
còn quan niệm rằng có nớc mới có ruộng, có ruộng mới có lúa gạo (mí nặm
chắng pên na, mí na chắng pên kháu). Trong việc phân loại ruộng, ngời
Thái ở bản Văn cũng lấy tiêu chí nớc làm cơ sở, nh ruộng nớc ma (na
nặm pha), ruộng nớc ngâm (na nặm che). Hàng năm ngời Thái tổ chức lễ
cúng và tu sửa nguồn nớc. Nếu ai làm bẩn nguồn nớc sẽ bị phạt(1). Do
rất coi trọng việc gìn giữ và khai thác nguồn nớc phục vụ sản xuất và đời
sống nên trải qua nhiều thế hệ, ngời Thái đã tích luỹ đợc một lợng lớn
91)
Trần Bình: Tập quán quản lý và sử dụng nguồn nớc của ngời Thái ở bản Văn (Báo cáo khoa học,

nớc lên. Cũng có thể nớc đợc đổ thẳng xuống ruộng, thửa ruộng nhận
nớc trực tiếp từ cọn nớc gọi là na lái, đây là loại ruộng quý vì luôn luôn
đợc cung cấp đủ nguồn nớc. Cọn nớc của ngời Thái là một công cụ
bằng tre, gỗ áp dụng nguyên tắc lợi dụng dòng nớc chảy xiết gây một lực
tác động cho guồng quay rồi đa nớc lên ruộng cao. Lái gồm những phai
của hệ thống con nớc và những phai phụ của phai chính dùng để ngă nớc
ở khúc mơng hay bị vỡ, tiếp tục dâng nớc cao cho chảy vào ruộng. Từ lái,
nớc đợc dẫn đến các thửa ruộng xa hơn, bằng các đờng dẫn cũng đợc
làm bằng cây luồng, nhng nhỏ hơn lái - gọi là lín. Cọn nớc của ngời Thái
24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status