Tỷ lệ và một số yếu tố liên quan tới giảm 25(OH)D3 ở trẻ từ 2 tháng đến 3 tuổi mắc viêm phổi tại khoa hô hấp bệnh viện trẻ em hải phòng năm 2012 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu vitamin D là bệnh phổ biến ở trẻ em (Vitamin D có thành phần
chính là vitamin D3, tức 25(OH)D3). Theo Arabi A và CS [13] thiếu vitamin D
là bệnh phổ biến ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ mắc bệnh tùy từng vùng
lãnh thổ, thay đổi từ 30 - 90%. Trung Quốc và Mông Cổ là hai quốc gia có tỷ
lệ bệnh cao (50%). Thiếu vitamin D cũng rất phổ biến ở vùng cận Shahara,
Trung Cận Đông và Châu Mỹ La Tinh. Theo Delvin EE và CS [20] có 93%
thanh niên ở Canada có nồng độ vitamin D không lý tưởng. Peterlik M và CS
[39] xem xét số liệu từ 46 nghiên cứu ở châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á và
Nam Thái Bình Dương thấy rằng 30 - 80% dân số có nồng độ vitamin D thấp.
Theo Mithal A và CS [36], thiếu vitamin D cũng lưu hành phổ biến ở Nam Á
và Trung Cận Đông. Kết quả nghiên cứu của Fisher PR và CS [21] cho thấy
hiện nay có một tỷ lệ lớn trẻ em ở các nước đang phát triển thiếu vitamin D và
canxi. Theo Kumar J và CS [27] có 9% trẻ em Mỹ thiếu vitamin D trong giai
đoạn 2001 - 2004.
Hậu quả của thiếu vitamin D ở trẻ em là bệnh còi xương. Trẻ mắc bệnh
còi xương nếu không được điều trị sẽ để lại hậu quả mềm xương, gãy xương
và dị dạng xương [31], chân vòng kiềng, đi khom, đau khớp, hay gãy xương
và co giật [11], [38].
Thiếu hụt vitamin D còn gây hậu quả nguy hiểm khác như tiểu đường,
cao huyết áp, bệnh tim mạch, ung thư. Thiếu hụt vitamin D, theo Pilz S và CS
[40] còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh, nguy cơ tử vong hay chết đột tử.
Theo Al - Atawi MS và CS [12], Delvin EE và CS [20], Mertens PR và
CS [35], Tezer H và CS [50], Williams B và CS [52], ngoài các tác dụng kinh


2

điển của vitamin D đến sự phát triển hệ xương, vitamin D còn có tác dụng


TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số hiểu biết về vitamin D
1.1.1. Nguồn gốc vitamin D
Vitamin D là một vitamin tan trong dầu, hiện nay vitamin D có một số
dạng như sau:
Vitamin D1: Phân tử của hợp chất ergocalciferol và lumisterol tỷ lệ 1:1
Vitamin D2: Ergocalciferol
Vitamin D3: Cholescalciferol
Vitamin D4: Dihydroergocalciferol
Vitamin D5: Sitocalciferol
Trong đó có 2 hình thức chủ yếu của vitamin D là Vitamin D2 và
Vitamin D3. Vitamin D có hai nguồn vitamin D là ngoại sinh và nội sinh:
Ngoại sinh: Thức ăn cung cấp vitamin rất ít, khoảng 20 - 40 đv/ngày
(10 đv/lít sữa bò và < 50 đv/lít sữa mẹ). Dầu cá giầu vitamin D, vitamin D
được hấp thu ở hỗng và hồi tràng nhờ vai trò của mật.
Nội sinh: Nguồn chủ yếu, dưới ảnh hưởng của tia cực tím với bước
sóng 290 - 315 nm, vitamin D (cholecalciferol) được tổng hợp từ 7 dehydrocholesterol xảy ra ở da. Mức độ tổng hợp rất khác nhau tuỳ thuộc vào
khí hậu, mức độ nhiễm không khí, mức độ chiếu nắng mặt trời và sắc tố da
như khí hậu mùa đông, nhiều sương mù thì mức độ tổng hợp vitamin D sẽ
kém hơn trong mùa h , nơi có nhiều ánh nắng mặt trời,v.v... [2], [7], [9].


