1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020, Cảng Hải Phòng đã không ngừng phát triển, nâng cao năng
lực bốc xếp, thu hút một lực lượng lớn nguồn nhân lực, đóng góp quan trọng vào
mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hải Phòng và đất
nước. Sự phát triển nhanh chóng của Cảng Hải Phòng luôn đi cùng các vấn đề
không mong muốn như tai nạn lao động, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường,
ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sức khoẻ người dân.
Trên Thế giới, tai nạn lao động ngày càng có xu hướng gia tăng đặc biệt
là các nước đang phát triển. Theo thống kê của Tổ chức Lao động Thế giới
(ILO), ước tính hàng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động (TNLĐ) xảy
ra trong đó có 2,3 triệu người chết có liên quan đến TNLĐ [72],[73]. Các nghiên
cứu cho thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43
người /100.000 lao động, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 1,5 triệu người bị
TNLĐ [72].
Ở Việt Nam, theo đánh giá của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tai
nạn lao động từ năm 2006 đến năm 2010, bình quân mỗi năm có gần 700 người
chết do TNLĐ, xảy ra hơn 3.600 vụ TNLĐ và làm hàng nghìn người bị thương.
Tai nạn lao động làm thiệt hại về người và của, ảnh hưởng đến nền kinh tế, đến
trật tự an toàn xã hội[10].
Tai nạn lao động trong các ngành nghề như các ngành công nghiệp nhẹ
(dệt, sợi, may mặc ...), công nghiệp nặng (luyện kim, cơ khí...), công nghiệp hoá
2
chất (phân bón, giấy, sơn...), công nghiệp đóng tàu, xây dựng...đã được nhiều tác
giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
Cảng Hải Phòng hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều ngành nghề
dẫn đến hậu quả gây chấn thương cho người lao động, vụ TNLĐ có thể nhiều
hơn một người [13].
1.1.2. Chấn thương và những khái niệm liên quan:
Chấn thương là sự phá hoại bất ngờ tính toàn vẹn của cơ thể ( chức năng
sinh lý của tế bào, cơ quan nội tạng của cơ thể), gây tổn thương thực thể trên cơ
thể người do tác động của năng lượng bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hoá học hoặc
phóng xạ với mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người.
Chấn thương còn là thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống ví dụ như: Thiếu ô
xy trong đuối nước, giảm nhiệt trong đông lạnh...
Trường hợp chấn thương: Là những chấn thương để lại hậu quả tử vong
hoặc gây thương tích cần đến chăm sóc y tế, hoặc hạn chế sinh hoạt bình thường
tối thiểu một ngày.
4
Một số chấn thương cơ bản:
+ Điện giật: Là những trường hợp chấn thương do tiếp xúc với nguồn điện
dẫn đến chấn thương hoặc tử vong.
+ Ngã: Là những trường hợp chấn thương do bị ngã, rơi từ trên cao hoặc
ngã trên cùng một mặt bằng.
+ Bỏng: Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da, tổ chức dưới da khi
tiếp xúc với lửa, chất lỏng nóng, chất rắn nóng. Các tổn thương da do sự phát xạ
của tia cực tím, phóng xạ, chất hoá học...
+ Ngộ độc: Là những trường hợp hít phải, ăn vào, ngấm vào, tiêm vào cơ
thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc cần đến sự chăm sóc y tế.
+ Chấn thương do máy móc: Là những chấn thương xảy ra do tiếp xúc,
vận hành máy móc, trang thiết bị dẫn đến tổn thương thực thể hoặc tử vong[13].
1.2. Tai nạn lao động và các vấn đề cần quan tâm.
1.2.1. Trên Thế giới.
Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115 triệu
người lao động của Châu lục này đã có hơn 10 triệu người bị TNLĐ hoặc bệnh
nghề nghiệp hàng năm. Số người chết vì TNLĐ là hơn 8.000 người/năm. Thiệt
hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm. Ở nước Đức, điều kiện lao động xấu gây thiệt
hại khoảng 52 tỉ đê-mác/năm. Ở nước Anh, chi phí cho người bị tai nạn bằng 4 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệp của Anh. Tại Hà
6
Lan, chi phí cho bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động bằng khoảng 4% GNP
[72],[73].
