BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
KIỂM TỐN HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC
CƠNG Ở VIỆT NAM
Ngành: Kế tốn
Mã số : 62.34.03.01
TĨM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động và cho đến nay, vẫn
chưa có nghiên cứu nào đưa ra mô hình các nhân tố tác động tới
việc phát triển kiểm toán hoạt động.
Tại Việt Nam, về mặt pháp lý, kiểm toán hoạt động đã
thừa nhận chính thức trong Luật KTNN năm 2005. Năm 2007,
SAV đã tổ chức triển khai độc lập một cuộc kiểm toán hoạt động.
Sau đó, nội dung kiểm toán hoạt động thuộc dự án này đã phải
tạm dừng. Về mặt lý luận, chưa có nghiên cứu nào liên quan đến
chủ đề này được công bố, trong khi đó, SAV đang triển khai thực
hiện loại hình kiểm toán này trên thực tế.
Xuất phát từ khoảng trống trong lý thuyết và nhu cầu
thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài “các nhân tố ảnh hưởng đến sự
hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công
ở Việt Nam”. Các kết quả nghiên cứu được mong đợi sẽ đóng
góp thêm vào lý luận và thực tiễn phát triển kiểm toán hoạt động
ở Việt Nam.
2
Mục tiêu nghiên cứu.
- Tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển kiểm toán hoạt
động của một số quốc gia trên thế giới và các nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình này;
- Xác định trình độ phát triển kiểm toán hoạt động trong
lĩnh vực công ở Việt Nam;
- Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân
tố chính đến việc hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động
trong SAV.
Câu hỏi nghiên cứu
Q1: Tại sao một số SAI trên thế giới chuyển đổi chức
năng từ kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính (kiểm
+ Nghiên cứu định lượng cho thấy, 4 nhóm nhân tố
chính ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của kiểm toán
hoạt động, bao gồm (i) nhân tố chính trị; (ii) nhân tố khả năng
của SAV; (iii) nhân tố kỹ năng KTV và (iv) nhân tố kinh tế
(trong đó, có 3 nhóm nhân tố thúc đẩy và nhân tố kinh tế là lực
cản);
+ Phát hiện quan trọng nhất trong nghiên cứu này là khả
năng và tốc độ phát triển kiểm toán hoạt động trong giai đoạn
hiện nay ở Việt Nam phụ thuộc vào các nhân tố nội tại (khả năng
của SAV, kỹ năng KTV) nhiều hơn các nhân tố bên ngoài (nhân
tố chính trị, kinh tế);
+ Ngoài ra, nghiên cứu cung cấp bổ sung bằng chứng
thực nghiệm chứng minh rằng tại các quốc gia đang phát triển,
mức độ minh bạch và giải trình trách nhiệm thấp, hệ thống luật
pháp chưa đồng bộ, “cầu” kiểm toán hoạt động cao hơn nhưng
4
kiểm toán hoạt động chậm phát triển, do khả năng “cung” về
kiểm toán hoạt động thấp.
- Về phương diện ứng dụng: Kết quả nghiên cứu này sẽ
gợi ý cho lãnh đạo trong SAI lựa chọn xây dựng chiến lược phát
triển loại hình kiểm toán này một cách phù hợp với khả năng
hiện có của mình.
Cấu trúc luận án
Ngoài phần giới thiệu, Luận án gồm năm chương, trình
bày theo thứ tự và nội dung chính sau đây:
Chương 1- Tổng quan các nghiên cứu trước liên quan
đến sự hình thành và phát triển kiểm toán hoạt động và những
nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này
Chương 2 - Lý thuyết kiểm toán hoạt động trong lĩnh
giới, từ đó xác định quốc gia nào có loại hình kiểm toán hoạt
động hình thành sớm nhất, phát triển nhanh và thành công nhất.
