TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI :
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
GVHD: Nguyễn Văn Chương
Sinh viên thực hiện :
1. Nguyễn Duy Khôi
2. Lê Huỳnh Khương
3. Lê Thanh Dũng
4. Nguyễn Huỳnh Trí
5. Nguyễn Hoàng Thịnh
6. Nguyễn Diệp Hoài Vũ
9.2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN VIỆC HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
9.2015
PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC ( NHÓM 9 ) :
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
2/34
NỘI DUNG
LÊ THANH DŨNG
33111025628
NGUYỄN HUỲNH TRÍ
33141025516
NGUYỄN HOÀNG
THỊNH
(Nhóm Trưởng)
NGUYỄN DIỆP HOÀI VŨ
33141025057
33141025209
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
3/34
LỜI MỞ ĐẦU
Trong một doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy mô lớn, là một tập hợp
những con người khác nhau về trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, mức độ nhận thức,
quan hệ xã hội, vùng miền địa lý, tư tưởng văn hóa… chính sự khác nhau này tạo ra một môi
trường làm việc đa dạng và phức tạp. Bên cạnh đó, với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế
thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên
tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với thực tế. Vậy làm thế nào để
doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, làm gia tăng nhiều lần
như: tranh Đông Hồ, gốm Bát Tràng, áo dài, áo tứ thân…đều thuộc loại hình văn hóa vật thể.
Các phong tục, tập quán, các làn điệu dân ca hay bảng giá trị, các chuẩn mực đạo đức của một
dân tộc…là thuộc loại hình văn hóa phi vật thể.
Tuy vậy, sự phân loại trên cũng chỉ có nghĩa tương đối bởi vì trong một sản phẩm văn
hóa th ướng có cả yếu tố “vật thể” và “phi vật thể” như cái hữu hình và cái vô hình gắn bó hữu
cơ với nhau, lồng vào nhau, như thân sát và tâm trí con người”.
Điển hình như trong không gian văn hóa cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên, ẩn
sau cái vật thể hữu hình của nó gồm những cồng, những chiêng, những con người của núi
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
6/34
rừng, những nhà sàn, nhà rông mang đậm bản sắc…là cái vô hình của âm hưởng, phong cách
và qui tắc chơi nhạc đặc thù, là cái hồn của thời gian, không gian và giá trị lịch sử.
Như vậy, khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó những giá trị vật chất và tinh thần được sử
dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và
các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, trong mối quan hệ giữa người và người,
giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội.
2.
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP :
Bất kỳ một do anh ngh iệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hóa, tri thức th ì khó đứng vững
được. Văn hó a doanh ng hiệp là văn hoá của một tổ chức vì vậy nó khôn g đơn th uần là
văn hoá giao tiếp hay văn hoá kinh doanh như ta thường nghĩ. Văn hóa doanh nghiệp khôn
g phải là nh ững khẩu hiệu của ban lãnh đạo được treo trước cổng, trên hàn h lang hay trong
phò ng họp. Đó chỉ là ý muốn, ý tưởng. Những gì chú ng ta mong muốn có thể rất khác với
những giá trị, n iềm tin, chuẩn mực được th ể hiện trong th ực tế và trong các hành vi mỗi
doanh nghiệp. Giải thích một cách đơn giản, giá trị là một cái gì đó mà người ta cảm thấy quan
trọng, có ích. Cụm từ “Quan trọng” và “Có ích lợi” là rất đáng lưu tâm trong xây dựng văn hóa
doanh nghiệp. Bởi lẽ lãnh đạo công ty sẽ rất khó xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nếu không
truyền đạt được những ích lợi mà văn hóa doanh nghiệp đem lại. Nhân viên cần được giáo dục
nhận thức rằng việc đeo thẻ nhân viên, mặc đồng phục là thể hiện sự tự hào là thành viên của
công ty, và có ích cho công việc của họ chứ không phải họ mang những thứ đó để làm quảng
cáo.