Ở nước Mỹ có khoảng 150.000 chấn thương do TNLĐ hàng năm và phải
chi tới 400 tỷ đô la. Trung bình mỗi ngày tại Mỹ có khoảng 9.000 người bị
thương tật do TNLĐ và 153 người chết do TNLĐ. Chấn thương do TNLĐ là
nguyên nhân gây chết người đứng hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử
vong. Tỷ lệ chết do TNLĐ là 51/100.000 dân. Thông thường số liệu về TNLĐ ở
các nước khác nhau do phương pháp thống kê khác nhau, mục đích sử dụng và
công bố số liệu hoặc do chủ trương giữ bí mật của các nước khác nhau. Cũng có
trường hợp do những qui định về pháp luật trong việc trả bảo hiểm cho người lao
động nên như nước Mỹ, người ta tính cả các thương tích do tai nạn giao thông,
bạo lực ở nơi làm việc. Do đó các đặc điểm trên nên việc so sánh tình hình
TNLĐ trên thế giới chỉ là tương đối và để tham khảo [72], [73].
Công ước 187 về Cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động được các
nước thành viên của Tổ chức Lao động thông qua ngày 15/6/2006 tại Hội nghị
toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế nhằm mục đích: Tiếp tục cải thiện hệ
thống quốc gia và thực hiện về an toàn vệ sinh lao động thông qua các chương
trình quốc gia về an toàn vệ sinh - Giải pháp tiếp cận hệ thống quản lý. Đưa vấn
đề an toàn vệ sinh lao động là ưu tiên tại các chương trình nghị sự của quốc
gia.Thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn và các công cụ của ILO về an toàn vệ
sinh lao động. Thúc đẩy tiến trình phê chuẩn các công ước của ILO về an toàn
8
nặng hơn và cũng cho thấy thói quen công việc, hệ thống ca kíp và môi trường
lao động có ảnh hưởng đáng kể đến những TNLĐ[91].
Theo Pinnagoda, cũng tại Singapore để dự phòng tai nạn và bệnh tật tại
nơi làm việc, người ta kiểm soát tình trạng sức khoẻ và phòng hộ lao dộng với
các yếu tố có hại trong lao động bằng phương pháp thông gió chung và cục bộ.
Trong công nghiệp sử dụng các thiết bị phòng hộ cá nhân, tổ chức tuyên truyền
và đào tạo ATLĐ cho công nhân theo “ phương pháp 4 bước” ( four step
method) rất có hiệu quả. Phương pháp này chủ yếu sử dụng băng hình video và
sách phổ cập dễ hiểu để đào tạo[96].
Các nghiên cứu của nước ngoài chủ yếu tập trung về phân tích các loại
hình TNLĐ, liên quan giữa TNLĐ và các yếu tố nguy cơ như: Tuổi đời, tuổi
nghề, nhịp sinh học, các nguyên nhân gây TNLĐ.
Phân tích về các trường hợp chấn thương nghề nghiệp tại 8 xí nghiệp ở
Bắc Kinh - Trung Quốc, các tác giả chỉ ra rằng hầu hết tỷ lệ chấn thương cao xảy
ra đối với công nhân sản xuất cơ khí. Các trường hợp chấn thương ở công nhân
cơ khí chiếm 74,2% trên tổng số các trường hợp TNLĐ. Loại hình chấn thương
chủ yếu là ở chi trên và chi dưới ( 75% - 82%). Các chấn thương thường xảy ra
vào 2 giờ cuối của ca làm việc 8 tiếng( 205/438, 46,8%) [75].
Theo Jones và Griffith nghiên cứu trên 63.000 công nhân ngành hoá chất
cho biết trong tổng số 133 ca bị tai nạn vào mắt chiếm 8,4% trong tổng số
TNLĐ. Trang bị bảo vệ mắt thường là không mang, một vài bảo hộ sai quy cách
đối với những công việc đặc biệt. Trong quần thể này, chấn thương mắt có tỷ lệ
mắc 23/1000/năm. Hầu hết tai nạn có thể tránh được. Cần trang bị BHLĐ, nâng
cao giáo dục cho công nhân để giảm tỷ lệ chấn thương mắt [76].
9
nghiệp nhỏ chiếm tỷ lệ 25% tổng số TNLĐ. Khoảng 50% số TNLĐ liên quan
đến sử dụng xe cộ: trong các ca TNLĐ, nạn nhân chủ yếu là lái xe[95].