Các nghiên cứu tiêu biểu cho lĩnh vực này Guthrie & Parker
1999; Leeuw 1996; Barzelay & cộng sự 1996; Roth. D 1996;
Shand & Anand 1996; Trodden 1996; Pollitt & cộng sự 1997,
1999; Suzuky 2004; Lonsdale & cộng sự 2011…. Kết quả các
nghiên cứu trên cho thấy lịch sử ra đời và phát triển của loại hình
này có thể tóm tắt qua các giai đoạn sau:
- Giai đoạn sơ khai (trước những năm 1970);
- Giai đoạn hình thành (từ 1970-1995);
- Giai đoạn phát triển (1996-2007);
- Giai đoạn hiện đại (từ 2007 đến nay).
6
1.1.1.2. Nghiên cứu về các nhân tố thúc đẩy việc hình
thành và phát triển kiểm toán hoạt động
Các nghiên cứu học thuật về kiểm toán hoạt động chỉ
được tiến hành sau khi loại hình kiểm toán này đã được triển khai
trong các SAI ở một số quốc gia phát triển nhằm mục đích hoàn
thiện lý thuyết về kiểm toán hoạt động, chẳng hạn như ở Anh
(McCrae & Vada 1997; Flesher & Zarzeski 2002); ở Hoa Kỳ
(Yamamoto & Watanabe 1989; Yamamoto & Watanabe 1989;
McCrae & Vada 1997; Gendron & cộng sự 2000; Flesher &
Zarzeski 2002, theo Nath 2005); ở Úc (Funnel 1994; Guthrie &
Parker 1999; Flesher & Zarzeski 2002); ở Canada (Yamamoto &
Watanabe 1989; Radcliffe 1998). Chỉ có một số ít nghiên cứu tại
các quốc gia đang phát triển chẳng hạn như Trung Quốc (Hui
Fan 2012); Bangladesh (Ferdousi 2012), ở Malaysia (Daud
2007), tại Iran (Alireza Khalili & cộng sự 2012) hoặc nghiên cứu
của Albert & cộng sự (2009). Các nghiên cứu này cũng đã khảo
kiểm toán hoạt động; (iii) lựa chọn phương pháp tiếp cận trong
kiểm toán hoạt động (iv) lựa chọn phương pháp luận sử dụng
trong kiểm toán hoạt động.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Kiểm toán hoạt động ở Việt Nam đang trong giai đoạn
đầu của quá trình phát triển. Chưa có nghiên cứu học thuật nào
được công bố liên quan đến chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến sự
phát triển của kiểm toán hoạt động tại Việt Nam.
1.2. Kết quả đạt được và những vấn đề tiếp tục
nghiên cứu
1.2.1. Kết quả đạt được
(1) Về các nhân tố ảnh hưởng:
Tổng hợp có 28 nhân tố được phát hiện từ phần tổng
quan kết quả nghiên cứu các nhân tố thúc đẩy, các nhân tố gây
8
trở ngại, nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược phát
triển kiểm toán hoạt động, có thể phân loại thành 4 nhóm nhân tố
chính:
(i) Cải cách quản trị công, hạn chế trong việc thực hiện
chức năng kiểm toán truyền thống (2 nhân tố);
(ii) Kinh tế, chính trị và xã hội, trong đó gồm có 8 nhân
tố:
(iii) Khả năng của SAI gồm hai nhóm nhân tố chính là (i)
năng lực KTV, (ii) khả năng triển khai kiểm toán hoạt động của
SAI bao gồm 12 nhân tố;
(iv) Đặc điểm hoạt động của đối tượng được kiểm toán
bao gồm 6 nhân tố
(2) Về mục đích và ý nghĩa phát triển kiểm toán hoạt
động: Giúp đơn vị được kiểm toán tăng cường trách nhiệm giải
về mặt học thuật liên quan đến chủ đề này
Thứ ba, phần lớn các nghiên cứu này được tiến hành tại
các quốc gia phát triển, có nhiều đặc điểm khác biệt về kinh tế,
chính trị với Việt Nam.
1.3. Kết luận
Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng tới việc hình thành và
phát triển kiểm toán hoạt động qua việc tổng kết nghiên cứu
trước liên quan cũng như trong thực tiễn hoạt động kiểm toán của
một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam giúp hiểu rõ hơn cách
thức xây dựng và phát triển loại hình kiểm toán hoạt động và các
nhân tố ảnh hưởng.