4

1.1.2. Cơ chế tổng hợp vitamin D
Trong da, dưới tác dụng của tia
cực tím 7- dehydrocholesterol là một
dẫn chất của cholesterl phản ứng
quang phân tạo sản phẩm tiền

Vitamin D và chất chuyển hóa của nó được bài tiết chủ yếu qua mật vào
ruột và được tái hấp thu tại ruột. Có khoảng 35 chất là chất chuyển hóa của


5

vitamin D đã được xác định, các chất chuyển hóa có thể là sản phẩm thoái hóa
của vitamin D. Hầu hết quá trình hydroxy hóa xảy ra ở vị trí C 23, C24 và C26.
Sự nối tiếp chuyển hóa gây nên sự khử hoạt tính sinh học của 1, 25(OH)2D
tạo ra sản phẩm cuối cùng là 1 - α - hydroxyvitaminD - 23 carboxylic axid tan
trong nước không có hoạt tính sinh học.
Điều hòa quá trình tổng hợp 25(OH)D và 1, 25(OH)2D theo cơ chế điều
hòa ngược, yếu tố điều hòa chính là nồng độ của nó. Ngoài ra khi Canxi máu
giảm, tuyến cận giáp tăng sản xuất PTH kích thích hoạt tính CYP27B1 làm
tăng tổng hợp 1, 25(OH)2D ở thận tăng hấp thu Canxi ở ruột, huy động Canxi
ở xương và ngược lại. Mặt khác giảm phospho máu cũng sẽ kích thích hoạt
tính enzym CYP27B1. Một số hormon như prolactin, GH, oestrogen, insulin
và calcitonin cũng kích thích tổng hợp 1, 25(OH)2D [2], [9], [24].

1, 25(OH)2D cũng ảnh hưởng đến chuyển hóa 25(OH)D ở thận bằng
cách giảm hoạt động CYP27B1 và tăng chuyển hóa 24, 25(OH)2D, 24,
25(OH)2D là chất chuyển hóa lưu hành của 25(OH)D ở thận dưới xúc tác của


6

CYP27B1 chuyển thành 1, 24, 25(OH)3D. 1, 25(OH)2D cũng là cơ chất cho
24 hydroxylase để chuyển thành 1, 24, 25(OH)3D. Chất này ít có hiệu lực sinh
học so với 1, 25(OH)2D.
Sự bài tiết của vitamin D: Vitamin D và chất chuyển hóa của nó được

vitamin D được biết đến là tăng hấp thu vận chuyển canxi, phospho từ ruột và
từ thận vào máu dẫn đến việc duy trì canxi, phospho máu cùng với sự tham
gia của hormon tuyến cận giáp và calcitonin duy trì và phát triển xương. Tại
ruột: tăng tổng hợp protein vận chuyển canxi, tăng tổng hợp enzym Ca++ ATPase để tăng vận chuyển canxi vào bào tương, thiếu vitamin D gây ngừng
hấp thu canxi tích cực đặt cơ thể vào tình trạng cân bằng canxi âm tính gây rối
loạn sự khoáng hóa xương, gây còi xương hoặc loãng xương. Tại xương: 1,
25(OH)2D tăng vận Ca2+ qua màng xương vào mô xương, tăng hiện tượng
canxi hóa. Thiếu hụt vitamin D vẫn còn phổ biến ở trẻ em, người lớn và trong
bào thai ước tính trên thế giới có khoảng 1 tỷ người thiếu vitamin D. Thiếu
vitamin D gây chậm phát triển chiều cao, gây biến dạng xương và tăng nguy
cơ gẫy xương hông sau này. Thiếu vitamin D ở người lớn có thể gây kết tủa
mọc thêm xương và gây loãng xương, loãng xương gây yếu cơ và làm tăng
nguy cơ gẫy xương. Với việc phát hiện ra rằng hầu hết các mô và tế bào trong
cơ thể đều có thụ thể VDR và có hệ thống enzym để chuyển hình thức lưu
thông chính của vitamin D là 25(OH)D sang hình thức hoạt động 1,
25(OH)2D đã cung cấp cái nhìn mới, sâu sắc vào các chức năng của vitamin
này đối với những bệnh tật, là thách thức của y học hiện đại, đó là giảm nguy
cơ mắc ung thư, các bệnh tự miễn, các bệnh nhiễm trùng, tăng huyết áp và các
bệnh tim mạch. Năm 2007 tạp chí Times đã trích dẫn những lợi ích của
vitamin D trong danh sách “Tốp 10 đột phá y tế” với việc khám phá ra rằng
vitamin D điều chỉnh hoạt động của gene mã hóa cho peptid kháng khuẩn,
mặc dù nghiên cứu sâu rộng đã được thực hiện trên vitamin D, các cơ chế