Một nghiên cứu được tiến hành tại Venezuela từ năm 1986 -1933 về các
chấn thương chi trên với mục đích phân tích tần số, tỷ lệ chấn thương và địa
điểm xảy ra TNLĐ của những công nhân vùng phía Đông Biển Hồ Maracaibo,
bang Zulia. Chấn thương chi trên được định nghĩa là một tổn thương thực thể
ngón tay, bàn tay và cổ tay người lao động xảy ra khi làm việc tiếp xúc với yếu
tố nguy cơ trong cơ sở sản xuất. Những chỉ tiêu được phân tích gồm: Tuổi, hoạt
động kinh tế, nguyên nhân cơ học, dạng chấn thương, dạng tai nạn, mức độ nặng
- nhẹ của tai nạn và những hoạt động sản xuất không an toàn. Tỷ lệ thường gặp
được dùng để phân tích tỷ lệ TNLĐ hay xảy ra. Trong thời gian nghiên cứu đã
thu thập được 2.456 ca chấn thương chi trên, chiếm 36% tổng số các ca TNLĐ;
95% bị chấn thương nhẹ, 5% mất khả năng lao động và có 2 ca bị chết, 72% bị
chấn thương ở các ngón tay, 22% ở cánh tay và 6% ở cổ tay. Tần suất chấn
thương lớn nhất thường gặp ở ngành khai thác mỏ và khai thác đá với 123/1.000
lao động. Nhóm tuổi hầu hết ở độ tuổi 20 - 29 (42%), vết thương bàn tay chiếm
tỉ lệ 39%. Nguyên nhân chính gây chấn thương là do di chuyển hoặc bị vật rơi,
bắn vào. Tác nhân chính gây chấn thương là những nguyên liệu sản xuất, bức xạ
nhiệt chiếm tới 45% số trường hợp tai nạn. Từ những kết quả trên, các tác giả đã
kết luận rằng: Tỉ lệ chấn thương bàn tay là rất cao trong công nhân khai thác mỏ
và khai thác đá và đó cũng chính là nguyên nhân gây tàn tật cho người lao động [
99 ].
Nghiên cứu TNLĐ trong số công nhân được hưởng bảo hiểm xã hội ở
Benin các tác giả Fayomi EB, Sohoun T, Housesou R và Vigan L cho thấy: Tần
suất TNLĐ qua 5 năm là 4/100.000 lao động. Các hình thái tổn thương gồm các
vết thương phần mềm (59%), tổn thương xương khớp (20%), bỏng (3%) và vật
11
nguy cơ tai nạn tăng cao ở hai giai đoạn đầu và cuối của công việc và ở hai nhóm
tuổi trẻ nhất trong số bốn nhóm tuổi [81].
Nghiên cứu về yếu tố con người và TNLĐ, Petz B cho biết: những yếu tố
cá tính và lứa tuổi là cố định, yếu tố tuổi nghề và kinh nghiệm thay đổi theo thời
gian, các yếu tố khác là bất ngờ, rượu, ốm đau, mệt mỏi, trạng thái tâm lý [93].
Những nguyên nhân của chấn thương nghề nghiệp được điều tra qua 2.365
ca của tác giả Kingma J cho thấy máy móc và dụng cụ cầm tay là hai nguyên
nhân chính (49,9%), 89% nạn nhân là nam giới. Nhóm nguy cơ cao nhất là lứa
tuổi 19, trong nhóm này tỷ lệ mắc tai nạn của nữ là lớn nhất [79].
Kiểm tra giả thuyết về những tàn phế nói chung làm hạn chế đến khả năng
lao động và các khuyết tật nghe nhìn là các yếu tố nguy cơ với các chấn thương
nghề nghiệp, các kết quả của Zwerling C, Witten PS, David CS và Sprince NL
trên 459.827 công nhân tuổi từ 18 đến 65 trong 10 năm là : Chấn thương nghề
nghiệp có kết hợp với tàn tật trước khi làm việc (OR: 1,36% ; 95% CI = 1,19 1,56); mù (OR : 3,21; 95% CI = 1,17 - 4,12) điếc (OR: 1,34; 95% CI = 1,07 1,68). Các tác giả kết luận là công nhân bị tàn tật, đặc biệt có khuyết tật cơ quan
cảm nhận có nguy cơ tăng cao về chấn thương nghề nghiệp [106].
