nghiên cứu căn nguyên, các yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của viêm kẽ - Pdf 22

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Nguyễn Thị Mỹ Hà
NGHIÊN CỨU CĂN NGUYÊN
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM
SÀNG CỦA VIÊM KẼ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
HÀ NỘI - 2012
1
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Nguyễn Thị Mỹ Hà
NGHIÊN CỨU CĂN NGUYÊN
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
CỦA VIÊM KẼ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
HÀ NỘI - 2012
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Nguyễn Thị Mỹ Hà
NGHIÊN CỨU CĂN NGUYÊN
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
CỦA VIÊM KẼ

Chuyên ngành: Da Liễu
Mã số: CK 62723501
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BSCKII. TRẦN VĂN TIẾN
HÀ NỘI - 2012
2

trình học tập.
Xin cảm ơn những bệnh nhân đã đồng ý tham gia nghiên cứu và cho tôi
những bài học lâm sàng.
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi trong
học tập, công việc và cuộc sống.
Cuối cùng là lòng biết ơn vô hạn xin gửi tới cha mẹ, người đã sinh
thành, dưỡng dục và luôn là chỗ dựa tinh thần khi tôi gặp khó khăn. Cảm ơn
những người thân yêu trong gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong
cuộc sống và trongsuốt quá trình học tập.
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Nguyễn Thị Mỹ Hà
3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Hà
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm kẽ (Intertrigo) là tình trạng viêm ở vùng nếp gấp da, nơi có hai bề
mặt tiếp xúc nhau, một chứng bệnh hay gặp và có thể ảnh hưởng tới suốt cuộc
đời người bệnh. Trong điều kiện thời tiết nóng, độ ẩm cao, ngâm trong nước
lâu, quá trình cọ xát tại các nếp gấp da và sự thiếu lưu thông không khí sẽ tạo
cơ hội tốt cho các nhiễm trùng. Nguyên nhân viêm kẽ hay gặp là do nấm,
ngoài ra còn do các loại vi khuẩn và các nguyên nhân khác. Vị trí thường gặp
ở các vùng da như nếp lằn cổ, nách, bẹn, kẽ ngón tay, kẽ ngón chân, khoeo
chân, kẽ liên mông. Nhiều bệnh da có thương tổn viêm kẽ, trong những
trường hợp này, điều trị viêm kẽ phụ thuộc vào điều trị bệnh da chính.

1.1 Quan niệm về viêm kẽ
Viêm kẽ là tình trạng viêm xảy ra ở những vùng có nếp gấp của da, nơi
có hai bề mặt da tiếp xúc nhau. Viêm kẽ còn là một danh từ để gọi chung cho
các bệnh da có thương tổn viêm ở các nếp gấp của cơ thể. Trong điều kiện
thuận lợi có thể bị nhiễm trùng, hay gặp nhất là nhiễm nấm Candida, ngoài ra
còn nhiễm các loại vi khuẩn, virus khác [17], [21], [55].
Viêm kẽ thường xuất hiện ở các vùng kẽ nách, bẹn, nếp dưới vú, nếp gấp
ở da bụng, khoeo chân, khuỷu tay, kẽ ngón chân, v.v Đặc biệt, viêm kẽ
thường gặp ở những bệnh nhân có thể trạng béo, người bị tiểu đường, trẻ em
bụ bẫm [31], [35].
Viêm kẽ là một căn bệnh được biết tới từ thời cổ đại, được gọi là bệnh
trợt da do cọ xát (Chafing). Về sau được gọi là viêm kẽ (Intertrigo), theo ngôn
ngữ Lating có nghĩa:
Inter = ở giữa
Tri(trus) = hành động cọ xát
Igo = là hậu tố cho động từ Tri để tạo thành danh từ: sự cọ xát
Trước kia, người ta cố gắng hạn chế và điều trị bệnh viêm kẽ bằng cách
sử dụng các loại bột làm từ thảo dược. Ngày nay, người ta đã sử dụng kết hợp
các chất hóa học trong điều trị bệnh viêm kẽ [23].
1.2. Tình hình bệnh viêm kẽ
Địa lý: viêm kẽ là một bệnh phổ biến, có thể gặp ở bất cứ quốc gia nào
nhưng hay gặp hơn ở những khu vực có thời tiết nóng và độ ẩm cao [49].
Tuổi: bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, ở trẻ em biểu hiện bằng viêm da tã lót
[33], [61].
7
Chủng tộc: viêm kẽ không có sự khác nhau về chủng tộc, không có sự
khác nhau về giới hoặc khác nhau về giải phẫu [28].
Nghề nghiệp: viêm kẽ thường xuất hiện ở những người làm ruộng, nội
trợ, người giúp việc gia đình, làm công việc giặt giũ và những công việc khác
mà người bệnh phải thường xuyên tiếp xúc với nước và tình trạng vệ sinh

