i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số
liệu trong luận văn này hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa từng được tác
giả khác công bố trong bất kỳ công trình nào.
Hải Phòng, ngày 28 tháng 6 năm 2014
Trịnh Thị Tuyết
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học tập Chuyên khoa cấp II, chuyên ngành
Quản lý Y tế khóa V năm học 2011-2013 và luận văn này, tôi đã nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị, các thầy, các cô và bạn bè đồng
nghiệp.
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Y Dược Hải
Phòng, Phòng Quản lý Đào tạo sau Đại học, khoa Y tế công cộng, các bộ
môn, phòng ban và toàn thể các thầy, các cô đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi
trong suốt khóa học và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Đặc biệt tôi xin cảm ơn TTƯT-PGS. TS Đinh Văn Thức đã dành nhiều
thời gian, trí tuệ và tâm sức trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Y tế tỉnh Hải Dương, xã Việt Hồng, xã
Phượng Hoàng và thị trấn Thanh Hà huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương là nơi
triển khai nghiên cứu đã cho phép và tạo điều kiện về thời gian, hỗ trợ nhân
lực cho tôi trong suốt 02 năm triển khai nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
Hộ gia đình
NGOs
Non-governmental organization: Tổ chức phi chính phủ
OECD
Organization for Economic Co-operation and Development:
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TASC
The Alliance for Safe Children: Tổ chức liên minh vì sự an toàn trẻ em
TNTG
Tai nạn giao thông
TNTT
Tai nạn thương tích
TTS
Thuốc trừ sâu
TV
Trang
Đặt vấn đề
1
Chƣơng 1. Tổng quan
3
1.1. Một số khái niệm
5
1.2. Sơ lược lịch sử tai nạn thương tích ở trẻ em
7
1.3. Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em trong và ngoài nước
10
1.4. Một số nghiên cứu đánh giá hậu quả của tai nạn thương tích
15
Chƣơng 2. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
17
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
em tại huyện Thanh Hà - Hải Dương
3.2. Kiến thức, thực hành của người dân (người trực tiếp nuôi dưỡng
39
trẻ) về tai nạn thương tích ở trẻ em
Chƣơng 4. BÀN LUẬN
45
4.1. Tỷ lệ, nguyên nhân, yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ
45
em tại huyện Thanh Hà - Hải Dương
4.2. Kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống tai nạn
56
thương tích ở trẻ em tại huyện Thanh Hà - Hải Dương
Kết luận
59
Kiến nghị
61
Tài liệu tham khảo
29
Bảng 3.7. Loại tổn thương phần mềm do tai nạn thương tích gây ra.
29
Bảng 3.8. Vị trí tổn thương nội tạng do tai nạn thương tích gây ra.
30
Bảng 3.9. Nguyên nhân mắc TNTT giữa các khu vực
30
Bảng 3.10. Nguyên nhân mắc tai nạn do ngã giữa các khu vực.
31
Bảng 3.11. Loại phương tiên gây tai nạn giao thông
32
Bảng 3.12. Hoàn cảnh mắc tai nạn giao thông giữa các khu vực.
32
Bảng 3.13. Nguyên nhân gây bỏng
33
37
Bảng 3.22. Tỷ lệ tai nạn thương tích trẻ em theo khoảng thời gian trong
37
ngày
Bảng 3.23: Tỷ lệ tai nạn thương tích trẻ em theo các tháng trong năm
38
vi
Bảng 3.24. Tỷ lệ tai nạn thương tích liên quan đến nghề nghiệp của người
38
chăm sóc trẻ
Bảng 3.25. Người nuôi dưỡng trẻ kể được tên các loại tai nạn thương tích
39
ở trẻ em
Bảng 3.26. Kiến thức của người dân về hoàn cảnh xảy ra tai nạn thương
40
tích ở trẻ em
Bảng 3.27. Kiến thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích ở
Hình 3.3. Tỷ lệ TNTT theo nhóm tuổi
27
Hình 3.4.Tỷ lệ TNTT theo giới giữa các khu vực
28
Hình 3.5: Nguyên nhân mắc TNTT do ngã giữa các khu vực
31
Hình 3.6. Tỷ lệ chuyên môn của người tham gia sơ cứu
34
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai nạn thương tích là nguyên nhân gây tử vong và thương tật hàng đầu
ở trẻ em trên toàn thế giới, phòng chống thương tích ở trẻ em có liên quan
chặt chẽ đến các vấn đề sức khỏe trẻ em [62]. Giải quyết thương tích ở trẻ em
phải là bộ phận trung tâm để cải thiện tình hình tử vong, mắc bệnh em và sức
khỏe chung của trẻ [63].