Nghiên cứu tác động về tuổi, kinh nghiệm nghề nghiệp và tương tác của
chúng với sự xuất hiện của tai nạn. Cellier, Eyrolle và Bertran chia ra ba nhóm
kinh nghiệm với sáu nhóm tuổi cho thấy tuổi và kinh nghiệm tác động có ý nghĩa
đến tần suất và mức nghiêm trọng của tai nạn. Kết hợp hai yếu tố này cho thấy
những đối tượng trẻ nhất (có ít kinh nghiệm làm việc) và già nhất có tỷ lệ cao
hơn đáng kể về tần suất và mức nghiêm trọng về tai nạn [60].
Zwerling C nghiên cứu trên 6.854 công nhân tuổi từ 51-61 tuổi, đối chiếu
với những nhóm tuổi khác cho thấy phân bố nguy cơ TNLĐ trong các ngành
13
nghề như sau: cơ khí và sửa chữa: OR = 2,27; dịch vụ OR = 1,68; lao động thủ
công OR = 2,18; mang vác nặng OR = 2,75 [106].
Nhận xét về mối liên quan giữa tuổi và nguy cơ mắc TNLĐ, Kisner SN và
ngành khai thác mỏ có số lượng TNLĐ cao nhất trong ngành nghề (chiếm 50%
tổng số các TNLĐ) [108].
Nghiên cứu tỷ lệ chết ở công nhân mỏ than vùng New South Wales,
Australia trong giai đoạn năm1973-1992 trên 23.630 người, các tác giả Christie
BG Brown AM, Taylor R, Seccombe MA và Coates MS cho biết có 491 ca tử
vong trong thời kỳ nghiên cứu, sau khi chuẩn hóa theo tuổi công nhân ngành
than có tỷ lệ chết thấp hơn cộng đồng chung ở New South Wales là 24%; tuy
nhiên, tỷ lệ chết không phải do tai nạn giao thông lại vượt quá mức bình thường.
Hầu hết những tử vong này do tai nạn nghề nghiệp và được xác định chủ yếu
trong các mỏ than hầm lò [62].
Qua những trường hợp TNLĐ được đánh giá là nặng, tác giả Salminen
đánh giá nguy cơ TNLĐ cao nhất là trong ngành chế tạo, tiếp đến là ngành xây
dựng và cuối cùng là giao thông. Nạn nhân thường là làm việc năm đầu, tai nạn
điển hình là ngã cao, do máy móc và do phương tiện giao thông. Những chấn
thương phổ biến nhất là gẫy xương, cụt chi và chấn thương nội tạng [98].
Ở Phần Lan, tại các cơ sở sản xuất gỗ dán, đóng tàu, chế biến lâm sản, xây
dựng và bốc dỡ hàng hóa, môi trường làm việc an toàn được đánh giá thông qua
các phiếu câu hỏi. Kết quả thu được khẳng định môi trường làm việc an toàn
được xác định chủ yếu là do nhận thức của từng cá nhân về thói quen thực hành
an toàn lao động. Môi trường làm việc càng an toàn thì tần suất TNLĐ càng thấp
[102].
15
Nghiên cứu của Nag PK và Nag A về nguy cơ của nhiệt độ cao ảnh hưởng
đến TNLĐ (ngành dệt may với n = 4.125) và khả năng chịu nhiệt trong một ngày
luân phiên (sáng và chiều, n = 16) và người chuyên làm ca đêm (n = 13) trong
môi trường nóng - khô và nóng ẩm (nhiệt độ 31- 420C, độ ẩm 50 - 80%) cho
thấy: tỷ lệ tai nạn rất cao trong những tháng mùa hè (tháng 5 - tháng 6) khi mà
R và cộng sự đưa ra các kiến nghị về phương pháp phòng chống TNLĐ và cải
thiện tổ chức lao động cũng như sự cần thiết phải trang bị và sử dụng bảo hộ lao
động cá nhân [51].
Tác giả Agrawal OP nghiên cứu trên 270 công nhân nhà máy cán thép bị
bỏng cho thấy giáo dục đầy đủ về an toàn cho công nhân trẻ, chuyển nhanh bệnh
nhân đến bệnh viện, cơ sở chuyên ngành và cắt bỏ sớm những tổ chức tổn
thương có giảm tỷ lệ tử vong và di chứng [50]. Nghiên cứu của Cordeiro R ở
Brazil về nhận thức của người lao động về các yếu tố nguy cơ cho thấy mức độ
nhận thức của công nhân bị TNLĐ thấp hơn công nhân không bị TNLĐ [64].
