Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến công tác quản lý chất thải y tế bệnh viện hữu nghị việt tiệp hải phòng năm 2012 - Pdf 34

-1-

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các đô thị, các ngành sản xuất
kinh doanh và dịch vụ ngày càng được mở rộng và phát triển nhanh chóng đã
tạo ra một lượng lớn chất thải bao gồm: chất thải sinh hoạt, chất thải công
nghiệp, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, và nguy hiểm hơn cả là
chất thải y tế.
Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường Bộ Y tế, tính đến năm 2012,
cả nước có 13.511 cơ sở y tế các loại. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ
các cơ sở y tế khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là CTYTNH;
lượng chất thải lỏng khoảng 150.000 m3/ngày/đêm. Ước tính đến năm 2015,
lượng CTR y tế là 600 tấn/ngày và năm 2020 là khoảng trên 800 tấn/ngày;
lượng nước thải y tế phải xử lý lên tới trên 300.000 m3/ngày/đêm. Tỉ lệ bệnh
viện có hệ thống XLNT là 54,4%; có 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom
CTYT hàng ngày, nhưng chỉ có 50% bệnh viện trong số này phân loại và thu
gom CTYT đạt yêu cầu. Hiện nay chỉ có 1/3 lượng rác thải y tế ở Việt Nam
được đốt bằng lò đốt hiện đại hoặc sử dụng công nghệ vi sóng /nhiệt ướt khử
khuẩn. Cả nước hiện có 369 lò đốt hai buồng và 127 lò đốt một buồng. Trong
đó đa số các lò đốt chưa có hệ thống xử lý khí thải, công suất lò đốt không
hợp lý, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả sử dụng không cao. [20], [23].
Thành phố Hải Phòng là một trong những thành phố có tốc độ phát
triển kinh tế và mật độ dân số cao, là trung tâm văn hóa giáo dục, y tế lớn của
cả nước. Ngành y tế thành phố phát triển mạnh mẽ, đáp ứng tốt nhu cầu chăm
sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn thành phố và dân cư các địa phương
khác. Thành phố hiện có gần 30 bệnh viện ở các tuyến trung ương và phòng
khám đa khoa. Hàng ngày một lượng rác thải khá lớn từ các hoạt động y tế
được thải ra khoảng 2,5 – 3 tấn/ngày.


-2-

[57].
1.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và
phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại,
quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của NVYT trong việc khám,
chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa
phòng [30].
Bảng 1.1. Chất thải y tế theo giƣờng bệnh trên thế giới [21]
Tổng lƣợng

CTYT nguy hại

CTYT(kg/GB)

(kg/GB)

Bệnh viện trung ương

4,1 - 8,7

0,4 - 1,6

Bệnh viện tỉnh

2,1 - 4,2

0,2 - 1,1

Bệnh viện huyện


bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT. Tổn thương
này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu
là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn. Có khoảng
50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh
nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [62].
Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khoẻ, môi trường
khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt
CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại
chất thải [62].
Việc xử lý chất thải y tế hầu như đã được giải quyết ở các nước phát
triển với công nghệ đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng. Dựa trên việc
đánh giá vòng đời cho thấy lò vi ba có hiệu suất sinh thái đạt hiệu quả tốt
nhất, tiếp theo là công nghệ hấp khử trùng. Trong khi ở hầu hết các nước đang
phát triển, vấn đề này vẫn còn bởi vì các phương pháp xử lý tốn kém và lớn
hơn rất nhiều so với ngân sách quốc gia [59]. Vì vậy, các nhà khoa học ở các
nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế


-6-

như Philippin đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp
đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng
rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa;
Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối
nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp [48].
1.3. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
1.3.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm
1998, cho thấy tỉ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ
sở y tế rất khác nhau.