Thương tích tuổi thơ là một vấn đề cộng đồng lớn yêu cầu phải có sự
quan tâm khẩn cấp. Thương tích là mối nguy hiểm đối với trẻ em trên toàn thế
giới, gây tử vong hơn 900.000 trẻ em và thiếu niên mỗi năm (WHO 2004)
[68]. Các thương tích không chủ ý chiếm gần 90%, là những nguyên nhân
tích cũng đang là những vấn đề rất đáng quan tâm, đặc biệt là ở trẻ em, tình
trạng chấn thương do tai nạn thương tích ở đối tượng này còn rất ít được đề cập
đến. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực
trạng, yếu tố liên quan và kiến thức thực hành của ngƣời dân về tai nạn
thƣơng tích ở trẻ em tại huyện Thanh Hà - Hải Dƣơng năm 2013”, với
mục tiêu:
1. Mô tả tỉ thực trạng, một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở
trẻ em tại huyện Thanh Hà - Hải Dương năm 2013.
2. Mô tả kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống tai nạn
thương tích ở trẻ em tại huyện Thanh Hà - Hải Dương năm 2013.
Từ kết quả nghiên cứu đưa ra các giải pháp thích hợp, nhằm góp phần
làm giảm hậu quả tai nạn thương tích của trẻ em trong cộng đồng là rất cần
thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN
Thương tích ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng ngày càng được
quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Đây là một lĩnh vực đáng lo ngại cho trẻ em
từ khi một tuổi, liên tục góp phần làm tăng tỉ lệ tử vong chung cho trẻ em đến
tuổi trưởng thành. Mỗi năm có đến hàng trăm nghìn trẻ em tử vong vì thương
tích hoặc bạo lực, hàng triệu trẻ em khác phải chịu hậu quả của các thương
tích không gây tử vong. Đối với mỗi lĩnh vực thương tích ở trẻ em, đã có
những biện pháp làm giảm khả năng xảy ra và mức độ nghiêm trọng do
thương tích gây ra đã được kiểm chứng, nhưng nhận thức về vấn đề này và
khả năng ngăn chặn nó, cũng như cam kết để thực hiện phòng ngừa thương
tích ở trẻ em, vẫn còn ở mức thấp không thể chấp nhận được. Những gì đã
được thực chứng là có hiệu quả trong việc làm giảm gánh nặng thương tích
bể bơi, quy định về nhiệt độ cho vòi nước nóng và chắn song cửa sổ... để định
rõ một số ít can thiệp.
Nghiên cứu có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng chống,
tuyên truyền, nghiên cứu trong việc chăm sóc và phục hồi chức năng của trẻ
em với các thương tật. Những ngành chủ chốt khác bao gồm giáo dục, giao
thông, môi trường và thực thi pháp luật.
Theo WHO các chương trình phòng chống bạo lực và thương tích ở trẻ
em cần được lồng ghép vào với sự sống còn của trẻ em và các chiến lược to
lớn khác tập trung vào việc cải thiện cuộc sống của trẻ em. Bằng chứng cho
những thành công ấn tượng trong công tác phòng chống thương tích ở trẻ em
tại các quốc gia vừa có một nỗ lực phối hợp[31].
Kết quả này ủng hộ cho việc tăng đầu tư về nguồn nhân lực và năng lực
thể chế. Điều này sẽ cho phép sự phát triển, thực hiện các chương trình để
5
ngăn chặn cơn triều dâng về thương tích ở trẻ em và tăng cường sức khỏe và
tình trạng hạnh phúc của trẻ em và gia đình.
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về tai nạn thƣơng tích
Tai nạn (Accident): Là sự kiện không chủ tâm, dẫn đến một thương
tích rõ ràng, phần lớn các tai nạn thương tích có thể phòng ngừa được.
Thương tích (Injury): Là sự tổn hại về thể chất xảy ra khi cơ thể con
người bất ngờ phải chịu một lực vượt quá ngưỡng chịu đựng về sinh lý - nếu
không thì là hậu quả của tình trạng thiếu một trong những yếu tố sống còn
như: ôxi, lực (nhiệt, hóa học hoặc bức xạ).