Một can thiệp sử dụng quản lý y tế, tổ chức lại thiết bị và áp dụng kỹ thuật
ergonomic để kiểm soát chấn thương nơi sản xuất của các tác giả Lindvist KS,
Brodin H đã cho thấy sau khi can thiệp có sự giảm có ý nghĩa về chấn thương
(53/1.000 so với 27/1.000; P < 0,01) và ngày nghỉ việc/ca tai nạn (10,4 so với 6,6
; P
Số vụ
TT Địa phương
Số vụ chết
Số người bị
người
nạn
Số người bị
Số người chết
thương
nặng
1
Tp. Hồ Chí Minh
892
102
908
108
140
Bình Dương
185
27
207
27
25
5
Hải Phòng
231
19
243
25
46
6
Đồng Nai
14
83
15
6
9
Hải Dương
89
12
91
13
78
10
Quảng Bình
57
13
20,5 [9].
Tổng hợp số liệu thống kê TNLĐ thì những ngành nghề để xảy ra nhiều
TNLĐ nghiêm trọng trong năm 2010 vẫn là khai thác mỏ, xây dựng, lao động
giản đơn và thợ gia công kim loại, lắp ráp cơ khí[10].
Khai thác mỏ và xây dựng: 122 người chết chiếm tỷ lệ 20,3% trên tổng số
người chết vì TNLĐ. Lao động giản đơn (trong khai thác mỏ, xây dựng, công
nghiệp...): 115 người chết chiếm tỷ lệ 19,1% trên tổng số người chết vì TNLĐ.
Gia công kim loại, cơ khí: 41 người chết, chiếm tỷ lệ 6,8% trên tổng số người
20
chết vì TNLĐ. Lắp ráp và vận hành máy: 41 người chết, chiếm tỷ lệ 6,8% trên
tổng số người chết vì TNLĐ.
Những yếu tố chấn thương gây chết người có tỷ lệ cao: Rơi ngã có 134
người chết, chiếm tỷ lệ 22,3% trên tổng số người chết vì TNLĐ. Điện giật có 98
người chết, chiếm tỷ lệ 16,3% trên tổng số người chết vì TNLĐ. Do vật rơi, vùi
dập có 75 người chết, chiếm tỷ lệ 12,5% trên tổng số người chết vì TNLĐ. Mắc
kẹt giữa vật thể có 46 người chết, chiếm tỷ lệ 7,7% trên tổng số người chết vì
TNLĐ[10].
Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề, nông nghiệp chưa được các
cơ quan quản lý Nhà nước hướng dẫn đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
ATLĐ, chưa tổ chức huấn luyện ATLĐ, vệ sinh lao động cho người sử dụng lao
động và người lao động nên việc vi phạm các quy định về An toàn vệ sinh lao
động và nguy cơ TNLĐ và bệnh nghề nghiệp là rất lớn [5], [8], [9], [10].
Theo số liệu báo cáo của các địa phương, chi phí do TNLĐ xảy ra trong
năm 2010 (chi phí tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người
chết và những người bị thương, …) là 133,6 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 3,9 tỷ
đồng, tổng số ngày nghỉ (kể cả nghỉ chế độ) do TNLĐ là 75.454 ngày [9],[10].
63,1% đến 69,6%. Với môi trường lao động, các tác giả cho thấy tỷ lệ TNLĐ
tăng khi có tiếng ồn lớn (16,5%) so với ít tiếng ồn (6,5%); tỷ lệ TNLĐ tăng ở nơi
nhiệt độ cao (16,5%) so với nơi ít nóng (5,08%). Nơi nhiều khói bụi có tỷ lệ
22
TNLĐ cao hơn (25%), nơi ít khói bụi (20%). Về liên quan của việc sử dụng
trang bị bảo hộ lao động (BHLĐ), các tác giả cho rằng ở nơi có sử dụng trang bị
BHLĐ có tỷ lệ TNLĐ thấp hơn nơi không có trang bị BHLĐ (14,7%-15,6%) so
với (11,1% - 13,2%)[35].
