Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện chợ mới tỉnh bắc kạn - Pdf 34

Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề thực tập này, em nhận
được sự giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, các anh chị và các
bạn.
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu trường
Đại học Kinh tế quốc dân, các thầy cô các khoa các bộ môn và đặc biệt là các thầy cô
trong khoa kế hoạch và phát triển đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình
hoàn thành chuyên đề thực tập.
Em cũng xin lời cảm ơn đến thầy giáo Th.S Bùi Trung Hải là giáo viên hướng
dẫn thực tập của em trong thời gian qua. Thầy đã tận tâm, nhiệt tình giúp đỡ em
trong ba tháng vừa qua, nhưng chỉ bảo của thầy đã giúp em rất nhiều trong việc
hoàn thiện chuyên đề thực tập này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo của sở kế hoạch đầu tư tỉnh
Bắc Kạn đã tạo điều kiện thuận lợi cho em có cơ hội thực tập tại đây. Cảm ơn các
anh chị, cô chú nhân viên tại cơ quan đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc thu thập
tài liệu và chỉ bảo em trong thời gian qua.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã giúp đỡ, động viên
em rất nhiều trong thời gian hoàn thành chuyên đề thực tập.
Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Đồng Diệu Linh

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

MSV: 11124831


MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

DANH MỤC BẢNG BIỂU

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã
được Đảng và nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát
khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại.
Ở nước ta nông thôn chiếm gần 80% dân số, nếu chỉ tập trung công nghiệp
hóa ở đô thị, thì khó có thể đảm bảo công bằng xã hội. Hơn nữa cần quan niệm nông
thôn như một nguồn lực quan trọng và chính nông thôn là thị trường chủ yếu của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là môi trường bền vững cho cả nền kinh tế, khi đời
sống của bộ phận dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện và hơn nữa không
bị chênh lệch quá mức so với thành thị. Do vậy, cần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

mặt chưa đạt được, những vấn đề cần giải quyết khắc phục. Trên cơ sở đó, đưa ra
những quan điểm, phương hướng, phương pháp, mục tiêu và các giải pháp quan
trọng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện theo hướng tích cực.
Từ đó nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân trong huyện nói riêng và
toàn tỉnh nói chung.
3. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng kết hợp trong đề tài: điều tra,
phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, duy vật biện chứng,… để có được bức tranh
toàn cảnh trong cơ cấu kinh tế huyện Chợ Mới.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tập trung nghiên cứu các nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện
Chợ Mới trên 3 nội dung chủ yếu và xu hướng chuyển dịch của các nội dung này
trong quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế. Nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên cơ
cấu kinh tế để làm rõ những tác động qua lại giữa các yếu tố.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu them về quá trình chuyển dịch cơ cấu, thực
trạng cũng như giải pháp của các tỉnh khác để rút ra bài học kinh nghiệm và vận
dụng tại huyện Chợ Mới.
5.

Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần: Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Danh mục từ viết
tắt, Phụ lục, bài viết bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Chương 2: Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ở huyện Chợ Mới.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp nhằm chuyển dịch cơ

Một cơ cấu hợp lý sẽ cho phép tạo nên sự cân đối, hài hòa của nền kinh tế để sử
dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên,… Xem xét cơ cấu kinh tế là
xem xét cấu trúc bên trong của quá trình tái sản xuất và mở rộng nền kinh tế thông
qua các mối quan hệ kinh tế. Đó là quan hệ về lượng và chất. Còn quá trình sản xuất
xã hội bao gồm toàn bộ quan hệ sản xuất tồn tại thích ứng với trình độ phát triển
nhất định của lực lượng sản xuất. Mối quan hệ kinh tế đó không riêng lẻ, tách rời
mà là những quan hệ của bộ phận kinh tế như: Quan hệ giữa các ngành kinh tế
(nông nghiệp – lâm nghiệp – dịch vụ), giữa các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế.
Cơ cấu kinh tế bao giừo cũng được biểu hiện trong những điều kiện về thời gian và
không gian nhất định, trong những điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội nhất định.
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

7

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

Thích hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địa phương hay mỗi
doanh nghiệp. Đồng thời cơ cấu kinh tế không tồn tại một cách cố định lâu dài mà
luôn có sự biến động và phải có những chuyển dịch cần thiết thích hợp với sự thay
đổi của những điều kiện trên. Sự duy trì quá lâu hoặc sự thay đổi quá nhanh chóng
về cơ cấu kinh tế mà không dựa vào những biến đổi của điều kiện tự nhiên kinh tế
xã hội gây nên những thiệt hại lớn về kinh tế. Vì vậy, có nên biến đổi chuyển dịch cơ
cấu kinh tế hay không và chuyển dịch nhanh hay chậm không thể dựa vào mong
muốn chủ quan, mà phải dựa vào mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế như thế nào.
Từ những phân tích trên, ta có thể đưa ra những khái niệm về cơ cấu kinh tế


GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

nghiệp. Việc đáp ứng nhu cầu thị trường chính là đem lại thu nhập và nâng cao đời
sống nông dân đồng thời bảo đảm được an ninh lương thực, thực phẩm cho đất
nước cho giai đoạn tiếp theo.

SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

9

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

1.1.2. Đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.1.2.1. Cơ cấu kinh tế mang tính lịch sử.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp không thể hình thành trong một sáng, một chiều
mà mà trải qua một quá trình hình thành dài theo năm tháng. Ở mỗi giai đoạn khác
nhau, cơ cấu kinh tế lại có những đặc điểm khác nhau. Các đặc điểm này thể hiện rõ
qua phân tích cấu trúc bên trong của cơ cấu kinh tế.
Xã hội loài người càng phát triển thì phân công lao động càng cao, nhu cầu
của con người về sản phẩm để tiêu dùng ngày càng nhiều cả về số lượng, chủng loại,
mẫu mã và chất lượng tốt hơn. Chính sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi phải xác lập
cơ cấu kinh tế phù hợp hơn.
Ở mỗi vùng khác nhau có cơ cấu kinh tế mang đặc điểm khác nhau trong
cùng một thời gian nhất định. Sự khác nhau giữa các vùng này nhằm phát huy tối


các quan hệ kinh tế các quan hệ này không ngừng vận động biến đổi theo hướng
tích cực để đạt hiệu quả như mục đích người quản lý. Cơ cấu kinh tế phản ánh trực
tiếp mối quan hệ của các yếu tố luôn vận động của lực lượng sản xuất dưới tác động
chi phối của các quy luật tự nhiên và sự vận động xã hội. Trong quản lý kinh tế
người ta không thể cứng nhắc rập khuân các cơ chế quản lý cũ, khi mà xu thế thay
đổi thì phương thức quản lý cũng phải thay đổi sao cho phù hợp với từng giai đoạn
nhất định. Không có một cơ cấu nào là bất di, bất dịch mà nó luôn vận động theo xu
hướng khách quan. Chúng ta cần phải tìm hiểu rõ cấu trúc bên trong và các tác
động qua lại giữa các nhân tố để xây dựng cách thức quản lý sao cho phù hợp và
hiệu quả.
1.1.2.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tê nông nghiệp là một quá trình và cũng không thể
có một cơ cấu hoàn thiện, bất biến.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cơ cấu
kinh tế cũng không ngừng phát triển theo xu thế hợp lý hơn, hoàn thiện hơn để đáp
ứng nhu cầu của thị trường. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu
kinh tế mới nhanh hay chậm còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có cả
nhân tố chủ quan lẫn khách quan. Để cơ cấu kinh tế phát huy hiệu quả thì cần phải
có một quá trình, một thời gian nhất định. Thời gian ấy dài hay ngắn còn phải tùy
thuộc vào đặc thù riêng của từng loại cơ cấu kinh tế.
Con người luôn mong muốn có một có cơ cấu kinh tế hoàn thiện nhưng mức
độ hoàn thiện sẽ khó có thể đạt được ở mức độ hoàn mỹ vì ngoài yếu tố chủ quan cơ
cấu kinh tế còn chịu tác động khách quan. Con người chỉ có thể nhận thức và nắm
bắt được các quy luật vận động khách quan để xây dựng một biện pháp đúng đắn
tác động để làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra đúng mục tiêu và
định hướng đã vạch ra.
1.1.3. Nội dung của cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.1.3.1. Cơ cấu ngành và nội bộ ngành.
Cơ cấu ngành nông nghiệp biểu hiện mối quan hệ giữa trồng trọt và chăn
nuôi. Trong ngành trồng trọt có: cây lương thực và cây công nghiệp, cây thực phẩm