làm bệnh phát triển là thời tiết nóng, ẩm, các ngón chân khít vào nhau hoặc
người bệnh hay đi những đôi giày chật. Tập thể dục thể thao quá mức và sử
dụng xà phòng chứa chất tẩy mạnh. Có hai căn nguyên gây bệnh phổ biến là
Preudomonas aeruginosa và Proteus mirabilis. Nghiên cứu này cũng nêu ra
những khó khăn trong điều trị viêm kẽ do vi khuẩn. Hai dòng kháng sinh
Cephalosporin thế hệ 3 và Ciprofloxacin đã mang lại hịệu quả tốt hơn trong
điều trị viêm kẽ do vi khuẩn Gr (-).
Tác giả Jing-Yi Lin , Yi-Ling Shih và Hsin-Chun Ho đã nghiên cứu 17
trường hợp viêm kẽ ngón chân trong vòng 5 năm từ 2004 - 2009, những
trường hợp này điều trị bằng thuốc kháng nấm hay thuốc chữa chàm đều
không có kết quả . Nhóm tác giả đã thực hiện nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng
sinh đồ. Kết quả nuôi cấy phát hiện thấy vi khuẩn Gram âm: Pseudomonas
aeruginosa, Enterococcus facealis, Enterococcus faecalis. Sau 1-2 tuần điều
trị bằng kháng sinh và thuốc bôi tại chỗ, tất cả các bệnh nhân đều giảm triệu
chứng đau, ngứa rõ rệt, tình trạng viêm giảm rõ và hết trợt da. Thuốc bôi được
sử dụng trong điều trị là: kem Gentamycin, dung dịch Povidone iodine.
Kháng sinh uống được sử dụng là Penixillin, Oxacillin, Ampixillin,
Sunfamethoxazole-Trimethoprin, Cephalosporin, Ciprofloxacin và
Gentamycin [37].
Nghiên cứu của Divia Monnappa và cộng sự năm 2009 tiến hành trên
100 bệnh nhân bị viêm kẽ tại Ấn Độ cho thấy đa số các trường hợp xảy ra ở
nhóm tuổi từ 21-30 tuổi, tỉ lệ nam, nữ không có sự khác biệt, gặp nhiều hơn ở
người làm công việc nội trợ. Nghiên cứu này cũng chỉ ra căn nguyên phổ biến
nhất là do nấm sợi chiếm tỷ lệ 31%, do viêm da tiếp xúc chiếm 25%, do vi
9
khuẩn là 13%, ngoài ra còn do các nguyên nhân khác như Pemphigus
Vegetant, bệnh Bowen Tỷ lệ bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường trong các
trường hợp viêm kẽ là 13% [26].
Việt Nam là nước khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm nên bệnh viêm kẽ khá phổ
biến. Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về tỷ lệ bệnh viêm kẽ

nhưng lại có mối liên quan làm tỷ lệ mắc bệnh cao hơn, các yếu tố nguy cơ
thường thấy là:
Thể trạng béo: một người trở nên béo hơn, tức là người đó xuất hiện
nhiều vùng có nếp da trên cơ thể hơn, các nếp gấp cũng sâu hơn, tăng sự cọ
sát giữa các vùng da như vùng dưới vú, cằm và những vùng da bụng bị gập
nếp.
Bệnh nhân tiểu đường: tỷ lệ bị viêm kẽ cao hơn ở những người bị bệnh
tiểu đường.
Môi trường sống nóng và độ ẩm cao dẫn tới hậu quả là người bệnh ra
nhiều mồ hôi làm độ ẩm của cơ thể cao.
Điều kiện làm việc vất vả, mất vệ sinh, hoạt động thể thao quá mức.
Sự kích ứng da do mồ hôi, nước tiểu, phân, dịch sinh dục.
Người bệnh nằm lâu tại chỗ, người mang những thiết bị y tế trên người
như, bó bột, đóng bỉm thường xuyên.
Đi giày dép và mặc quần áo quá chật [46].
1.4. Triệu chứng lâm sàng
Da ở các kẽ bị tổn thương có màu đỏ, mức độ khác nhau phụ thuộc vào
giai đoạn tiến triển của bệnh, ranh giới rõ, ẩm, có thể trợt, có vảy hoặc có mủ.
Khởi đầu dát đỏ có hình bán nguyệt, ranh giới rõ, sau lan rộng dần ra
xung quanh.
Vị trí: kẽ nách, bẹn, nếp gấp cổ, kẽ dưới vú (phụ nữ), kheo chân, mặt
trước khuỷu tay, nếp lằn bụng (ở người béo), kẽ mông, kẽ ngón chân, kẽ sau
tai…[45], [60].
Triệu chứng cơ năng: ngứa, rát, đau.
11
Viêm da tã lót ở trẻ em: triệu chứng viêm xảy ra sau khi trẻ mang tã
giấy (đóng bỉm hàng ngày). Thường xuất hiện ở bẹn, kẽ mông, mông và vùng
sinh dục. Biểu hiện lâm sàng là: da đỏ, ướt, trợt, trẻ ngứa đau, quấy khóc [52],
[59].
1.5. Chẩn đoán nguyên nhân viêm kẽ