Rất nhiều lãnh đạo đã mắc lỗi khi áp đặt văn hóa mà không khơi gợi nhận thức của nhân
viên mình với các giá trị văn hóa. Nếu không giảng giải được cặn kẽ hệ thống các giá trị văn
hóa của doanh nghiệp có ích lợi gì với nội bộ tổ chức, tất yếu moi hình thức triển khai chỉ là
phong trào. Một câu hỏi được đặt ra rằng, vậy những giá trị nào là hợp lý và giá trị nào là
không hợp lý. Điều này tùy thuộc rất nhiều vào từng tổ chức riêng biệt, nhưng tựu chung lại,
có một số giá trị được đề cao trong nội bộ tổ chức ở Việt Nam đó là:
• Sự thành thực (thể hiện là nói thật, không gian dối, cam kết thực hiện những gì mình
hứa hẹn và đảm bảo đúng những gì mình sẽ thực hiện).
• Sự tự giác (thể hiện ở mức độ sẵn sang với công việc, không ngại khó khăn, làm việc
hết mình vì lợi ích của tổ chức).
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
8/34
• Sự khôn khéo (biết nói những gì cần nói, hỏi những điều cần hỏi, tranh luận những
điều đáng tranh luận và sắp xếp những gì hợp lý nhất).
Ngoài ra còn một số giá trị khác được đề cập tới như sự tự tin, sáng tạo … Những giá trị
này sẽ là nền tảng định hướng cho văn hóa của doanh nghiệp.
2.3 Các cấp độ của Văn Hóa Doanh Nghiệp:
2.3.1 Cấp độ 1: biểu hiện thông qua cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp
Bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một người có thể nhìn, nghe và cảm nhận
thực hiện chức năng định hướng hành vi cho các thành viên trong doanh nghiệp theo một mục
tiêu chung.
2.3.3 Cấp độ 3: Những quan niệm chung (những ý nghĩa niềm tin, nhận thức, suy
nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp)
Trong bất cứ phạm vi văn hóa nào (văn hóa dân tộc, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh
nghiệp …) cũng đều có các quan niệm chung, được hình thành và tồn tại trong một thời gian
dài, chúng ăn sâu vào tâm lý của hầu hết các thành viên trong nền văn hóa đó và trở thành điều
mặc nhiên được công nhận.
Để hình thành được các quan niệm chung, phải trải qua quá trình hoạt động lâu dài, va
chạm và xử lý nhiều tình huống thực tiễn. Chính vì vậy, một khi đã hình thành, các quan niệm
chung sẽ rất khó bị thay đổi. Khi đã hình thành được qu an niệm chung, tức là các thành viên
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
10/34
cùng nhau chia sẻ và hoạt động theo đúng quan niệm chung đó, họ sẽ rất khó chấp nhận những
hành vi đi ngược lại. Ví dụ, cùng một vấn đề trả lương cho người lao động, các công ty Mỹ và
nhiều nước Châu Âu thường có chung quan niệm trả theo năng lực. Một người lao động trẻ
mới vào nghề có thể nhận được mức lương rất cao, nếu họ thực sự có tài. Trong khi đó, nhiều
doanh ngh iệp Châu Á lại chia sẻ quan niệm trả lương tăng dần theo thâm niên cống hiến ch o
doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp ở cấp độ 3 thường là những giá trị bất thành văn và đương nhiên
được công nhận. Có những giá trị mà người ngoài tổ chức rất khó thấy, khó cảm nhận. Người
trong tổ chức biết rất rõ nhưng khó lý giải và khó diễn đạt thành lời. Mọi suy nghĩ, hành động
của người trong tổ chức đều hướng theo những giá trị chung được công nhận đó đôi khi là vô
thức, mặc nhiên và không cần lý giải. Đây chính là giá trị đỉnh cao của văn hóa doanh nghiệp
khi mọi chuẩn mực, quy tắc của tổ chức đã đi vào tiềm thức và trở thành ý thức tự giác của
mọi thành viên trong tổ chức đó.
Như vậy, có thể nó i văn hóa doanh nghiệp là những giá trị được chiết xuất từ mọi hành
vi của con người trên tất cả các mặt hoạt động diễn ra trong quá trình hoạt động kinh doanh,
2.4.3 Giảm xung đột :
Văn Hóa Doanh Nghiệp là keo gắn kết các thành viên của doanh nghiệp. Nó giúp các
thành viên thống nhất về cách hiểu vấn đề, đánh giá, lựa chọn và định hướng hành động. Khi
ta phải đối mặt với xu hướng xung đột lẫn nhau thì văn hoá chính là yếu tố giúp mọi người hoà
nhập và thống nhất.