dịch cơ cấu vùng lãnh thổ chính là việc đi vào chuyên môn hoá và tập trung hoá
hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung có hiệu quả cao mở với các
vùng chuyên môn hoá khác, gắn cơ cấu của từng vùng, từng khu vực với kinh tế cả
nước.
Cơ cấu vùng lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất
trong vùng kinh tế. Để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần phải xây
dựng các ngành trên vùng lãnh thổ hợp lý để khai thác đầy đủ tiềm năng của mỗi
vùng. Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hoá dựa trên những lợi thế so
sánh của vùng, đó là những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, có đường giao
thông và công trình đô thị,…
Thông thường cơ cấu này bao gồm cơ cấu khu vực kinh tế thành thị và nông
thôn, khu vực kinh tế trọng điểm và phi trọng điểm, khu vực kinh tế đồng bằng và
miền núi,…
1.1.3.3. Cơ cấu thành phần kinh tế.
Nếu như phân công lao động sản xuất đã là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và
cơ cấu lãnh thổ - vùng, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

12

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh
tế và cơ cấu vùng – lãnh thổ. Sự tác động đó là biểu hiện sinh động của mối quan hệ
giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế. Loại cơ cấu này phản ánh các mối quan hệ


13

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

hàng hoá đa dạng, sức cạnh tranh cao phát huy được lợi thế so sánh, đồng thời áp
dụng khoa học tiến bộ vào sản xuất tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao, tạo
công ăn việc làm, ổn định kinh tế xã hội,…
Việc xây dựng được một có cấu kinh tế hợp lý chính là góp phần tăng trưởng
và phát triển kinh tế của từng địa phương. Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo điều kiện
tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo. Trong xây dựng cơ cấu kinh tế cần nghiên cứu
kết hợp các nhân tố tích cực, tiêu cực để từ đó xây dựng cơ cấu hoàn chỉnh, điều
chỉnh hợp lý các mâu thuẫn đồng thời phát huy thế mạnh của từng vùng, từng địa
phương.
1.1.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
1.1.5.1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng không phải
là bất biến mà sẽ luôn vận động phát triển và chuyển hoá cơ cấu kinh tế cũ sang cơ
cấu kinh tế mới ưu việt hơn. Mục đích của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là
tạo ra một hệ thống các tiểu ngành mới trong ngành nông nghiệp phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của mỗi vũng. Quá trình chuyển dịch từ cơ cấu kinh tế
cữ sang cơ cấu kinh tế mới nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó có tác động của con người. Sự chuyển dịch này phải trải qua một thời gian và các
bước nhất định. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn vận động và thích ứng với sự phát
triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động trong từng thời kỳ.

Chính vì vậy, cần coi trọng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là
một vấn đề sống còn của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nhất là thời kỳ đổi
mới khi đất nước ta bước vào sân chơi của WTO. Tham gia vào sân chơi bình đẳng
này thì cần phải đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp để phát huy được lợi thế cạnh
tranh, muốn cạnh tranh được ta phải có chính sách đồng bộ, hiệu quả. Từ đó khuyến
khích được người dân bỏ vốn ra đầu tư sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích của mình.
Cần đầu tư về cơ sở hạ tầng như: điện, đường, trường trạm,... để tạo điều kiện thu
hút các nhà đầu tư với nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.
1.1.5.3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Với thực tế là cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn còn lạc hậu cả
về đất đai, kỹ thuật canh tác, trình độ của người lao động,... Hơn nữa cơ sở hạ tầng,
vốn và thị trường cũng còn là những cản trở rất lớn vì vậy trong những năm tới
mục tiêu của tỉnh là đưa sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tích cực. Do đó chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp phải lấy thị trường làm gốc để điều tiết quá trình sản xuất của
mình. Quá trình sản xuất càng đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường bao nhiêu thì
càng có nhiều cơ hội để các mặt hàng nông sản của mình tiêu thụ bấy nhiêu. Bên
cạnh đó vấn đề đáp ứng được nhu cầu của thị trường chính là tạo điều kiện để nâng
cao giá trị kinh tế. Ngày nay thay vì tập trung vào lợi nhuận thì người sản xuất phải
tập trung làm sao thoả mãn nhu cầu của thị trường trên cơ sở sản xuất nhiều hàng
hoá. Càng thoả mãn được nhu cầu của thị trường thì càng thu được nhiều lợi
nhuận, đó là vấn đề xuyên suốt trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của tỉnh sao cho phù hợp.
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

15

MSV: 11124831

nguồn lao động.
Thị trường (luôn là nhân tố quan trọng và tác động chủ yếu đến sự hình
thành và biến đổi cơ cấu): Là lĩnh vực trao đổi sản phẩm hàng hoá, dịch vụ theo một
giá cả nhất định và tại thời điểm nhất định thực hiện giá trị của sản phẩm. Thông
qua thị trường, người sản xuất sẽ trả lời câu hỏi: Sản xuất cái gì? sản xuất cho ai?
Và sản xuất như thề nào? Nghĩa là chỉ sản xuất những gì thị trường cần. Thị trường
điều tiết sản xuất, người sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng phải
lựa chọn bố trí những cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường.
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