Viêm kẽ do Candida hay gặp ở trẻ em, người béo, ra mồ hôi nhiều. Vị
trí ở bẹn, kẽ mông, nếp dưới vú, rốn Thương tổn là đám dát đỏ, trợt, láng
bóng, ranh giới rõ, có viền róc da ở ngoại vi, ngứa nhiều, có thể có cảm giác
rát bỏng. Có khi bên cạnh thấy những mụn mủ nhỏ mầu trắng đục [4].
Candida có thể gây viêm kẽ ở các vị trí sau:
+ Tại các kẽ ngón chân: người hay đi ủng, giày ,dép chật.
+ Kẽ ngón tay: thường xuất hiện do thời tiết nóng ở những người tay
thường xuyên bị ẩm như người làm ruộng, vườn hoặc nội trợ. Biểu hiện: da
ẩm, trắng, bong vảy và ngứa.
+ Nếp da dưới vú, nách hoặc kẽ liên mông thường khởi đầu với biểu
hiện tấy đỏ, khó chịu và có thể kèm bong da. Các nếp da ẩm bị nứt và loét.
Thường có kèm theo các dát đỏ tươi, có kích thước khoảng 2-3 mm ở vùng da
xung quanh.
+ Viêm da tã lót: có thể bị nhiễm khuẩn thứ phát do Candida, nhất là ở
bệnh nhân đang điều trị bằng kháng sinh phổ rộng hoặc corticoid.
+ Viêm âm hộ, âm đạo do Candida: khám lâm sàng thấy đỏ ở vùng
niêm mạc âm hộ và âm đạo với các mảng trắng vón cục trong khí hư. Ban đỏ
có thể lan tới vùng đáy chậu và bẹn, kèm theo các nốt đỏ tại các vùng da xung
quanh.
+ Kẽ mép: hay gặp ở những bệnh nhân cao tuổi từ các các viết loét và
nứt tại khóe miệng bị nhiễm Candida thứ phát.
Xét nghiệm:
Soi tươi với KOH là phương pháp đơn giản và hiệu quả trong chẩn
đoán.
Nuôi cấy bệnh phẩm lấy từ thương tổn giúp chẩn đoán.
13
1.5.1.2. Nấm sợi (dermatophytosis)
Bệnh nấm sợi bao gồm các bệnh nấm ở lông, tóc, móng và da người.
Có 3 giống thường gây bệnh là Trichophyton, Microsporum và
Epidermophyton [11], [32].