10
CHƯƠNG 2
LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG
TRONG LĨNH VỰC CÔNG
2.1. Lịch sử ra đời kiểm toán hoạt động trong lĩnh
vực công
Kiểm toán hoạt động được cho là xuất hiện sớm nhất từ
đầu từ những năm 1940 ở Hoa Kỳ nhưng giai đoạn đầu, có các
tên gọi khác nhau. Năm 1986 trong Hội nghị giữa các SAIs thuộc
Tổ chức các cơ quan Kiểm toán tối cao Nam Phi năm 1986
(INCOSAI 1986), loại hình kiểm toán mới này mới được thống
nhất gọi chung là kiểm toán hoạt động.
2.2. Định nghĩa và các khái niệm căn bản liên quan
đến kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công
2.2.1. Định nghĩa về kiểm toán hoạt động
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm toán hoạt
động nhưng định nghĩa được sử dụng nhiều trong nghiên cứu là
“Kiểm toán hoạt động là những đánh giá độc lập về tính kinh tế,
chuyển nhiệm vụ kiểm toán từ việc xác nhận số liệu, thông tin tài
chính, tuân thủ luật lệ và quy định sang kết hợp với đánh giá tính
kinh tế, hiệu quả và hữu hiệu đối với các hoạt động trên nhằm
giúp cơ quan nhà nước, đơn vị công cải tiến hiệu quả hoạt động
và thực hiện trách nhiệm giải trình.
2.3.2. Lý thuyết ủy nhiệm và khái niệm trách nhiệm
giải trình trong lĩnh vực công
Lý thuyết ủy nhiệm có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế,
được phát triển bởi Alchial và Demsetz năm 1972 và được
Jensen và Meckling phát triển thêm vào năm 1976. Lý thuyết này
nhấn mạnh rằng, người ủy nhiệm quyết định lựa chọn người thừa
hành thay mặt họ thực hiện một số nhiệm vụ và người thừa hành
12
phải cung cấp lựa chọn tốt hơn cho người ủy nhiệm. Thuyết ủy
nhiệm chính là tiền đề giải thích cho sự tồn tại hợp pháp của
kiểm toán nói chung và kiểm toán hoạt động nói riêng nhằm đảm
bảo trách nhiệm giải trình giữa các bên.
Cùng với cải cách quản trị công, trách nhiệm giải trình
cũng thay đổi chuyển hướng sang giải trình kết quả đạt được. Vì
vậy, kiểm toán hoạt động cũng thay đổi để thích ứng và được
xem như một phương tiện hữu hiệu nhất có thể hiện thực hóa
được mục tiêu này.
2.3.3. Lý thuyết lựa chọn hợp lý áp dụng trong lĩnh
vực công
Thuyết lựa chọn hợp lý xuất phát từ Anh, bắt nguồn từ
thuyết vị lợi (utilitarinism), truyền qua kinh tế học tân cổ điển
(neo-classical). Người khởi xướng việc áp dụng lý thuyết này
vào trong định chế hay tổ chức là Max Webber trong cuốn sách
“chủ nghĩa tư bản tư sản hợp lý” (rational bourgeois capitalism).
niệm của Pollitt & cộng sự (1999) và các nghiên cứu trước về các
nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển. Các nhân tố
này có thể được phân loại thành 4 nhóm chính: (i) nhóm nhân tố
kinh tế, chính trị và xã hội; (ii) nhóm nhân tố thuộc yếu tố “đầu
vào” (nguồn lực); (ii) nhóm nhân tố thuộc yếu tố “hoạt động” là
quy trình kiểm toán hoạt động được tổ chức thực hiện trong mỗi
SAI; (iv) nhóm thuộc về yếu tố “đầu ra” và “kết quả đạt được” là
báo cáo kiểm toán và tác động từ báo cáo kiểm toán.