0,14

Tuyến bệnh viện

Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải
rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp
cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất [12], [21]
Lượng chất thải rắn y tế phát sinh là cơ sở quan trọng để xác định khối
lượng thu gom, công suất lò đốt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của một số
công trình nghiên cứu trong nước về tổng lượng CTYT phát sinh trên địa bàn
cả nước có sự sai lệch: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Nga (Bộ Y tế) là
16,5 tấn/ngày; kết quả nghiên cứu của Lê Doãn Diên 37,5 tấn ngày; của Bộ
Xây dựng là 34 tấn/ngày. Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy vì một số đề tài khi


-7-

nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng, bùn bể
phốt.... Một số đề tài nghiên cứu khác chỉ xét đến lượng CTYT phát sinh khi
cần thiêu đốt. Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế (2001) tại 280 bệnh viện
lượng CTYT phát sinh mỗi ngày khoảng 429 tấn/ngày, trong đó lượng CTYT
nguy hại khoảng 34 tấn/ngày, ước tính tổng lượng khoảng 15 triệu tấn/năm
CTYT, trong đó có khoảng 21.000 tấn/năm CTYT nguy hại. [12], [22].
1.3.2. Thành phần và phân loại chất thải y tế
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trong thành phần CTYT có khoảng 10%
chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% chất thải độc hại như chất phóng xạ,
chất gây độc tế bào và các hóa chất độc hại khác phát sinh trong quá trình
chẩn đoán, điều trị [53].
Căn cứ vào các đặc điểm lý, hoá, sinh học và tính chất nguy hại, chất

từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. Danh mục thuốc
phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành
kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Y tế.
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng ôxy, CO2, bình ga, bình khí dung.
Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá
học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy
xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các
chất hoá học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật
liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.


-9-

1.3.3. Quản lý chất thải y tế
Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật,
nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các
bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. Nhiều
bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ
thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân
loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ. Thực trạng như sau [18],
[19], [ 24], [38]:
* Về quản lý rác thải:
Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước

loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế [18].
* Về nước thải
Mỗi bệnh viện có thể thải ra khoảng 0.4 – 0.95 m3 nước thải trên một
giường bệnh trong ngày, tùy thuộc vào khả năng cấp nước, dịch vụ bệnh viện,
số lượng bệnh nhân và người nhà… Tuy nhiên, nồng độ chất thải rắn lơ lửng
(SS), chất hữu cơ (như BOD5), và các chất dinh dưỡng (như Nitơ, phốt pho)
trong nước thải bệnh viện có thể không cao như nước thải đô thị. Nồng độ
BOD5 thay đổi từ 80-180 mg/l. [7]
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành
phố thì có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở
các bệnh viện tuyến huyện. Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có
tới 47,4% bệnh viện sử dụng hệ thống thoát nước chung gồm cả nước mưa,
nước thải sinh hoạt, nước thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát
nước thải riêng biệt; 26,3% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải kín; 31,4%
hở và 42,3% vừa kín vừa hở [26].
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỉ lệ bệnh viện có hệ
thống xử lý nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến


- 11 -

huyện là 30% và bệnh viện tư nhân là 85%. Tính chung tỉ lệ bệnh viện có hệ
thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu
chuẩn cho phép.[18]
Nhiều nghiên cứu về chất lượng của nước thải bệnh viện đã được thực
hiện và các phát hiện chính được tóm tắt trong bảng 1.3 dưới đây
Bảng 1.3. Các thông số ô nhiễm trong nƣớc thải [7]
BOD5

COD


210

1.3 Ngành

7.12 1.59 4.84 139.2

279.9

1.44

38.9

246

TT

1

2

Bệnh viện

pH

DO

H2S

mg/l mg/l


46.1

222.2

2.3 Phụ sản

7.21 1.33 7.73

321.9

0.99

53.2

251.3

1.3

167

* Về xử lý khí thải bệnh viện: Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý
khí thải hoặc có hốt hút hơi khí độc tại các khoa/phòng Xét nghiệm, X quang,
còn đa phần các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải.
1.3.4. Biện pháp xử lý chất thải y tế
*Về xử lý chất thải rắn y tế:
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2004) [2], Việt Nam đã
xây dựng được 43 lò đốt CTYT hiện đại, nâng công suất xử lý lên 28.840
kg/ngày. Công suất thiết kế của một lò đốt khoảng 40kg/h - 50 kg/h. Tuy
nhiên đại đa số các lò đốt chưa sử dụng hết công suất, khi so sánh tổng công