2.4.4 Lợi thế cạnh tranh :
Tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát, tạo động lực... làm tăng hiệu quả hoạt
động và tạo sự khác biệt trên thị trường. Hiệu quả và sự khác biệt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh
tranh tốt trên thị trường.
2.5 Đặc trưng:
Để dễ hình dung, chúng ta có thể hiểu văn hóa của doanh nghiệp giống như “cá tính” của
doanh nghiệp đó. Ở mỗi cá nhân, cá tính giúp phân biệt người này với người khác, “văn hóa”
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
12/34
cũng chính là bản sắc riêng giúp một doanh nghiệp không thể lẫn với doanh nghiệp khác dù có
cùng hoạt động trong một lĩnh vực và cung cấp những sản phẩm tương tự ra thị trường.Văn
Hóa Doanh Nghiệp có ba nét đặc trưng, đó là:
2.5.1 Văn Hóa Doanh Nghiệp mang “tính nhân sinh” :
Tức là gắn với con người. Tập hợp một nhóm người cùng làm việc với nhau trong tổ
chức sẽ hình thành nên những thói quen, đặc trưng của đơn vị đó. Do đó, Văn Hóa Doanh
Nghiệp có thể hình thành một cách “tự phát” hay “tự giác”. Theo thời gian, những thói quen
này sẽ dần càng rõ ràng hơn và hình thành ra “cá tính” của đơn vị. Nên, một doanh nghiệp, dù
muốn hay không, đều sẽ dần hình thành văn hoá của tổ chức mình. Văn Hóa Doanh Nghiệp
khi hình thành một cách tự phát có thể phù hợp với mong muốn và mục tiêu phát triển của tổ
chức hoặc không. Chủ động tạo ra những giá trị văn hoá mong muốn là điều cần thiết nếu
doanh nghiệp muốn văn hóa thực sự phục vụ cho định hướng phát triển chung, góp phần tạo
nên sức mạnh cạnh tranh của mình.
chấp thời gian và ngoại cảnh. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để quá trình xây dựng Văn Hóa
Doanh Nghiệp thành công là sự cam kết của những người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp.
Bởi, phần quan trọng nhất, trái tim và khối óc của doanh nghiệp nằm ở lớp trong cùng của văn
hóa, xin nhắc lại, đó là triết lý kinh doanh, phương châm quản lý của doanh nghiệp và chỉ có
những nhà quản lý cao nhất của doanh nghiệp mới đủ khả năng tác động đến lớp văn hóa cốt
lõi này.
3.1.2 Động lực của cá nhân và tổ chức:
Lớp yếu tố quan trọng thứ hai của Văn Hóa Doanh Nghiệp chính là các động lực thúc
đẩy hành động của các cá nhân, và môi trường “động lực chung” của tổ chức. Các yếu tố động
lực này sẽ biểu hiện ra ngoài bằng những hành vi hàng ngày của các cá nhân trong doanh
nghiệp.
3.1.3 Qui trình qui định:
Qui trình, qui định, chính sách giúp doanh nghiệp hoạt động ổn định, theo chuẩn. Đây
cũng là cấu thành giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
14/34
phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, góp phần tạo tính ổn định và nâng cao hiệu quả của doanh
nghiệp với nỗ lực làm hài lòng khách hàng và xã hội.
3.1.4 Hệ thống trao đổi thông tin:
Đây là lớp cấu thành thứ tư trong văn hoá doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thông tin quản
lý đa dạng, đa chiều, chính xác và kịp thời. Hệ thống này cần đảm bảo mọi thông tin cần thiết
cho doanh nghiệp đều được thu thập, truyền đạt, lưu trữ và xử lý; đồng thời đảm bảo cho mọi
thành viên doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và sử dụng các thông tin cần thiết cho các hoạt động
thường nhật cũng như công tác lập kế hoạch, xây dựng định hướng chiến lược.