8

phân tử, tế bào chịu trách nhiệm về vai trò của nó chưa được làm sáng tỏ [2],
[9].
1.1.4. Vai trò của vitamin D trong điều hòa đáp ứng miễn dịch
Vai trò của vitamin D trong điều hòa đáp ứng miễn dịch được đưa ra

xuất 1, 25(OH)2D (tức cả 2 đều có VDR và enzym CYP27B1). Kích thích thụ
thể TLR2 trên các đại thực bào bởi thành phần lipoprotein của vi sinh vật hay
sự kích thích TLR2 trong keratinocytes có trong lớp biểu bì da bị thương, kết
quả tăng tổng hợp VDR và CYP27B1 để chuyển 25(OH)D3 thành 1,
25(OH)2D3 dẫn đến tăng tổng hợp peptid kháng khuẩn (AMPs) LL-37. Về
mặt phân tử, gen mã hóa tổng hợp LL-37 bao gồm vị trí mã hóa cho cả
vitamin D receptor [9].

Có nhiều bằng chứng cho thấy thiếu vitamin D kết hợp với tăng nguy
cơ mắc nhiễm trùng. Mức độ nghiêm trọng của thiếu hụt vitamin D tương
quan với gia tăng bệnh lao ở người châu Á sống ở phía tây London và kiểu
gen mã hóa cho VDR có tương quan với tình trạng thiếu vitamin D. Thiếu


10

vitamin D được coi là một yếu tố làm tăng mắc bệnh nhiễm trùng hô hấp do
virus ở trẻ em và phụ nữ sau mãn kinh xảy ra vào mùa đông, theo Ulliams và
cộng sự 86% bệnh nhi bị bệnh lao có thiếu vitamin D. Nghiên cứu tại Ấn Độ
và Phần Lan cho thấy mối liên hệ giữa tình trạng thiếu vitamin D và nguy cơ
mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới nghiêm trọng (ALRIs), nguy cơ phát
triển ALRI ở trẻ sơ sinh tăng lên đáng kể với nồng độ 25(OH)D < 10 ng/ml
(tương đương 25 nmol/L) và nguy cơ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở nam
thanh niên có nồng độ 25(OH)D < 40 nmol/L. Đặc biệt có một tỷ lệ thiếu hụt
vitamin D cao ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng như nhiễm khuẩn huyết
, bệnh xơ nang đặc trưng bởi các nhiễm khuẩn nặng tái phát nhiều lần. Các tác
giả cho rằng thiếu vitamin D nhạy cảm với nhiễm trùng xảy ra trước khi rất
nhiều các biểu hiện công khai của còi xương xuất hiện, cụ thể hơn nguy cơ
mắc nhiễm trùng đòi hỏi phải nhập viện cũng phản ánh tình trạng thiếu
vitamin D hơn là biểu hiện của còi xương. Kết quả nghiên cứu của Liu P.T và

vitamin D vì nó có thời gian bán hủy ngắn khoảng 15 giờ và được quy định
chặt chẽ bởi hormone tuyến cận giáp, canxi và phosphate sao cho nó không bị
giảm cho đến khi tình trạng thiếu vitamin D được cải thiện.
Hiện nay, trên thế giới có một số phương pháp được sử dụng để xác
định nồng độ 25(OH)D huyết thanh như sau:
- Phương pháp miễn dịch phóng xạ
- Phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang
- Sắc ký lỏng cao áp.
Phương pháp sắc ký lỏng cao áp chính xác nhất nhưng tốn kém,
phương pháp miễn dịch phóng xạ độc hại. Do vậy phương pháp miễn dịch
điện hóa phát quang được sử dụng phổ biến nhất.
Nồng độ 25(OH)D trong huyết thanh phụ thuộc nhiều yếu tố như chủng
tộc địa dư, điều kiện kinh tế xã hội... và sử dụng các phương pháp định lượng


12

khác nhau. Cho nên trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn về nồng độ tối
ưu của 25(OH)D huyết thanh. Phân loại của Holick năm 2007 [24]:
Khi nồng độ 25(OH)D:
- Dưới 20 ng/ml:

Thiếu nặng

- Từ 20 đến dưới 30 ng/ml:

Thiếu vừa

- Từ 30 ng/ml trở lên:


dễ bị còi xương, vì việc hấp thu vitamin D và Ca++ bị cản trở.
Màu da: Da màu thường gây cản trở việc tổng hợp vitamin D.
1.3. Biểu hiện lâm sàng của thiếu vitamin D [3], [7], [8]
1.3.1. Những biểu hiện ở hệ thần kinh thường là dấu hiệu sớm
Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, do tình trạng
thần kinh bị kích thích.
Ra mồ hôi ở trán, gáy cả khi lạnh.
Do tình trạng trên dẫn đến trẻ thường bị rụng tóc ở gáy (Dấu hiệu chiếu
liếm).
1.3.2. Dấu hiệu ở xương (Hậu quả muộn của thiếu vitamin D)
Xương sọ:
+ Dấu hiệu mềm sọ (craniotab s): Ấn nhẹ đầu ngón tay vào giữa xương
lõm xuống, khi rút ngón tay ra xương lại trở lại như cũ như khi ta ấn ngón tay
vào quả bóng bàn (dấu hiệu này không nhiều giá trị ở trẻ dưới 3 tháng).
+ Thóp rộng, bờ thóp mềm, chậm kín thóp
+ Các bướu xương sọ: Thường xuất hiện muộn, có khi thấy bướu trán,
đỉnh.
Xương hàm: Xương hàm dưới chậm phát triển, nửa trên xương hàm
dưới úp quá mức gây bẹt hai bên hoặc vòm miệng sâu.
Răng: Răng thường mọc chậm và lộn xộn.
Xương lồng ngực:
+ Chuỗi hạt sườn: Do sụn sườn phì đại thành hình hạt tròn, thường sờ
thấy ở phía trước ngực, có thể nhìn thấy như một chuỗi tràng hạt.


14

+ Biến dạng lồng ngực: Có thể có “Ngực gà” hoặc ngực “Hình chuông”.
Xương chi: Ở trẻ lớn có thể có chân vòng kiềng hoặc chân hình chữ X.
Xương cột sống: Gù, vẹo cột sống.


1.5. Phòng bệnh [3], [7], [8]
Mẹ: Cho mẹ uống 100.000 - 200.000UI Vitamin D, liều duy nhất từ
tháng mang thai thứ 7.
Con:
Ăn uống: Bú mẹ là tốt nhất.
Tận dụng yếu tố tự nhiên: Ánh nắng, không khí, nước, xoa bóp
thể dục.
Sử dụng vitamin D để phòng bệnh: liều 800 đến 1800UI/ngày.
Trẻ thấp cân: 1500 - 1600UI/ngày k m theo cho trẻ uống thêm
canxi.
1.6. Một số nghiên cứu về thiếu vitamin D
1.6.1. Ở Việt Nam
Nguyễn Thị Phương [4] nghiên cứu đánh giá tình trạng thiếu máu còi
xương ở trẻ suy dinh dưỡng trong 2 năm 1997 - 1998 tại viện Nhi cho thấy
còi xương suy dinh dưỡng lả 55,22% chủ yếu gặp ở trẻ 7 - 24 tháng (60,1%).
Tỷ lệ canxi máu giảm ở bệnh nhân còi xương có suy dinh dưỡng là 37,5%
nhưng phospho máu hình như bình thường. Phosphatase kiềm huyết thanh
trung bình ở trẻ suy dinh dưỡng là 179,49 ± 112,48 U/L.
Nguyễn Văn Sơn [5] nghiên cứu các yếu tố nguy cơ còi xương dinh
dưỡng ở trẻ dưới 3 tuổi tại một số vùng miền núi phía bắc và hiệu quả điều trị
bằng vitamin D liều thấp vào năm 2000. Tác giả nhận thấy tỷ lệ mắc còi
xương dinh dưỡng ở trẻ em dưới 3 tuổi là 11,4%. Tỷ lệ mắc ở trẻ trai và gái là
như nhau, nhóm 7 - 18 tháng mắc cao nhất. Gia đình ngh o, thiếu ánh sáng,
gia đình đông con là yếu tố thuận lợi dễ gây còi xương thiếu vitamin D. Liều
uống vitamin D 1200 và 4800 đơn vị/ngày tỏ ra có hiệu quả điều trị như nhau
trong bệnh còi xương.