Hiện có khoảng 100-150 trong số 1100 bệnh viện (hay khoảng 10-15%
số bệnh viện) có trạm XLNT bệnh viện đưa vào hoạt động. Tại các bệnh viện


- 13 -

như BV Quân đội 108, BV Bạch Mai, BV Hai Bà Trưng, Hà Nội (Xây dựng
mới), BV Việt-Tiệp, BV Nhi TP Hải Phòng, BV Đa khoa TP Huế, BV Nhi
Thuỵ Điển Hà Nội và BV Uông Bí, BV Nhi Thành phố Hồ Chí Minh ... có
trạm XLNT với công nghệ xử lý sinh học hiếu khí bằng bùn hoạt tính hoặc
kết hợp xử lý bằng phương pháp hóa học, Viện Khoa học Việt Nam nay là
Viện Khoa học và Công nghệ Quốc Gia đã xây dựng và vận hành trạm XLNT
bằng hóa học và sinh học [7]. Một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa và
Bệnh viện Lao Tuyên Quang, Bệnh viện C và Bệnh viện Lao - bệnh phổi Thái
Nguyên, Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La, Trung tâm Y tế huyện Lương Tài Bắc Ninh đang áp dụng công nghệ XLNT bệnh viện theo phương pháp lọc
sinh học ngập nước cải tiến hoặc phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt .
1.4. Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trƣờng và sức khỏe
cộng đồng trên thế giới
Chất thải bệnh viện tồn tại ở ba dạng rắn, lỏng, khí và chúng có khả
năng chuyển từ pha này sang pha khác hoặc được cố định vào một pha nào đó
do quá trình biến đổi vật lý, hoá học và sinh học [35]. Mặc dù lượng chất thải
bệnh viện so với tổng lượng thải sản sinh từ sản xuất công nghiệp và sinh
hoạt,… không lớn, nhưng xét về mặt độc hại và nguy hiểm (đặc biệt là rác
thải y tế và nước thải từ khâu điều trị bệnh, phóng xạ…) thì chúng gây ô
nhiễm môi trường đáng kể, ảnh hưởng đến sức khoẻ và quá trình phát triển
lâu dài của con người [49].
CTYT là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây
bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ... Các
tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường: Qua
các vết da bị xây xước hoặc bị thương, qua đường hô hấp (do hít phải), qua

1.4.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng:
1.4.2.1. Nguy cơ và tác động của vật sắc nhọn


- 15 -

Các vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết xước và thường xuyên đâm
thủng da mà còn làm nhiễm khuẩn tại các vị trí gây xước và chọc thủng.
Người ta đặc biệt quan tâm tới bơm kim tiêm vì nó tạo ra phần chất thải chính
là các vật sắc nhọn và thường bị nhiễm khuẩn bởi máu của người bệnh. Ước
tính mỗi năm trên thế giới sử dụng 12.000 bơm tiêm. Hàng năm có khoảng 8 16 triệu người viêm gan B; 2,3 - 4,7 triệu người viêm gan C và 8.000 - 16.000
người nhiễm HIV do tái sử dụng bơm kim tiêm không tiệt trùng. [5]
Ở Nhật Bản, các nghiên cứu về chất thải y tế đã đưa ra các số liệu như
sau [32]: Năm 1987 có 2 bác sĩ trẻ thực tập nội trú ở Khoa Nhi không may bị
nhiễm virút từ các ống tiêm và đã bị chết bởi viêm gan B cấp tính; năm 1986
có 67,3% những người thu gom rác trong các bệnh viện bị tổn thương do các
vật sắc nhọn, 44,4% những người thu gom rác bên ngoài các bệnh viện bị tổn
thương khi thu gom các chất thải bệnh viện.
1.4.2.2. Nguy cơ và tác động của chất thải nhiễm khuẩn
Bảng 1.4. Các loại nhiễm khuẩn, tác nhân gây bệnh và đƣờng lây nhiễm [5]
STT

