Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường THPT huyện kiến xương tỉnh thái bình theo hướng chuẩn hoá - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––

TRẦN ÁNH NGUYỆT

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH
THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2013


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––

TRẦN ÁNH NGUYỆT

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH
THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


Chữ viết tắt
BCH
CBQL
CNH
CSGD
GD & ĐT
GDTX
HĐH
TC
TCCN
THCS
THPT
TTGDTX
TW
UBND

Chữ đầy đủ
Ban Chấp hành
Cán bộ quản lý
Công nghiệp hoá
Cơ sở giáo dục
Giáo dục và đào tạo
Giáo dục thường xuyên
Hiện đại hoá
Tiêu chí
Trung cấp chuyên nghiệp
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung tâm Giáo dục thường xuyên
Trung ương



MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục là phương tiện chủ
yếu nhất góp phần phát triển nguồn nhân lực - quyết định sức mạnh của một
quốc gia, các văn bản chỉ đạo của Đảng, nhà nước và địa phương đã thể hiện rõ
quan điểm này (Chỉ thị số 40 của Ban Bí thư TW, Nghị quyết Ban Chấp hành
TW Đảng lần thứ 6 khoá 9, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, Nghị quyết Đại hội Đại
biểu Đảng bộ Tỉnh Thái Bình lần thứ XVIII...)
Chúng ta đã có đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được phát triển về cả
số lượng, cơ cấu và chất lượng, song vẫn còn những hạn chế, bất cập, đòi hỏi
phải được chuẩn hoá. Việc xây dựng và áp dụng chuẩn trong giáo dục đã được
nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam áp dụng thành công và hiệu quả cao.
Trong các nhà trường THPT thì đội ngũ CBQL mà người đứng đầu là
Hiệu trưởng cơ bản đạt trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về bằng cấp theo quy
định của Luật Giáo dục, nhưng so với các yêu cầu của Chuẩn ở một số tiêu chí
đạt được mức chưa cao; Công tác phát triển đội ngũ CBQL theo hướng chuẩn
hoá còn nhiều hạn chế, kém hiệu quả và chậm đổi mới. Vì vậy, việc phát triển
đội ngũ CBQL theo hướng chuẩn hóa đáp ứng yêu cầu quản lý giáo dục trong
các nhà trường THPT được coi là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài.
Ở Thái Bình giáo dục THPT phát triển mạnh, tuy nhiên so với sự phát
triển của kinh tế - xã hội; với yêu cầu đổi mới giáo dục; với chuẩn thì còn hạn
chế về nhiều mặt, đặc biệt là năng lực lãnh đạo quản lý của đội ngũ CBQL.
Đối với các trường THPT của huyện Kiến Xương trong một vài năm gần
đây đang có sự chuyển giao thế hệ CBQL nên trong quá trình điều hành công
việc ở các nhà trường thì đội ngũ này còn lúng túng, việc tiếp cận với Chuẩn
Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng còn khá mới mẻ, việc nghiên cứu phát triển đội
ngũ CBQL trường THPT theo hướng chuẩn hóa chưa đầy đủ, hệ thống, rất cần

- Khảo nghiệm một số giải pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường
THPT huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình theo hướng chuẩn hóa.
2


6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ CBQL theo chuẩn quy
định (Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng) của 05 trường THPT huyện Kiến Xương
trong một số năm học gần đây từ 2009-2010, 2010-2011, 2011-2012, 20122013. Cán bộ quản lý trường THPT huyện Kiến Xương 15 người.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tài liệu, văn bản, vận dụng các quan điểm lý luận liên quan
đến công tác quản lý, nhằm phát triển đội ngũ CBQL trong các trường THPT
huyện Kiến Xương theo hướng chuẩn hoá.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động của các CBQL các trường THPT huyện Kiến Xương.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Điều tra bằng phiếu hỏi đối với các đồng chí lãnh đạo Sở GD- ĐT Thái
Bình; Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, giáo viên các trường THPT huyện Kiến
Xương tỉnh Thái Bình.
7.3. Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng công cụ toán học trong việc thu thập, xử lý thông tin
Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ CBQLTHPT theo hướng
chuẩn hoá.
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ CBQL trong các trường THPT
huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ CBQL các trường THPT

dựng, ban hành chuẩn và thực hiện quản lý dựa vào chuẩn. Vương quốc Anh có
chuẩn chương trình đào tạo CBQL giáo dục/trường học, cung cấp cho những
người chuẩn bị làm lãnh đạo trường học các năng lực lãnh đạo và quản lý.
4