3.1.5 Phong trào, nghi lễ, nghi thức:
Đây là cấu thành văn hoá bề nổi, phản ánh đời sống, sinh hoạt của công ty. Tuy không
trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, nhưng ảnh hưởng của nó đối với mọi hoạt động
nghiệp, song được biết đến nhiều nhất là công trình của Geert Hofttede, chuyên gia tâm lý học
người Hà Lan.
Trong vòng 6 năm tiến hành thu thập số liệu về thái độ và các giá trị của hơn 10.000
nhân viên từ 53 nước và khu vực trên thế giới làm việc cho tập đoàn IBM. Năm 1978 ông đã
xuất bản cuốn sách “ Những ảnh hưởng của văn hóa” ( Culture’s consequences ), cuốn sách
này liên tục được tái bản trong nhiều năm sau.
Cuốn sách đề cập đến những tác đông của văn hóa đến tổ chức thông qua một mô hình
gọi là “ Mô hình Hofstede” trong đó tác giả đưa ra bốn “ biến số” chính tồn tại trong tất cả các
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
16/34
nền văn hóa dân tộc cũng như các nền văn hóa doanh nghiệp khác nhau (thuật ngữ “ biến số”
được dùng để chỉ giá trị của các yếu tố này thay đổi ở mỗi nền văn hóa khác nhau) đó là:
•
•
•
•
Tính đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể
Sự phân cấp quyền lực
Tính cẩn trọng
Chiều hướng nam quyền đối lập với nữ quyền.
3.3.1.1 Sự đối lập giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể :
Mức độ thấp
- Doanh nghiệp giống như gia đình
Mức độ cao
- Sự phân biệt giới tính rõ nét
- Doanh nghiệp không can thiệp vào cuộc sống - Vì lợi ích doanh nghiệp can thiệp vào cuộc sống
- Sự phân biệt giới tính không đáng kể
riêng
- Phụ nữ tham gia nhiều vào chuyên môn.
- Kỹ năng giao tiếp được chú ý
- Phần thưởng vật chất và tinh thần được chú ý
riêng
- Phụ nữ chuyên môn ích
- Quyết thắng, cạnh tranh công bằng được
chú ý
- Công việc là mối quan tâm chính
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
17/34
3.3.1.4 Tính cẩn trọng:
Mức độ thấp
- Ít nguyên tắc
- Ít chú trọng xây dựng cơ cấu hoạt động
- Chú trọng tổng thể, ít quan liêu.
- Tính biến đổi cao
- Mức độ chấp nhận rủi ro cao
Mức độ cao
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
19/34
nguyên tắc, quan điểm, chuẩn mực của các tập thể đó có những nét mà các thành viên trong
doanh nghiệp có thể đồng thuận và cùng chia sẽ thì nó sẽ trở thành văn hóa của doanh nghiệp.
3.3.3.2 Những giá trị học hỏi được từ những doanh nghiệp khác:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp luôn có
những mối quan hệ với các tổ chức, doanh nghiệp khác như: quan hệ giữa một bên là nhà cung
ứng với một bên là người sản xuất, giữa người bán hàng và người mua hàng, giữa người cung
ứng vốn và người đi vay,... Song song với các quan hệ đó thì những nét văn hóa của các bên
cũng được thể hiện và giao lưu với nhau. Và cũng chính vì vậy mà có những giá trị, những
chuẩn mực, những nguyên tắc mà người lãnh đạo doanh nghiệp và các thành viên trong doanh
nghiệp bị ảnh hưởng và cảm thấy phù hợp với doanh nghiệp mình và có thể chia sẽ cùng nhau
thì họ có thể sẽ tiếp thu và vận dụng vào doanh nghiệp mình, từ đó tạo nên những nét văn hóa
cho doanh nghiệp.