14
ngực, tay thì độ pH dao động từ 4,5-5,9. Vùng bẹn, nách có pH từ 6,0-6,8.
Trong khi đó nấm phát triển thuận lợi ở độ pH 5,9 - 7,2. Do vậy, nấm dễ dàng
phát triển ở vùng bẹn, nách. Ngoài ra, pH da còn thay đổi theo độ tuổi, tuổi
nhỏ thì pH da acid hơn, còn tuổi thanh thiếu niên thì pH kiềm hơn, dao động
trong khoảng 6,1 - 6,4 [10].
Nhiệt độ và độ ẩm: hầu hết các nấm gây bệnh đều phát triển tốt trong
điều kiện nhiệt độ từ 25-30
o
C và độ ẩm trên 70%.
*Nấm kẽ ngón chân:
Nấm kẽ ngón chân là một dạng của nấm bàn chân (tinea pedis). Ba
chủng nấm có thể gây bệnh ở bàn chân là Trichophyton, Epidermophyton và
Microsporum.
Nấm kẽ chân là dạng hay gặp nhất và thường gây thương tổn ở kẽ ngón
3 và 4, có thể lan ra mặt dưới ngón chân. Bệnh nhân thường có cảm giác
ngứa, nóng rát và có mùi hôi [41]. Có hai thể lâm sàng khác nhau:
+ Thể không triệu chứng với biểu hiện da vùng kẽ ngón khô, ít bong
vảy. Bệnh nhân thường không có triệu chứng gì đặc biệt ngoài triệu chứng
ngứa.
+ Thể có triệu chứng với biểu hiện kẽ ngón chân ẩm ướt, nứt kẽ, có thể
có tiết dịch, da mủn, trắng, ngứa, dày sừng hoặc trợt.
Nấm kẽ ngón chân cần phải phân biệt với Erythrasma, chốc, viêm kẽ do
Candida và nhiễm trực khuẩn mủ xanh, chẩn đoán phân biệt căn cứ vào đặc
điểm lâm sàng, nhuộm gram và nuôi cấy.
Cận lâm sàng:
Soi tươi: Dùng dao cùn lấy vảy da từ rìa thương tổn đặt lên lam kính.
Nhỏ một đến hai giọt dung dịch KOH 10% lên lam, hơ nóng nhẹ qua ngọn lửa
đèn cồn. Quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 10 và 40, thấy hình ảnh sợi
nấm hay đoạn sợi nấm có thành tế bào đậm, bào tương đục, dày, mềm mại.

Tụ cầu gồm 13 loài, trong đó có 3 loài có vai trò quan trọng trong y học
là:
S. aureus (tụ cầu vàng).
S. epidermidis (tụ cầu da).
S. saprophyticus.
Tụ cầu là những cầu khuẩn có đường kính 0,8-1,0 µm và đứng thành
hình chùm nho, bắt màu Gram dương, không có lông, không có nha bào,
thường không có vỏ.
16
Tụ cầu vàng xâm nhập qua lỗ chân lông, chân tóc hoặc các tuyến dưới
da gây viêm da. Phản ứng của cơ thể với tụ cầu sinh mủ gây mụn nhọt, áp xe,
hậu bối… Nhiễm tụ cầu ngoài da thường gặp ở trẻ em và người suy giảm
miễn dịch.
Tụ cầu da (S. epidermidis) ký sinh trên da và lỗ mũi của người bình
thường, khoẻ mạnh. Khi cơ thể suy giảm miễn dịch sẽ gây nhiễm khuẩn da.
Sự kháng kháng sinh của tụ cầu vàng là đặc điểm rất đáng chú ý. Nó
kháng lại penicillin G, một số kháng lại methicillin, một số rất ít còn đề kháng
được với cephalosporin các thế hệ. Kháng sinh được dùng trong các trường
hợp này là vancomycin [5].
*Liên cầu (Streptococci):
Liên cầu là những cầu khuẩn bắt màu Gram dương, xếp thành chuỗi dài
ngắn khác nhau, không di động, đôi khi có vỏ, đường kính 0,6-1,0 µm. Liên
cầu nhóm A là nhóm liên cầu gây bệnh quan trọng nhất ở người. Tùy từng týp
huyết thanh mà gây nên các thể lâm sàng khác nhau như chốc, viêm quầng,
nhiễm khuẩn các vết thương…
Hiện nay kháng sinh nhóm Betalactamin vẫn là nhóm được lựa chọn để
điều trị nhiễm liên cầu.
*Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa)
Trực khuẩn mủ xanh là trực khuẩn Gram âm, thẳng hoặc hơi cong
nhưng không xoắn, hai đầu tròn. Kích thước từ 0,5-1,0 µm và 1,5-5,0 µm.