16


12,1% trẻ em Hoa Kỳ thiếu vitamin D. Shellhaas RA và CS [47] thấy 25% trẻ
bị động kinh có giảm vitamin D máu. Langlois K và CS [28] thấy 4% người
từ 6 - 79 tuổi tại Canada bị giảm vitamin D. Delvin EE và CS [20] cho rằng
93% trẻ em và thiếu niên Canada có nồng độ vitamin D không lý tưởng và
Peterlik M và CS [39] cho rẳng 30 - 80% dân số có giảm vitamin D.
Theo các tác giả Arabi A và cộng sự [13] tỷ lệ bệnh thay đổi theo quốc
gia, theo vùng địa lý. Trung Quốc, Mông Cổ có tỷ lệ giảm vitamin D là 50%.
Ngoài ra tình trạng giảm vitamin D phổ biến ở Cận Shahara, Trung Cận Đông,
Châu Mỹ La Tinh, Đông Nam Á, Nam Á. Tình trạng giảm vitamin D gặp cả ở
xứ lạnh, xứ nóng, trẻ em da màu và không da màu, trẻ em được bổ sung hay
không bổ sung vitamin D. Điều này thể hiện tính nghiêm trọng của sự thiếu
vitamin D ở trẻ em.
1.6.2.2. Xác định hậu quả do thiếu hụt vitamin D gây ra cho con người
Hậu quả của thiếu vitamin D được quan tâm nghiên cứu. Trước hết,
Pederson P [38] thây thiếu vitamin D dẫn đến còi xương, đứa trẻ thấp còi,
chân vòng kiềng, loãng xương, dễ gãy xương và bệnh lý xương khác khi trẻ
lớn. Thiếu Vitamin D trẻ dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn nhất là nhiễm khuẩn hô
hấp trên và dưới [44], bệnh tiêu hoá [12], bệnh tim mạch [14], [20], bệnh lao
[52], bệnh tim do rối loạn chuyển hoá lipid, tăng huyết áp, ung thư nhất là ung
thư đại tràng [35], [27], [53]. Mowry EM [37] thấy thiếu vitamin D người mẹ
hay mắc một số bệnh nhiễm khuẩn trước sinh như CMV, rubeole... Ngoài ra,
Pincikova T [41], Shellhaas RA [48], Rovner AJ [45], Kelly A [26] thấy thiếu
vitamin D còn gây rối loạn đái tháo đường, béo phì, bệnh động kinh.
1.6.2.3. Nghiên cứu một số yếu tố liên quan tình trạng thiếu vitamin D
Các nghiên cứu chúng tôi thu thập được đều thấy các tác giả khảo sát
mối liên quan giữa giảm 25(OH)D3 với các yếu nguy cơ khác nhau như:


18

Hô hấp bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ tháng 01 - 10/2012.
* Tiêu chuẩn phân loại viêm phổi (theo IMCI)
- Viêm phổi rất nặng: Trẻ có ho, tần số thở tăng theo tuổi, co rút lồng
ngực và có ít nhất 1 trong 5 dấu hiệu nguy kịch sau đây:
+ Li bì khó đánh thức
+ Không uống được nước
+ Co giật
+ Thở rít khi nằm yên
+ Suy dinh dưỡng nặng
- Viêm phổi nặng: Trẻ có ho, tần số thở tăng và có dấu hiệu co rút lồng
ngực.
- Viêm phổi: Trẻ có ho và tần số thở tăng theo lứa tuổi.
Nhịp thở nhanh theo nhóm tuổi như sau:
Nhóm tuổi

Nhịp thở nhanh (lần/phút)

2 -< 12 tháng

≥ 50

12 tháng - 5 tuổi

≥ 40

(Số liệu từ chương trình IMCI)
Ngoài ra, tất cả các bệnh nhân trên phải có tiêu chuẩn lâm sàng và Xquang của viêm phổi như:
- Nghe phổi có ran ẩm nhỏ hạt



nhân).