Tai nạn thƣơng tích là những thương tổn do: tai nạn giao thông, ngã,
tai nạn lao động, va chạm, điện giật dẫn đến bị vết thương chảy máu, bong
gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ, thủng nội tạng, chấn thương sọ
- Tai nạn giao thông là sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan
của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động
trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn giao
thông công cộng, …
- Ngã là những trường hợp chấn thương do bị ngã, rơi từ trên cao hoặc
ngã trên cùng một mặt bằng.
- Đuối nước là những trường hợp bị ngạt do chìm trong chất lỏng
nhưng không tử vong, cần đến chăm sóc y tế hoặc bị các biến chứng khác;
chết đuối là trường hợp tử vong trong vòng 24 giờ do bị chìm trong chất lỏng
(nước, xăng, dầu,…)
- Vật sắc/nhọn là những chấn thương do bị cắt, đâm bởi vật sắc
nhọn(dao, kéo,…)
- Ngộ độc là những trường hợp hít, ăn hoặc tiêm vào cơ thể các loại độc
tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cấp cần có sự chăm sóc y tế.
7
- Bỏng (do lửa, vật nóng, chất lỏng, hóa chất) là tổn thương một hoặc
nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa; các chấn
thương da do sự phản xạ cực tím hoặc phóng xạ, điện, hóa chất…
- Động vật, côn trùng cắn/tấn công là những trường hợp chấn thương
do động vật cắn, đốt, húc, đâm, bị tấn công bởi động vật, côn trùng.
- Vật cùn rơi/đè là những chấn thương do vật cùn va đập, rơi hoặc bay
vào người (cành cây, gạch, bóng) .
- Điện giật là những trường hợp chấn thương do tiếp xúc trực tiếp với
nguồn điện dẫn đến bị thương hoặc tử vong.
- Bom, mìn nổ là những chấn thương do các vụ nổ của đạn pháo, vũ khí
chưa nổ, mìn, pháo hoa, pháo nổ và các loại chất nổ khác
- Tự tử là trường hợp chấn thương, ngộ độc, hoặc ngạt … do chính nạn
Trước năm 1940, tai nạn thương tích chưa được quan tâm đến, vì giai
đoạn này các bệnh dịch hoành hành trên khắp thế giới, tử vong ở trẻ em chủ
yếu là do các bệnh, dịch gây ra. Vào khoảng giữa những năm 1940, tai nạn
thương tích bắt đầu nổi lên như là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em ở
hầu hết các nước Phương Tây và Mỹ.
Từ năm 1955 - 1970 các nghiên cứu về tai nạn thương tích ở trẻ em chủ
yếu tập trung vào các lĩnh vực cấp cứu chấn thương và chỉnh hình. Tầm quan
trọng của vấn đề tai nạn thương tích ở trẻ em đã được đánh dấu bởi đầu năm
1966 - khi Izant và Hubay kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng tới một số lớn
trẻ em đang bị giết hại và bị tàn tật do các tai nạn thương tích gây ra. Từ đó,
tai nạn thương tích ở trẻ em đã được quan tâm và nhìn nhận một cách đúng
mức hơn. Năm 1969 được đánh dấu như một bước ngoặt trong vấn đề nghiên
cứu tai nạn thương tích khi tờ báo "Accidental Death and Disability: The
Neglected Disease of Modern Society" được xuất bản tại Mỹ, dần dần đã làm
9
thay đổi nhận thức của các chuyên gia y tế trong lĩnh vực chấn thương, nhìn
nhận tai nạn thương tích như là một bệnh, dịch.
Năm 1972, hội phẫu thuật nhi đầu tiên được thành lập ở Mỹ, trong đó
có uỷ ban về chấn thương trẻ em. Những tiến bộ quan trọng nhất trong thời kỳ
này đó là từng bước hình thành, tổ chức mạng lưới cấp cứu chấn thương trẻ
em. Nhiều tiến bộ trong hồi sức, điều trị nội khoa đã góp phần làm cho hiệu
quả điều trị chấn thương trẻ em được tốt hơn; khái niệm giờ vàng ngọc trong
cấp cứu chấn thương được Cowley đưa ra, giúp các trung tâm cấp cứu chấn
thương chú ý nhiều đến vấn đề cấp cứu ban đầu ngoài viện và vấn đề vận
chuyển nạn nhân. Nửa đầu những năm 1980 là thời kỳ củng cố và phát triển
nhanh của ngành chấn thương trẻ em. Năm 1981, Viện nghiên cứu chấn
thương trẻ em Kiwanis đã được thành lập tại Boston Mỹ[46], [48].
thấy năm nguyên nhân thương tích hàng đầu gây tử vong là:
1. Tai nạn giao thông đường bộ giết chết 260.000 trẻ em mỗi năm và
làm bị thương 10 triệu trẻ em khác. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây thương
tật cho trẻ em.