lớn và người lớn là các sẩn, mảng da dày, lichen hoá, rất ngứa. Đặc biệt là
bệnh thường liên quan đến yếu tố cơ địa, tiền sử bị các bệnh dị ứng [9], [29].
Triệu chứng lâm sàng
- Viêm da cơ địa ở trẻ < 2 tuổi: thương tổn là các mụn nước tập trung
thành từng đám tiến triển qua các giai đoạn: giai đoạn tấy đỏ, giai đoạn mụn
nước, giai đoạn xuất tiết, giai đoạn đóng vảy, giai đoạn bong vảy da.
18
Vị trí hay gặp ở má, trán, cằm. Có thể lan ra tay, chân, lưng, bụng.
Thương tổn có tính chất đối xứng.
- Viêm da cơ địa ở trẻ em từ 2-12 tuổi: thương tổn là các sẩn nổi cao
hơn mặt da tập trung thành mảng hoặc rải rác. Da dày, lichen hoá. Có thể gặp
các mụn nước tập trung thành đám.
Vị trí: ở mặt duỗi hay nếp gấp như khuỷu tay, khoeo chân, cổ tay, mi
mắt, thương tổn ở 2 bên hoặc đối xứng.
- Viêm da cơ địa ở thanh thiếu niên và người lớn: thương tổn là sẩn nổi
cao hơn mặt da, rải rác hoặc tập trung thành đám có thể có một số mụn nước,
kèm theo những vết xước do gãi.
Vị trí hay gặp ở các nếp gấp như khoeo chân, khuỷu tay, cổ tay, vùng
hậu môn sinh dục…
Triệu chứng cơ năng: rất ngứa.
Tiến triển
Bệnh tiến triển dai dẳng thành từng đợt cấp tính, mạn tính và có liên
quan tới nhiều yếu tố như thức ăn, nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm trùng tại
chỗ, khí hậu. Có thể gây biến chứng như bội nhiễm, chàm chốc hoá, có thể
dẫn tới viêm cầu thận cấp.
Chẩn đoán
Dựa theo bộ tiêu chuẩn chẩn đoán của các nhà da liễu Anh hoặc bộ tiêu
chuẩn chẩn đoán của Mỹ. Các tiêu chuẩn chẩn đoán chủ yếu dựa vào triệu
chứng lâm sàng.
Điều trị

tất xuất hiện thương tổn ở mu chân, ở đùi và kheo chân.
Da: găng tay, giầy, dép, mũ, dây đồng hồ (chẩt thuộc da, keo dán, chất
nhuộm cũng gây viêm da tiếp xúc).
20
Cao su: dây chun quần áo, quần áo lót, găng nội trợ, găng nghề nghiệp,
ủng, mặt nạ,… đều có thể gây viêm da tiếp xúc do có cao su.
Kim loại: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn, khoá, thắt lưng, khuy
kim loại, móc quần áo, đồng hồ, gọng kính, có chứa các kim loại crom, nikel,
cobal. Trong đó viêm da tiếp xúc do nikel là hay gặp nhất .
Mỹ phẩm gây viêm da tiếp xúc tại vùng được bôi .
Thuốc: một số thuốc bôi ngoài da gây viêm da tiếp xúc như thuốc điều
trị bạch biến Meladdinin…
Viêm da tiếp xúc do xi măng, vôi, keo dán, xăng dầu gặp ở những
người công nhân xây dựng, công nhân ngành xăng dầu, thợ mộc.
Do côn trùng: kiến khoang là loại côn trùng gây viêm da tiếp xúc.
Triệu chứng
Thương tổn chủ yếu là đỏ da, bong vảy, đôi khi mụn nước, bọng nước,
sẩn hay mụn mủ, xuất hiện vài giờ sau khi tiếp xúc.
Triệu chứng cơ năng: ngứa, rát. Khác với viêm kẽ do vi khuẩn, trong
viêm da tiếp xúc mức độ ngứa nặng hơn [6].
Vị trí hay gặp đối với một số yếu tố gây viêm da tiếp xúc:
Ở nách hay gặp do chất khử mùi, chất tẩy, chất liệu vải.
Quanh hậu môn thường do dị ứng với viên đặt, băng vệ sinh, bỉm…
Cổ có thể do nước hoa, dây chuyền, vòng cổ, khăn quàng, kem dưỡng
da …
Kẽ sau tai do gọng kính.
Kẽ bẹn: do quần lót, băng vệ sinh
Điều trị
Tại chỗ: hồ nước, cream corticoid. Nếu có mủ dùng dung dịch Milian,
Toàn thân: kháng histamin tổng hợp, vitamin C.