Dạng nhiễm khuẩn

Tác nhân gây bệnh

Chất truyền

1



Bệnh than

Trực khuẩn than

Chất tiết qua da

6

AIDS

HIV

Máu, dịch tiết
sinh dục

7

Nhiễm khuẩn huyết

Tụ cầu

Máu

8

Viêm gan A

Vi rút viêm gan A


Những nghiên cứu trên động vật đã chứng tỏ rằng ở liều lượng cao
nhiều loại thuốc gây ung thư và đột biến tế bào, một số gây quái thai, nhiều
thuốc gây khó chịu và kích thích tại chỗ sau khi tiếp xúc với da và niêm mạc.
Bất kỳ chất thải gây độc tế bào nào, nếu đào thải bừa bãi vào môi
trường có thể gây ra các biến đổi về sinh thái học, vì vậy cần có biện pháp
trong việc vận chuyển và tiêu huỷ các chất gây độc tính di truyền [5].
Shiro Shirato cũng đã nêu trong tài liệu khoa học của Nhật Bản, tổng số
hơn 500 trường hợp bị lây nhiễm bệnh có liên quan tới chất thải bệnh viện,
hơn 400 trường hợp bị tác hại sinh học từ các thuốc có độc tố tế bào [12].


- 17 -

1.4.2.5. Nguy cơ và tác động của chất thải phóng xạ
Những bệnh do các chất phóng xạ gây nên được xác định bởi liều
lượng và cường độ lây nhiễm. Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như
đau đầu, buồn nôn, ngủ gà. Những người làm công tác xử lý các nguồn phóng
xạ có hoạt tính cao cũng có thể bị nhiều tổn thương nghiêm trọng như cắt cụt
một phần của cơ thể, vì vậy những chất thải này cần phải được xử lý nghiêm
ngặt đúng quy định [5].
Những tai nạn nghiêm trọng bởi các chất thải bệnh viện bị nhiễm
phóng xạ đã được ghi nhận bởi các cơ quan truyền thông quốc tế ở thành phố
Brasilia năm 1998, có 4 người chết vì hội chứng phóng xạ cấp tính và 28
người bị bỏng phóng xạ nặng [12].
1.5. Thực trạng tình hình vệ sinh môi trƣờng ngành y tế TP Hải Phòng
Kết quả nghiên cứu của Dương Thị Hương, Đồng Trung Kiên và cộng
sự - Trung tâm Y tế dự phòng Hải Phòng (2003) khi điều tra đánh giá tình
hình vệ sinh môi trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng
cho thấy hầu hết tại các cơ sở y tế trong kiến trúc xây dựng ban đầu chưa chú
trọng tới việc xây dựng hệ thống XLNT và khu vực tập trung xử lý rác thải.

như các cơ chế về tài chính chưa hợp lý để tạo điều kiện làm tốt công việc xử
lý CTYT và công tác kiểm tra, giám sát chưa được chú trọng. [36]
1.6.1. Kiến thức của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải y tế
Trong quản lý CTYT, yếu tố con người là rất quan trọng. Cho dù có hệ
thống xử lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các cán bộ y tế, những người liên
quan trực tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận
thức rõ tác hại và tầm quan trọng của CTYT đối với công tác bảo vệ môi
trường và sức khoẻ thì hệ thống đó hoạt động cũng không hiệu quả.
Qua kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu
Dung (2003), cho thấy: phần lớn những người được phỏng vấn biết được sự
nguy hại của chất thải lâm sàng, còn những chất thải khác số người biết chỉ


- 19 -


CTYT còn chưa đầy đủ, năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ
thanh tra còn hạn chế, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe [12]
1.6.2.3. Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải
Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất
nhiều khó khăn. Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có
khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử ý chất thải. Kinh phí
cho xử lý chất thải chưa được kết cấu vào chi phí đầu giường bệnh nên khó
khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải.
Việc khoán chi ở bệnh viện đã làm cho các bệnh viện phần lớn chỉ quan
tâm đến việc đầu tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư
cho quản lý, xử lý chất thải. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân
cơ bản dẫn đến công tác quản lý, xử lý chất thải tại các bệnh viện còn nhiều
hạn chế và bất cập [17].