2. Đuối nước: Hơn 175.000 trẻ em chết đuối mỗi năm, hơn 3 triệu trẻ
em khác sống sót được sau khi bị đuối nước. Do tổn thương não ở một số
trường hợp sống sót, đuối nước không tử vong gây tác động về kinh tế và sức
khỏe cao nhất so với bất kỳ loại thương tích nào.
3. Bỏng: Bỏng do lửa gây tử vong gần 96 000 trẻ em mỗi năm và tỷ lệ
tử vong tại các nước có thu nhập thấp và trung bình cao gấp 11 lần các nước
có thu nhập cao.
4. Ngã: Gần 47.000 trẻ tử vong do ngã mỗi năm, tuy nhiên còn có hàng
trăm nghìn trẻ em khác phải chịu thương tích với các mức độ khác nhau sau
khi bị ngã.
11
5. Ngộ độc: Hơn 45.000 trẻ em tử vong mỗi năm do ngộ độc không chủ
ý.
1.3.2. Tai nạn thƣơng tích ở các nƣớc đang phát triển
Theo thống kê của UNICEF, ở các nước đang phát triển ước tính mỗi
năm có khoảng 1 triệu trẻ em dưới 16 tuổi chết vì tai nạn thương tích, 98% tất
cả các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em trên thế giới là ở
các nước đang phát triển. Cứ 100.000 trẻ em sinh ra tại các nước đang phát
triển thì có hơn 1000 trẻ sẽ chết trước 15 tuổi do bị tai nạn thương tích. Riêng
TNGT mỗi năm giết chết khoảng 240.000 trẻ em, tương đương với 2 chiếc
máy bay phản lực cỡ lớn chở đầy trẻ em nổ tung trên bầu trời mỗi ngày[47].
10 nguyên nhân tử vong hàng đầu trên thế giới năm 2000 & 2011
Năm 2010
54,6
100
5,9
11.2
7,0
12,6
5,6
10.6
6,2
11,3
3,5
6,7
3,2
5,8
3,0
Lao
1,3
2,6
Lao
1,5
2,7
Tất cả các nguyên
nhân
Bệnh tim, thiếu máu
cục bộ
Đột quỵ
Nhiễm khuẩn hô hấp
cấp
Bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính
Tất cả các nguyên
nhân
Bệnh tim, thiếu
máu cục bộ
Đột quỵ
Nhiễm khuẩn hô
hấp cấp
2,5
Tai nạn giao thông
1,3
2,3
Đẻ non
1,2
2,1
quản, phế quản
1.3.3. Tình hình tai nạn thƣơng tích ở trẻ em Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển, tình hình kinh tế xã hội có
những bước phát triển mạnh mẽ, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên
các lĩnh vực thì trong nhiều năm trở lại đây, tình hình tai nạn thương tích nổi
lên như một gánh nặng bệnh tật và tử vong của quốc gia. Theo kết quả điều
tra chấn thương năm 2006 tỷ lệ tử vong do tai nạn thương tích lên tới 11%,
đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong. Đối với các tai nạn
thương tích không gây tử vong thì thương tích chấn thương chiếm 57%, trong
khi đó truyền nhiễm chiếm 23%, bệnh mạn tính 20%. Chỉ tính riêng tai nạn
giao thông năm 2010, theo số liệu thống kê của Bộ Y tế thì cả nước có 14.442
vụ tai nạn giao thông. Trong đó có 11.449 người chết và 10.633 người bị
thương.
Kết quả nghiên cứu của cục Y tế dự phòng cho biết bệnh nhân bị tai
nạn thương tích vào viện chiếm 31,97% tổng số thương tích vào viện. Tai nạn
năm 1997-1998 cho thấy tai nạn thương tích là nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong và tàn tật ở trẻ em và trẻ vị thành niên: 60% tử vong ở lứa tuổi 1- 15 là
do tai nạn thương tích, số trẻ em chết vì ngộ độc, chết đuối, bỏng cao hơn số
trẻ em chết do viêm não Nhật Bản, sốt xuất huyết và dịch tả, thương hàn[25].