3.3.3.3 Những giá trị văn hóa được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với
nền văn hóa khác:
Ngày nay ngoài sự giao lưu, quan hệ hợp tác giữa các vùng miền thì xu thế hội nhập và
toàn cầu hóa diễn ra trên khắp hành tinh. Các quốc gia trên thế giới đã và đang thiết lập các
mối quan hệ song phương, đa phương rất mạnh mẽ. Song song với hội nhập, hợp tác về kinh
tế, về khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo... các nền văn hóa giữa các quốc gia cũng được
giao lưu, hội nhập, giao thoa với nhau. Quá trình giao thoa văn hóa giữa các nền văn hóa đã
tác động mạnh mẽ đến nền văn hó a của các quốc gia. Để có thể hợp tác thì các bên đều tìm
hiểu và nghiên cứu rất kỹ lưỡng những nét văn hóa của đối tác và dần dần thì những giá trị,
chuẩn mực, nguyên tắc của các nền văn hóa khác cũng tác động, ảnh hưởng đến nền văn hóa
trong nước. Văn hóa doanh nghiệp là một bộ phận của nền văn hóa dân tộc nên khi có sự giao
lưu, giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, quốc gia thì văn hóa doanh ng hiệp cũng s ẽ chịu tác
đó mà ảnh hưởng tới văn hóa của doanh nghiệp, của tổ chức.
3.4 Các giai đoạn hình thành và cơ cấu thay đổi Văn Hóa Doanh Nghiệp :
3.4.1 Các giai đoạn hình thành Văn Hóa Doanh Nghiệp :
Giai đoạn non trẻ :
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
21/34
• Giai đoạn mới thành lập
• Được tao ra do người sáng lập
• Rất ít có sự thay đổi
Giai đoạn giữa :
• Người sáng lập không giữ vai trò thống trị
• Đã có sự chuyển giao cho thế hệ sau
• Bắt đầu xuất hiện mâu thuẫn
Giai đoạn chín mùi :
• DN có dấu hiệu chững lại
• Có những xáo trộn lớn trong DN
• Phải thay đổi văn hoá
3.4.2 Cơ cấu thay đổi Văn Hóa Doanh Nghiệp :
• Xuất hiện động lực thay đổi
• Tái cơ cấu một cách thận trọng
• Củng cố những thay đổi
3.5 Một số cách thức thay đổi Văn Hóa Doanh Nghiệp :
•
•
•
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
23/34
này còn được gọi là “văn hoá câu lạc bộ”. Cấu trúc văn hoá quyền lực có thể biến thành cấu
trúc mạng nhện (web).Trong văn hoá quyền lực, mối quan hệ được xây dựng và phát triển chủ
yếu dựa vào sự tin cậy, sự đồng cảm và mối quan hệ cá nhân. Rất ít quy tắc, hầu như không
cần các thủ tục hành chính; việc kiểm soát được tiến hành trực tiếp từ vị trí quyền lực và thông
qua những đại diện được uỷ quyền tối cao. Văn hoá quyền lực thường thô ráp, trực diện và
thường coi trọng kết quả hơn hình thức. Điểm mạnh của văn hoá quyền lực là khả năng phản
ứng nhanh và linh hoạt. Điểm hạn chế chủ yếu là chất lượng phụ thuộc rất nhiều vào năng lực
của người ở vị trí quyền lực và khó phát triển ở quy mô lớn. Để điều hành một tổ chức với văn
hoá quyền lực, người lãnh đạo cao nhất phải thực sự tin tưởng tuyệt đối vào con người, vào
năng lực hành động mới trao toàn quyền cho những người thay mặt mình. Để đáp lại, những
người được uỷ thác cũng phải cố gắng để tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy và thể hiện chúng
bằng kết quả hoàn thành trọng trách được giao phó. Không khó khăn gì cũng có thể nhận ra
rằng, triết lý được đề cao là tôn trọng và uỷ thác, nỗ lực hết mình (triết lý đạo đức nhân cách)
và hành động một cách hiệu quả để hoàn thành trách nhiệm của mình (triết lý vị kỷ). “Nốt
nhạc chính” là đạo đức nhân cách.
3.6.2 Phân theo cơ cấu và định hướng về con người và nhiệm vụ :
3.6.2.1 Văn hóa gia đình :
-
Nhấn mạnh đến thứ bậc và có định hướng về cá nhân.
Vai trò lãnh đạo giống như một bậc phụ huynh chăm sóc con cái.
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
24/34
Thay đổi nhanh chóng và tự phát. Đề cao sự thành công chứ không phải lợi ích cá
nhân.
3.6.3 Phân theo mối quan tâm đến nhân tố con người và đến thành tích :
Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của văn hóa doanh nghiệp
25/34