Nguyễn Việt Đồng và CS trong nghiên cứu phân bố tai nạn lao động trong
ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và công nghiệp hóa chất cho biết tỷ lệ
TNLĐ là 4%. Thương tổn chủ yếu là vết thương phần mềm 55,5%; bỏng 18,3%;
gãy xương 7,5%. Một nghiên cứu khác của tác giả này về tình hình dịch tễ
TNLĐ ở một số cơ sở công nghiệp và đánh giá thực trạng sơ cấp cứu tại y tế xí
nghiệp, cho thấy tỷ lệ TNLĐ 16%0, tác nhân chủ yếu gây TNLĐ là do máy móc
53,3%; công cụ cầm tay 16,7%; do điện 3,3%. Vị trí thương tích ở bàn tay là cao
nhất 33,3%; bàn chân 30,0% và thấp nhất ở đầu, mặt, cổ chiếm 10,0%. Tai nạn
lao động có liên quan đến tuổi nghề: tuổi nghề (từ 0 - 9 năm) và tuổi nghề (20 29 năm) đều có tỷ lệ TNLĐ cao hơn các nhóm có tuổi nghề từ 10 -19 năm và
nhóm từ 30 - 49 năm (1,97%-2,07% so với 0,89% - 1,03%). Nhóm công nhân
không thường xuyên sử dụng trang bị BHLĐ cá nhân có tỷ lệ TNLĐ 5,84% cao
hơn nhóm không thường xuyên 0,46% [21].
Trong ngành khai thác khoáng sản, tác giả Đỗ Anh Tuấn nghiên cứu về
TNLĐ của 6 mỏ than ở Quảng Ninh, trong tổng số 17.535 công nhân cho thấy tỷ
lệ mắc TNLĐ 0,76%, trong đó công nhân mỏ lộ thiên là 0,25% và công nhân
hầm lò là 1,58%. Tai nạn thường xảy ra ở nhóm công nhân có bậc nghề thấp và
tuổi đời dưới 25. Nguyên nhân gây tai nạn ở mỏ lộ thiên: đồ vật rơi 24,6%; trượt
ngã 17%; đổ xe 17%; ở hầm lò: do đá, than rơi 39%; đồ vật rơi 21%; trượt ngã
15,4%. Vị trí chấn thương: đầu mặt cổ 24% ở mỏ lộ thiên và 15,4% ở mỏ hầm
24
TNLĐ của các ngành, cơ quan, đơn vị hoặc do việc chạy theo thành tích mà các
đơn vị không muốn báo cáo, đặc biệt là các trường hợp TNLĐ mức độ nhẹ.
Trong điều kiện hiện nay, các cơ sở sản xuất tư nhân thường không có hệ thống
báo cáo và qui định báo cáo TNLĐ cho các cơ quan chủ quản cũng như cho cơ
quan y tế nên con số thực tế TNLĐ có thể còn cao hơn nhiều [12].
1.2.3. Tai nạn lao động tại thành phố Hải Phòng.
Theo báo cáo của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hải Phòng ngày
16/11/2011, tình hình TNLĐ của thành phố năm 2010 và 9 tháng đầu năm 2011
không giảm, tăng cả số vụ và số người chết do TNLĐ. Tai nạn lao động tập
trung vào các ngành nghề như xây dựng, đóng tàu, vận chuyển bốc dỡ hàng hóa
tại cảng ... Nguyên nhân TNLĐ năm 2010, chủ yếu là do chấn thương (bị ngã
cao, vật rơi, đè ép) chiếm 63,2%; bỏng do cháy nổ: 15,8%; điện giật 15,8%.
Trong 9 tháng đầu năm 2011, nguyên nhân gây ra TNLĐ chủ yếu do chấn
thương chiếm 54,5%; điện giật 27,3%; cháy nổ 18,2%[10].
Một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu về tình hình TNLĐ tại Hải Phòng
và công bố kết quả như: Nghiên cứu về TNLĐ trong 5 năm (2000 - 2005) của
tác giả Tạ Quang Bửu tại thành phố Hải Phòng cho biết số vụ TNLĐ, hệ số K và
thiệt hại kinh tế qua các năm điều tăng. Số ngày nghỉ trung bình của một ca
TNLĐ là 14,5 ngày, chi phí trung bình từ 1,5 triệu đến hàng chục triệu đồng.
Nguyên nhân chủ yếu do vi phạm qui trình, qui phạm kỹ thuật an toàn 70%[17].
Nguyễn Thị Hà trong nghiên cứu “Đặc điểm thương tật do tai nạn lao
động của những trường hợp đến khám tại Hội đồng giám định y khoa thành phố
Hải Phòng năm 2009” cho biết trong tổng số người bị TNLĐ đến khám nam giới
chiếm 79,3%; nhóm tuổi từ 20 - 29 tuổi chiếm tỷ lệ TNLĐ cao nhất (30,3%);
25