cả nam và nữ đều có thể bị tổn thương.
Triệu cứng cơ năng: ngứa, rát.
22
Viêm da dầu có thể biến chứng dẫn đến đỏ da toàn thân. Mức độ và tiến
triển của bệnh có thể khác nhau, hầu hết tiến triển mãn tính và hay tái phát.
Chẩn đoán viêm da dầu chủ yếu dựa vào lâm sàng: thương tổn cơ bản
là dát đỏ ranh giới không rõ, trên có vảy da bóng mỡ mầu vàng. Vị trí chủ yếu
ở da đầu, sau tai, ống tai ngoài, rãnh mũi má, bờ mi, vùng trước xương ức,
vùng liên bả, các vùng kẽ như: nách, dưới vú, rốn, bẹn, liên mông.
Điều trị:
Dựa vào các kết quả nghiên cứu bệnh sinh của viêm da dầu người ta đã
sử dụng một hay nhiều loại thuốc khác nhau để điều trị. Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có một thuốc nào điều trị thực sự đặc hiệu cho bệnh viêm da dầu.
Trên cơ sở xét nghiệm thấy tại thương tổn viêm da dầu có Malassezia, người
ta cho rằng chúng có vai trò trong cơ chế sinh bệnh. Vì vậy, đã dùng các
thuốc chống nấm bôi tại vùng thương tổn hoặc dùng đường uống, corticoid
dạng bôi.
1.5.6. Vảy nến
Vảy nến là bệnh mãn tính, tiến triển từng đợt, dai dẳng suốt đời. Bệnh
thường gặp ở Việt Nam và các nước trên thể giới. Căn nguyên của bệnh vảy
nến chưa rõ, nhiều tác giả cho rằng vảy nến là bệnh do rối loạn miễn dịch và có
yếu tố di truyền [14].
Triệu chứng lâm sàng:
Vảy nến là một bệnh da có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, ngoài thương
tổn da còn có thương tổn niêm mạc, móng, khớp. Có nhiều thể lâm sàng khác
nhau. Phổ biến nhất là vảy nến thể thông thường. Ngoài ra còn một số thể vảy
nến khác ít gặp hơn.
Thương tổn da đặc trưng của bệnh có đặc điểm: dát đỏ ranh giới rõ với
da lành, bề mặt có nhiều vảy trắng dễ bong, khi cạo vảy theo phương pháp
Brocq thì thấy các dấu hiệu vết nến, màng bong, hạt sương máu.

một hoặc nhiều khâu trong cơ chế bệnh sinh của vảy nến:
Ức chế miễn dịch: methotrexat, cyclosporin .
Điều hoà quá trình phân bào và biệt hoá của tế bào Keratin: retinoid,
calcipotriol .
Chế phẩm sinh học có khả năng ức chế miễn dịch có chọn lọc như
Secukinumab, Remicade.
1.5.7. Viêm da tã lót
Viêm da tã lót là bệnh gây ra do tiếp xúc trực tiếp với tã lót (thường là tã
giấy) với các triệu chứng xuất hiện trong vùng da tiếp xúc với tã lót. Bệnh do
trẻ mặc tã giấy thường xuyên, nhất là những trẻ mặc tã giấy 24/24 giờ. Mặc tã
giấy khiến cho các vùng da ở kẽ bẹn, kẽ mông trở nên không khô thoáng,
thêm vào đó do nước tiểu ứ đọng là nguyên nhân gây tổn thương bề mặt da.
Đây cũng là điều kiện giúp cho vi khuẩn và nấm xâm nhập gây bệnh [34].
Viêm da tã lót thường phổ biến ở trẻ sơ sinh, một nghiên cứu đã chỉ ra
rằng bệnh viêm da tã lót ảnh hưởng tới 7-35% tổng số trẻ sơ sinh nhưng viêm
da tã lót cũng có thể ảnh hưởng tới những trẻ em khác có sử dụng tã lót,
những người cao tuổi bị bệnh phải mặc những tã lót đặc thù cho người già.
Sự có mặt của nấm Candida albicans cũng là một trong các yếu tố gây
nên viêm da tã lót. Bệnh thường được phát hiện bởi ban đỏ tại vùng tiếp xúc
xung quanh vùng hậu môn ở hầu hết trẻ em.
Cơ địa dị ứng hay thiếu dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch cũng làm phát
triển bệnh.
Triệu chứng lâm sàng:
Bệnh biểu hiện ban đỏ, trợt da, nứt da, có thể có mụn nước. Vùng
thương tổn có thể dày đặc, thành mảng rộng từ khu vực rốn xuống vùng sinh
dục, đáy chậu và mông. Trẻ xuất hiện những triệu chứng như quấy khóc, ngủ
không yên giấc, ngứa, đau do vùng da bị viêm.
25

Trích đoạn Đánh giá hiệu quả điều trị viêm kẽ do vi khuẩn bằng kháng sinh Hiệu quả điều trị viêm kẽ do vi khuẩn bằng kháng sinh Xác định các đặc điểm lâm sàng của viêm kẽ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status