16

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

Hệ thống chính sách: Nếu chỉ dưới tác động của thị trường thì cơ cấu kinh tế
nông nghiệp hình thành và vận động một cách tự phát, không tránh khỏi những rủi
ro lãng phí của các nguồn lực. Với chức năng của mình nhà nước phải ban hành các
chính sách kinh tế đồng bộ cùng với các công cụ quản lý để thúc đẩy việc hình thành
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo hướng có lợi nhất phù hợp với mục
tiêu và phương hướng đã đề ra.
Chức năng chủ yếu của kinh tế vĩ mô là tạo động lực kinh tế mà cốt lõi là lợi
ích kinh tế cá nhân từ đó tiến hành hoạt động kinh tế phù hợp với định hướng của
nhà nước vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở bản đảm các yếu tố thị trường phát
huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực nhằm mục đích tạo điều kiện cho nền kinh tế
thị trường tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định.

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

định bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nông thôn là cơ sở
của sự hình thành và phát triển của ngành kinh tế. Các vùng kinh tế tồn tại và hoạt
động thông qua các hình thức tổ chức sản xuất trong nông thôn với các quy mô
tương ứng là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự hình thành và
biến đổi kinh tế. Đặc biệt với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, thì
việc ứng dụng các thành tựu của nó vào đời sống và sản xuất ngày càng nhiều và
hiệu quả, nhất là công nghệ sinh học đưa giống mới có năng suất cao, chất lượng
tốt vào sản xuất. Thay thế dần lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc,
giải phóng sức lao động, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Tiến bộ khoa
học công nghệ và ứng dụng của nó vào sản xuất một mặt xuất hiện nhiều nhu cầu
mới, tác động đến thay đổi về số lượng, tăng mức nhu cầu của ngành này hay ngành
khác, làm thay đổi tốc độ phát triển và thay đổi mối tương quan tốc độ phát triển
giữa các ngành. Mặt khác, nó tạo khả năng mở rộng ngành nghề và tăng trưởng
các ngành sản xuất chuyên môn hoá cao và phát triển các ngành đòi hỏi có trình độ
công nghệ cao.
1.3. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở trong và ngoài nước
và kinh nghiệm đối với tỉnh Bắc Kạn
1.3.1. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở trong nước
+ Với huyện Từ Liêm – Hà Nội
Từ Liêm là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội với tổng diện tích
đất tự nhiên của huyện là 7.515 ha. Trong đó có 4.127 ha đất nông nghiệp, chất
lượng tốt thích hợp với nhiều loại cây trồng. Thời tiết khí hậu nhiệt đới gió mùa
nóng ẩm nhiều mưa. Cơ cấu giá trị ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng
ngành trồng trọt giảm từ 76,5% ( năm 1990) xuống còn 72,25% ( năm 2000),
ngành chăn nuôi và thuỷ sản có xu hướng tăng lên.
Những năm qua nông nghiệp đã từng bước áp dụng khoa học công nghệ tiến
tiến, phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất
trang trại. Giái trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất nông nghiệp ngày càng cao từ

thích hợp với trồng lúa và nuôi trồng thuỷ sản và cả cao nguyên, vùng núi phát triển
cây công nghiệp, cây ăn quả. Trước năm 1970 hệ canh tác hai vụ một năm ( 1 vụ lúa
nước, 1 vụ màu hoặc lúa cạn) là phổ biến. Đến năm 1971 vấn đề tăng vụ được nông
dân áp dụng một cách mạnh mẽ, tỷ lệ diện tích trồng 3 vụ trong năm tăng nhanh,
chiếm tới 68% và đến năm 1973 là 85%. Phát huy thế mạnh sẵn có, Thái Lan phát
triển mạnh sản xuất trồng trọt và xuất khẩu thuỷ sản theo hướng đa dạng hoá sản
phẩm, giảm bớt rủi ro trên thị trường. Hiện nay Thái Lan đang đứng đầu thế giới về
xuất khẩu gạo, đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu cao su, tôm sú, đứng thứ 3 về
xuất khẩu đường.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Chợ Mới
Ở mỗi nước hay mỗi địa phương đều có những đặc điểm và điều kiện riêng
vào những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau. Nhưng mỗi nước hay mỗi địa phương
đều coi trọng sản xuất nông nghiệp trong mỗi bước đi của chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của mình. Trong quá trình đó mỗi nước, địa phương đã có bước
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy ở mỗi nơi có các phương thức tiến bộ và kết quả đạt được là khác nhau, song
việc vận dụng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Chợ Mới tỉnh Bắc
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