Khi nói đến những nguyên nhân tử vong, chúng ta thường nghĩ nhiều
nhất là do bệnh tật. Nhưng theo phân tích nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em
Việt Nam qua điều tra UNICEF[43] cho thấy như sau:
14
Tỉ lệ tử vong do tai nạn thƣơng tích ở trẻ em Việt Nam
Loại TNTT
TL% TV của TNTT
TL % TSTV chung
Đuối nước
59
35
TNGT
15
9
tử vong do TNTT cao hơn nữ giới 3 lần. Nguyên nhân tử vong chính là
TNGT (17,91/100.00 dân), tiếp đến là đuối nước (7,12/100.00) và tự tử
(4,78/100.000). Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai sau tai
nạn giao thông, chiếm 10% tổng số tử vong nói chung. Đối với trẻ em và vị
thành niên dưới 19 tuổi, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Tỉ
suất tử vong do đuối nước cao nhất ở nhóm 0 - 4 tuổi với trung bình 19
trẻ/100.000 trẻ năm, trong đó trẻ nam có nguy cơ tử vong nhiều hơn trẻ nữ 1,4
lần[9], [13], [18].
15
1.4. Một số nghiên cứu đánh giá hậu quả của tai nạn thƣơng tích
Việc đánh giá hậu quả của tai nạn thương tích thông qua số liệu tử vong
thường đơn giản và dễ thực hiện vì các số liệu tử vong thường được ghi chép,
báo cáo đầy đủ và được quan tâm nhiều hơn, thế nhưng những tai nạn thương
tích không chết người như những tai nạn thương tích được điều trị trong bệnh
viện, những tai nạn thương tích điều trị tại các phòng khám cấp cứu, những tai
nạn thương tích điều trị thầy thuốc tư, hoặc tự điều trị tại nhà … hậu quả còn
lớn hơn nhiều so với số tử vong[2],[3],[7].
Để đánh giá mức độ trầm trọng của tai nạn thương tích không chết
người[45], hoặc có thể dựa vào thang chia mức độ nặng của tai nạn thương
tích mà Tepas và hội phẫu thuật ngoại nhi Trường Đại học Y khoa bang
Florida Hoa Kỳ đưa ra năm 1987 nhằm giúp việc đánh giá mức độ nặng của
tai nạn thương tích và tiên lượng bệnh nhân cho các thầy giáo lâm sàng và
tính toán mức độ thiệt hại về kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề áp dụng thang chia độ
này cho đến nay vẫn còn ít sử dụng ở các nước đang phát triển.
Tại Thái Lan, theo nghiên cứu của Tosutho và Suriyawongpaisal chi
phí do TNGT gây ra năm 1995 cho thấy: ước tính chi phí gián tiếp khoảng 15
tỉ bahts, tương đương 600 triệu USD; nếu tính cả các phí tổn trực tiếp như phí
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em từ 15 tuổi trở xuống[8].
* Các tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả trẻ em từ 15 tuổi trở xuống
- Tiêu chuẩn để đánh giá tai nạn thương tích: tai nạn gây thương tổn
cho cơ thể như: tai nạn giao thông, ngã, tai nạn lao động, va chạm, điện giật
dẫn đến bị thương tích: chảy máu, bong gân, phù nề xây xát, gãy xương, gãy
răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc,
tự tử, ... mà cần đến sự chăm sóc y tế, phải nghỉ học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế
sinh hoạt ít nhất 1 ngày.
* Tiêu chuẩn loại trừ: các tai nạn thương tích do thiên tai, thảm họa
như lũ lụt gây vỡ đê, động đất, núi lửa….
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01/9/2013 đến ngày 31/12/2013.
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại thị trấn Thanh Hà, xã Việt Hồng, xã
Phượng Hoàng, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Huyện Thanh Hà là một huyện nằm ở phía đông nam của tỉnh Hải
Dương. Huyện có diện tích: 159 km2, dân số: 152.492 người, có 24 xã và 01
thị trấn. Giao thông bộ có đường 390A chạy từ Ngã Ba Hàng (đường 5 cũ)
qua địa phận xã Tiền Tiến về thị trấn xuôi xuống cầu Gùa, kéo dài đến phà
Quang Thanh; đường 390B nối từ đường 5 (đầu cầu Lai Vu) qua các xã Hồng
Lạc, Việt Hồng, Cẩm Chế về thị trấn, hai con đường này là huyết mạch giao
thông của huyện, ngoài ra trong nội hạt còn có các con đường nhỏ liên huyện,
18
liên xã, liên thôn tạo thành hệ thống giao thông sinh hoạt, giao lưu kinh tế,
văn hoá của nhân dân.