21

 = 30% của p
Thay vào công thức, ta có
n = (1,96)2 * 0,3 * 0,7 / (0,3 * 0,3)2 = 99,6
Tính ra cần khoảng 100 trẻ 2 tháng đến 3 tuổi có đủ tiêu chuẩn chẩn
đoán đưa vào nghiên cứu.
2.4. Quá trình chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp tiện ích. Tất cả trẻ 2 tháng đến 3 tuổi bị
viêm phổi, viêm phổi nặng và viêm phổi rất nặng theo tiêu chuẩn phân loại
vào điều trị tại khoa Hô hấp bệnh viện Trẻ em Hải Phòng trong thời gian
nghiên cứu đều được đưa vào nghiên cứu.
2.5. Chỉ số, biến số nghiên cứu
2.5.1. Chỉ số
- Tỷ lệ thiếu 25(OH)D3 < 20 ng/ml
- Tỷ lệ giảm 25(OH)D3 < 30 ng/ml
- Tỷ lệ viêm phổi, viêm phổi nặng và rất nặng
2.5.2. Biến số nghiên cứu
- Tuổi: từ 2 tháng đến 3 tuổi
- Giới: Trai, gái
- Địa dư: Thành thị, nông thôn
- Tháng vào viện: Bắt đầu từ tháng nghiên cứu cho đến khi kết thúc.
- Học vấn của mẹ: Gồm mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở, trung học
phổ thông và trung học chuyên nghiệp và trên
- Nghề của mẹ: Nông nhân, công nhân, cán bộ/viên chức, lực lượng vũ
trang, nội trợ và nghề khác…
- Thu nhập gia đình: Mức tổng thu nhập gia đình/tháng


23

SƠ ĐỒ SÀNG LỌC BỆNH NHÂN
Bệnh nhân vào khoa
Bước 1



Khám lâm sàng và hỏi tiền sử bệnh để tiến hành phân loại viêm phổi
Bước 2



Lấy 2 ml máu của các bệnh nhân vừa được phân loại viêm phổi vào ống
nghiệm có chống đông gửi đi làm xét nghiệm
Bước 3



Phỏng vấn bố/mẹ hoặc người chăm sóc về một số yếu tố nguy cơ theo mẫu
đã thiết kế trước
2.7. Một số kỹ thuật sử dụng trong quá trình nghiên cứu
2.7.1. Định lượng 25(OH)D3
Định lượng 25(OH)D3 bằng phương pháp Điện hóa quang miễn dịch
(ECLIA) được tiến hành trên máy Architect i1000 (Giống như trên máy
Cobas e601) có tại khoa Xét nghiệm Sinh hóa bệnh viện Trẻ em Hải Phòng.
Thuốc thử: kit 25(OH)D - hydroxyvitamin D3 Cat.No 03314847.
Nguyên tắc phản ứng: Phản ứng miễn dịch cạnh tranh sử dụng kháng thể đơn
dòng trực tiếp đối với 25(OH)D3.

R2:

Anti-25-OH vitamin D3-Ab-Ru; 25-OH vitamin D derivate-biotin (nắp

đen), 1 lọ 9 mL; Polyclonal Anti-25-OH vitamin D3 antibody (cừu) gắn với
phức hợp ruthelium 1,5 mg/L; biotinyl 25-OH vitamin D 0,15 mg/L;
phosphate buffer 20 mmol/L, pH 6,5; chất bảo quản.
Giá trị vitamin D được coi là thiếu khi nồng độ 25(OH)D3 trong máu
dưới 30 ng/ml (tương đương < 75 nmol/L) [24].
2.7.2. Định lượng Phosphatase kiềm (ALP)
Nguyên tắc phản ứng:
Dựa trên cơ sở khuyến cáo của hiệp hội hóa sinh lâm sàng quốc tế
(IFCC). Hoạt độ enzyme ALP xác định bằng cách đo tốc độ chuyển của pnitro-phenylphosphate (pNPP) thành p-nitrophenol (pNP) trong sự có mặt của
Magie, Kẽm và của 2-amino-2-methyl-1-propanol (AMP) như là chất nhận
phosphate ở pH = 10,4. Tốc độ của sự thay đổi độ hấp thụ do tạo thành pNP


25

được đo ở bước sóng 410/480 nm và tương ứng trực tiếp với hoạt độ ALP
trong bệnh phẩm.
Phản ứng:
ALP

pNPP + AMP


2+

pNP + AMP-PO4

2.7.3. Định lượng phospho máu
Nguyên tắc phản ứng:
Phospho vô cơ phản ứng molybdate tạo thành một phức hợp
heteropolyacid. Độ hấp thụ đo được ở bước sóng 340/380 nm tương ứng trực
tiếp với nồng độ phospho vô cơ trong bệnh phẩm.
Phản ứng:
7H3PO4 + 12(MO7O24)-6 + 72H+ → 7H3PO4(MOO3)12 + 36H2O
Giá trị bình thường phospho vô cơ huyết thanh trẻ em: 1,29 - 2,26 mmol/L
[2].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status