- 21 -

Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu
* Chất thải y tế:
- Chất thải rắn y tế: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất
thải thông thường.
- Nước thải bệnh viện: nước thải ra từ các hoạt động của bệnh viện.
- Hồ sơ, sổ sách quản lý CTYT của bệnh viện.
* Nhân viên y tế, vệ sinh viên và bệnh nhân là những người phơi nhiễm với
chất thải y tế nguy hại. Chia làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, gọi chung là NVYT
- Nhóm 2: hộ lý, nhân viên công ty ICT và Hoàn Mỹ, gọi chung là vệ

dân số cao nên nguy cơ gây nhiễm bệnh ra cộng đồng dân cư sống xung
quanh khu vực bệnh viện là rất lớn.
Với những lý do như vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này tại
Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp để đánh giá công tác bảo vệ môi trường tại đây
sau khi có quyết định số 64/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch xử lý
triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của Chính phủ.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
* Chọn mẫu cho nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải y tế:
- Chất thải rắn:
o Chọn toàn bộ.
o Cân định lượng toàn bộ rác thải hàng ngày của bệnh viện một
tuần 3 lần trong 10 tháng


- 23 -

- Nước thải bệnh viện:
o Lấy nước thải tại hố ga sau khi đã qua hệ thống xử lý trong 12
tháng (3 tháng/lần x 12 tháng = 4 lần, tần suất lấy theo Đề án bảo
vệ môi trường của Bệnh viện).
o Làm 8 chỉ số xét nghiệm: BOD5, PO4, NO3, H2S, Amoni,
Coliform, Salmonella và Shigella
* Chọn mẫu cho nghiên cứu các yếu tố liên quan đến quản lý CTYT:
Do không biết một cách chắc chắn tỉ lệ có kiến thức, thực hành đúng về
quản lý CTYT cũng như những nguy hại do CTYT mang lại đối với người
tiếp xúc, mặt khác trình độ của các đối tượng nghiên cứu cũng khác nhau nên
chúng tôi áp dụng cách tính mẫu chung nhất (tỉ lệ 50%) theo công thức sau:


cách chọn).
2.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu
2.3.1. Các chỉ số về thực trạng quản lý chất thải y tế
* Thực trạng chất thải rắn:
- Tổng lượng chất thải rắn y tế/ngày.
- Khối lượng chất thải y tế (kg)/giường bệnh/ngày.
- Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại (kg)/giường bệnh/ngày.
- Tỉ lệ chất thải rắn y tế nguy hại/chất thải rắn y tế.
- Công tác thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu giữ, xử lý chất thải rắn.
* Thực trạng chất lượng nước thải:
- Uớc tính lượng nước thải/ngày.
- Kết quả phân tích chất lượng nước thải.
2.3.2. Một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế
- Nhân viên trực tiếp quản lý CTYT là những người hàng ngày thực hiện
công việc thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải y tế tại bệnh
viện.
- Kiến thức, thái độ, thực hành của NVYT, VSV về quy chế quản lý
CTYT theo Quyết định số 43/2007/QĐ- BYT ngày 30/11/ 2007 của Bộ
Y tế, gồm:
o Kiến thức về phân loại CTYT theo nhóm, mã màu quy định
dụng cụ chứa CTYT.
o Thái độ, thực hành về phân loại CTYT


- 25 -

o Hiểu biết về tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ và
các đối tượng có nguy cơ dễ bị ảnh hưởng bởi CTYT;
- Nhận thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân
về vệ sinh bệnh viện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status