Ở Việt Nam, khoa học quản lý tuy còn non trẻ, song nó đã có những
thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội trong những điều
kiện cụ thể tương ứng với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong lĩnh vực quản lý giáo dục ở Việt Nam những năm qua đã có nhiều công
trình nghiên cứu về lý luận cũng như đề ra được các giải pháp quản lý có hiệu
quả trong việc phát triển giáo dục và đào tạo ví dụ như: PGS. TS Nguyễn Ngọc
Quang “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” đã đề cập đến
những khái niệm cơ bản của quản lý, QLGD, các đối tượng của khoa học
QLGD; PGS.TS Đặng Bá Lãm - PGS.TS Phạm Thành Nghị “Chính sách và Kế
hoạch phát triển trong quản lý giáo dục” đã phân tích khá sâu sắc về lý thuyết
và mô hình chính sách, các phương pháp lập kế hoạch giáo dục; GS.TSKH Vũ
Ngọc Hải - PGS.TS Trần Khánh Đức “Hệ thống giáo dục hiện đại trong những
năm đầu thế kỷ XXI” đã trình bày những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát
triển giáo dục và hệ thống giáo dục.
Một số luận văn, luận án nghiên cứu về xây dựng, quy hoạch phát triển
đội ngũ theo ngành học, bậc học trong phạm vi một/một số địa phương
(tỉnh/huyện) như:
- Luận văn thạc sĩ: Thực trạng, phương hướng và những giải pháp cơ bản
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở tỉnh Bắc
Ninh, của Nguyễn Công Duật - năm 2000.
- Một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực QL quá trình dạy học
của Hiệu trưởng trường THCS tỉnh Quảng Ninh, của Hà Văn Cung - năm 2000.
- Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môn của Hiệu
trưởng các trường THCS các huyện ngoại thành Hải Phòng, của Nguyễn Văn

Theo tác giả Bùi Minh Hiển: “Quản lý là hoạt động có tổ chức, có hướng
đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý đạt mục tiêu đề ra” [20,tr.12].
Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ
thể quản lý để chỉ huy, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và
hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý,
phù hợp với quy luật khách quan” [19,tr.1].
6


Từ những khái niệm quản lý nêu trên, ta có thể rút ra được những dấu
hiệu chung chủ yếu về bản chất của hoạt động quản lý là:
- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã
hội, là sự tác động có hướng đích, có sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm
thực hiện mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy luật khách quan.
- Hoạt động quản lý gồm hai thành phần chủ yếu là:
+ Chủ thể quản lý: Chỉ có thể là con người hoặc một tổ chức do con
người cụ thể lập nên.
+ Đối tượng quản lý: Đó có thể là người, tổ chức, vật chất hay sự việc.
Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý có tác động qua lại. Chủ thể quản
lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn đối tượng quản lý thì sản sinh ra các
giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của
con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý.
Trong hoạt động quản lý, chủ thể quản lý phải có những tác động phù
hợp và sắp xếp các tác động đó một cách hợp lý làm cho đối tượng quản lý thay
đổi trạng thái (Từ lộn xộn thành trật tự theo ý trí và mục tiêu của nhà quản lý).
Một số tác giả khác cho rằng quản lý là “tập hợp các hoạt động (bao gồm
cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất
cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt
được những mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả” (Griffin, 1998) [27,
tr.105]. "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công

giáo dục, điều chỉnh mục tiêu.
1.2.1.3. Khái niệm quản lý trường học
Khái niệm trường học: Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở của hệ
thống giáo dục quốc dân, trực tiếp đào tạo, giáo dục nhân cách bằng tổ chức
hướng dẫn, truyền thụ những tri thức, đạo đức mà nhân loại đã sàng lọc, chiết
xuất được cho thế hệ trẻ. Vì vậy, trong bất kỳ xã hội nào hoạt động trung tâm
trong các nhà trường là hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục.
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội,
trong đó diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự tương tác của hai nhân tố
9


thầy - trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của
hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [2, tr.63].
Khái niệm quản lý trường học
Trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồm quản lý hoạt
động giáo dục, các đối tượng giáo dục như: Quản lý hoạt động dạy học, hoạt
động lao động, hoạt động ngoại khoá, hoạt động xã hội; quản lý giáo viên,
quản lý học sinh, quản lý tài chính, tài sản …Ta cần phân biệt rõ quản lý
giáo dục với quản lý nhà trường. Quản lý giáo dục là quản lý một hoạt động,
còn quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế của hệ thống giáo dục. Như
ta đã biết, quản lý giáo dục bao gồm hai cấp độ: Quản lý cấp vĩ mô và quản
lý cấp vi mô. Quản lý cấp vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục quốc dân từ
TW đến địa phương và quản lý cấp vi mô là quản lý hoạt động giáo dục
trong nhà trường. Như vậy, quản lý giáo dục trong nhà trường chính là nội
dung quan trọng trong quản lý giáo dục.
Theo GS.VS Phạm Minh Hạc: “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong pham vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu
đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [16, tr.22].