2.5. Kết luận
Kiểm toán hoạt động là một loại hình kiểm toán xuất
hiện trong lĩnh vực công khi các SAI mở rộng vai trò, chức năng
của mình nhằm đáp ứng yêu cầu của công chúng.
14
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này mô tả phương pháp nghiên cứu lựa chọn
nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đề xuất trong phần giới
thiệu.
3.1. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Có ba phương pháp nghiên cứu thường được sử dụng là
định tính, định lượng và kết hợp (Creswell & cộng sự 2003). Với
mục tiêu là xác định các nhân tố ảnh hưởng tới việc hình thành
và phát triển kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực công ở Việt
Nam. Vì vậy, quy trình nghiên cứu của Luận án xác định là quy
trình hỗn hợp, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng. Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ
năm 2010 đến năm 2014 bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
3.2. Quy trình phân tích dữ liệu
3.2.1. Quy trình phân tích dữ liệu định tính
Nghiên cứu định tính sử dụng kết hợp (i) phân tích tài
+ Giai đoạn thứ hai, từ đầu năm 2006 tới nay (giai đoạn
hình thành kiểm toán hoạt động.
- Kết quả phân tích 41 báo cáo kiểm toán, kế hoạch kiểm
toán và các tài liệu liên quan giai đoạn từ năm 2005-2013 cung
cấp bằng chứng chỉ xu hướng và trình độ phát triển kiểm toán
hoạt động;
- Khảo sát hai tình huống kiểm toán thuộc hai lĩnh vực
khác nhau chứa đựng nội dung liên quan đến kiểm toán hoạt
động cung cấp bằng chứng nhằm xác định kết quả kiểm toán hoạt
động, những hạn chế, thách thức và nguyên nhân ảnh hưởng.
- Phỏng phấn sâu chuyên gia qua 5 câu hỏi chính liên
quan đến việc lựa chọn và sự cần thiết triển khai kiểm toán hoạt
động, lý do ảnh hưởng, nguyên nhân và thách thức và những giải
pháp khắc phục trong quá trình thực hiện loại hình kiểm toán
này.
16
4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu định tính
4.2.1. Nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành kiểm
toán hoạt động giai đoạn 2006-2013
Tác giả đã tiến hành kết hợp ba phương pháp thu thập dữ
liệu chính đã trình bày ở phần trên để phân tích. Theo đó, có 6
nhân tố ảnh hưởng đến sự ra đời kiểm toán hoạt động.
- Vai trò của nhà tài trợ;
- Vai trò của Tổng kiểm toán;
- Thay đổi Luật và các quy định;
- Vai trò của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp;
- Thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô;
- Yếu kém trong quản lý và áp lực từ công chúng.
4.2.2. Trình độ phát triển kiểm toán hoạt động trong
nhân tố có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kiểm toán
hoạt động.
- Có 02 nhân tố bổ sung thêm từ nghiên cứu trước chưa
được chỉ ra từ kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia;
- Có 04 nhân tố chỉ khả năng phát triển kiểm toán hoạt
động được khám phá qua khảo sát tình huống kiểm toán.
Tổng cộng sẽ có 33 nhân tố sẽ được định danh phù hợp
với lý thuyết kiểm toán hoạt động làm cơ sở xây dựng các câu
hỏi khảo sát (thang đo) trong bước nghiên cứu định lượng.
4.4. Kết quả khảo sát và thảo luận các phát hiện
trong nghiên cứu định lượng
Có 185 trong 220 phiếu khảo sát hợp lệ được sử dụng
cho bước nghiên cứu định lượng. Kết quả đánh giá độ tin cậy của
thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha theo từng nhóm nhân tố,
có 1 trong số 33 thang đo (biến quan sát) có hệ số tương quan
biến tổng nhỏ hơn 0,3 nên bị loại. Còn lại 32 nhân tố tương ứng
18
với 32 biến quan sát được sử dụng trong phân tích nhân tố khám
phá (EFA).