Có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng các định nghĩa đều nêu rõ “đội
ngũ là một khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng để
cùng thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc không,
nhưng cùng chung một mục đích nhất định và cùng hướng tới mục đích đó”.
Trong ngành giáo dục, đội ngũ bao gồm CBQL, giáo viên, công nhân viên. Nếu
chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ chủ yếu là đội ngũ giáo viên và
đội ngũ CBQL giáo dục
* Đội ngũ cán bộ quản lý trường THPT
Đội ngũ cán bộ trường THPT gồm: Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng.
- Trong luật giáo dục, tại điều 54 quy định: “1. Hiệu trưởng là người chịu
trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận; 2. Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống
11


giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý trường học”
[23, tr.46].
- Theo điều lệ trường trung học: “1. Trường trung học có một Hiệu
trưởng và từ 1 đến 3 phó Hiệu trưởng theo nhiệm kỳ 5 năm. Thời gian đảm
nhiệm những chức vụ này là không quá hai nhiệm kỳ ở một trường trung học;
2. Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng phải là giáo viên đạt trình độ chuẩn quy
định, đã dạy ít nhất 5 năm ở cấp trung học hoặc ở cấp học cao hơn. Có phẩn
chất chính trị và đạo đức tốt; có trình độ chuyên môn vững vàng; có năng lực
quản lý được bồi dưỡng lýluận và nghiệp vụ quản lý giáo dục, có sức khoẻ,
được tập thể giáo viên, nhân viên tín nhiệm” [3, tr.12].
Từ định nghĩa trên có thể hiểu đội ngũ CBQL trường THPT là tập hợp
các cán bộ, nhà giáo cùng thực hiện chức năng lãnh đạo và quản lý trường
THPT với cùng một mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của
trường THPT đáp ứng các yêu cầu đổi mới của giáo dục và có một số lượng
nhất định (theo quy định của Nhà nước). Đội ngũ cán bộ quản lý trường học có

đó đem tới cho con người khả năng tự giáo dục
Chất lượng của đội ngũ CBQL là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo
dục của các trường THPT, do đó quản lý phát triển đội ngũ CBQL là khâu đặc
biệt quan trọng.
1.2.4. Khái niệm Chuẩn, Chuẩn hóa.
1.2.4.1. Khái niệm Chuẩn
Đại từ điển bách khoa toàn thư thế giới Britannica - 2002 định nghĩa
Chuẩn và những phạm trù gần với Chuẩn là cái được xác lập bởi quyền lực, tập
quán hoặc sự thỏa thuận chung để làm mẫu mực hoặc vật so sánh hoặc là cái
được đặt ra và xác lập bởi quyền lực để làm luật lệ (quy tắc) đo lường số lượng,
trọng lượng, giá trị hoặc chất lượng.
Theo Bách khoa toàn thư giáo dục quốc tế thì “Chuẩn là mức độ ưu việt
cần phải có để đạt được những mục đích đặc biệt; là cái đo xem điều gì là phù
hợp; là trình độ thực hiện mong muốn trên thực tế hoặc mang tính xã hội” [30].
13


Từ điển Tiếng Việt thông dụng giải thích Chuẩn như sau: “Cái được chọn
làm mốc để dọi vào, để đối chiếu mà làm cho đúng; Vật chọn làm mẫu đơn vị đo
lường; Cái được xem là đúng với quy định, với thói quen xã hội” [30].
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng: “Chuẩn là mẫu lý thuyết có tính
chất nguyên tắc, tính công khai và tính xã hội hóa, được đặt ra bằng quyền lực
hành chính hoặc chuyên môn, bao gồm những yêu cầu, tiêu chí, quy định kết
hợp lôgic với nhau một cách xác định, được dùng làm công cụ xác minh sự vật,
làm thước đo - đánh giá hoặc so sánh các hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch
vụ…. trong lĩnh vực nào đó, có khuynh hướng điều chỉnh những sự vật này
theo nhu cầu, mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lý hoặc chủ thể điều khiển
/sử dụng công việc/sản phẩm /dịch vụ.” [20, tr 89].
Chuẩn là mẫu lý thuyết được quy định chặt chẽ, có tính chất nguyên tắc,
được công khai hóa, được xã hội thừa nhận, được đặt ra bằng quyền lực hành

XĐ sự cấp thiết XD chuẩn
KH nghiên cứu XD chuẩn
Xây dựng dự thảo văn bản chuẩn

Phát triển
chuẩn

chuẩn
Trưng cầu ý kiến hoàn thiện chuẩn

Đánh giá giá trị dự thảo
chuẩn
Áp dụng
chuẩn

Phê duyệt văn bản chuẩn
Ban hành chuẩn
Tổ chức thực hiện chuẩn

Quản lý
chuẩn

Chỉ đạo, giám sát thực hiện
chuẩn
Đánh giá thực hiện

chuẩn
15






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status