Kết quả phân tích nhân tố khám phá nhóm lại được thành
8 nhóm nhân tố đại diện cho 25 biến quan sát (7 biến quan sát bị
loại do không thỏa mãn điều kiện). Trong đó, có 7 nhóm nhân tố
được phân loại là các biến độc lập và 1 nhóm nhân tố là biến phụ
thuộc được sử dụng để phân tích hồi quy bội bước tiếp theo.
Phương pháp phân tích từng bước STEPWISE trong
SPSS 16 được sử dụng. Kết quả kiểm định giả thiết sự phù hợp
của mô hình, giả thiết về ý nghĩa các hệ số hồi quy, giả thiết
phương sai của sai số không đổi, giả thiết không có mối tương
quan giữa các biến độc lập đều thỏa mãn. Kết quả phân tích hồi 19
CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ ĐỊNH HƯỚNG THÚC ĐẨY SỰ
PHÁT TRIỂN KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH
VỰC CÔNG Ở VIỆT NAM
5.1. Kết luận
5.1.1. Nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành (xuất
hiện) kiểm toán hoạt động
Kết quả trong bước nghiên cứu định tính đã chỉ ra có 33
nhân tố được phân loại thành 4 nhóm có ảnh hưởng tới việc hình
thành và phát triển kiểm toán hoạt động, cụ thể:
(1) Nhóm nhân tố môi trường kinh tế, chính trị và xã hội
(11 nhân tố);
(2) Nhóm khả năng của SAV gồm (i) năng lực KTV và
(ii) khả năng triển khai kiểm toán hoạt động của SAV (12 nhân
tố);
(3) Nhóm nhân tố đặc điểm của đơn vị được kiểm toán
(6 nhân tố);
(4) Nhóm nhân tố quan điểm phát triển kiểm toán hoạt
động (4 nhân tố).
5.1.2. Trình độ phát triển kiểm toán hoạt động của
SAV.
Kiểm toán hoạt động đã hình thành trong lĩnh vực công ở
Việt Nam, đang trong giai đoạn phát triển mở rộng thông qua
việc chuyển đổi dần chức năng kiểm toán từ loại hình kiểm toán
động mạnh nhất đến việc phát triển kiểm toán hoạt động, nhưng
nhân tố kinh tế có tác động ngược chiều cản trở sự phát triển
kiểm toán hoạt động.
21
5.2. Đề xuất quan điểm và định hướng phát triển
kiểm toán hoạt động
5.2.1. Quan điểm phát triển kiểm toán hoạt động
Việt Nam là quốc gia đang phát triển, quản trị công đang
trong quá trình cải cách nhưng vẫn còn yếu kém, tham nhũng,
lãng phí trong quản lý và sử dụng nguồn lực công diễn ra phổ
biến. Vì vậy, theo tác giả trước hết cần xác định quan điểm phát
triển phù hợp với đặc điểm Việt Nam sau:
- Cần chủ động trong việc phát triển kiểm toán hoạt
động;
- Cần có quan điểm linh hoạt trong phát triển;
- Cần cân đối chi phí - lợi ích.
- Cần xác lập vai trò và vị trí của loại hình kiểm toán
hoạt động tương đương với loại hình kiểm toán truyền thống;
5.2.2. Định hướng phát triển kiểm toán hoạt động
5.2.2.1. Tăng cường hỗ trợ từ môi trường bên ngoài
đối với kiểm toán hoạt động (nhân tố chính trị)
Nhiều nghiên cứu tổng kết trong Chương 1 đã cho thấy,
rào cản chính trị là thách thức lớn nhất đối các SAI trong việc
phát triển kiểm toán hoạt động nhưng khi nhận được sự ủng hộ,
quan tâm và hỗ trợ từ cả quốc hội và chính phủ thì SAI có thể
hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Từ quan điểm đó, kết hợp với
những hạn chế được phát hiện trong bước nghiên cứu định tính
thuộc nhân tố chính trị, SAV cần phải xây dựng lộ trình, bước đi
phù hợp nhằm vượt qua những thách thức này dựa trên một số
phận (đơn vị) riêng về kiểm toán hoạt động trong đó ưu tiên
những người vừa có kinh nghiệm thực tiễn vừa được đào tạo về
kiểm toán hoạt động.