19

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

Kạn phải phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và đặc điểm riêng của mình. Một số kinh
nghiệm có tính phổ biến, phù hợp với xu hướng chung của thời đại được vận dụng

Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

CHƯƠNG 2:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN CHỢ MỚI
2.1. Tình hình cơ bản về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện có
ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Chợ Mới có tổng diện tích tự nhiên 60.176,08ha, gồm 16 đơn vị hành
chính (15 xã và 01 thị trấn). Thị trấn Chợ Mới là trung tâm huyện lỵ cách thị xã Bắc
Kạn 42km về phía nam và cách thủ đô Hà Nội 142km về phía Bắc.
Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi, là huyện cửa ngõ phía nam của
tỉnh Bắc Kạn:
-

Phía Đông giáp huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) và huyện Na Rì
Phía Tây giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên)
Phía Nam giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương (Thái Nguyên)
Phía Bắc giáp huyện Chợ Đồn, huyện Bạch Thông và thị xã Bắc Kạn
*Thuận lợi:
- Có vị trí địa lý tiếp giáp với tỉnh Thái Nguyên rất phát triển có nhiều lợi
thế trong việc trao đổi hàng hóa nông sản, thực phẩm sang tỉnh Thái Nguyên và
các tỉnh khác.
- Huyện có địa giới hành chính rộng, diện tích đất nông nghiệp lớn là điều
kiện để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
*Khó khăn:
- Là một huyện miền núi, có diện tích đất lớn nhưng trình độ thâm canh còn

*Thuận lợi:
- Do có con song Cầu chảy quanh đồng thời là con sông lớn nhất tỉnh Bắc
Kạn nên thuận lợi cho việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, …
- Địa hình gồm 3 vùng rõ rệt là vùng đồi núi, vùng trũng, vùng đồng bằng là
điều kiện thuận lợi cho quá trình tập trung sản xuất hàng hóa theo từng vùng, từng
loại cây trồng khác nhau.
- Đất có thành phần cơ giới và kết cấu tốt là nhân tố quyết định đến đa dạng
hóa cây trồng, tạo điều kiện tăng năng suất cây trồng.
*Khó khăn
- Ruộng đất bậc thang dễ bị rửa trôi, khô hạn vào mùa đông, ngập úng vào
mùa mưa ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng.
- Ruộng đất vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ khả năng áp dụng khoa học công nghệ
vào sản xuất là khó khăn.
- Người dân vẫn còn chậm trong việc dồn điền đổi thửa, thiếu tính quy hoạch,
chưa chú ý nghiên cứu thị trường nên việc sản xuất không theo định hướng không
có kế hoạch dẫn đến hiện tượng thừa hoặc thiếu sản phẩm cung cấp trên thị
trường.
2.1.1.3. Khí hậu
Huyện Chợ mới có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng có sự phân hoá theo
độ cao của địa hình và hướng núi. Nhiệt độ trung bình trong năm là 21˚C. Các tháng
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

22

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

nghiệp tăng bình quân 4,4%/năm, phi nông nghiệp tăng 7,2%/năm. Cùng với khí
hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, đất đai trong huyện là điều kiện
thuận lợi để phát triển nông – lâm nghiệp, xây dựng các vùng chuyên canh nông sản
SV: Nguyễn Đồng Diệu Linh

23

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

hàng hóa.
Rừng: Tổng diện tích đất rừng năm 2005 có 46.678,6ha chiếm 77% diện tích
đất tự nhiên của toàn huyện. Trong đó chủ yếu là đất rừng tự nhiên, rừng trồng có
14.700ha chiếm 24% diện tích lâm nghiệp của huyện. Năm 2005 độ che phủ đạt tới
60% diện tích rừng. Chợ Mới cũng là huyện có diện tích rừng trồng lớn nhất, chiếm
25% diện tích rừng trồng của toàn tỉnh. Các loại cây trồng chính gồm: mỡ, thông,
keo, bồ đề,…
Để phát triển quỹ rừng, được sự hỗ trợ của Trung ương, tỉnh và các tổ chức Quốc
tế, huyện Chợ Mới đã triển khai nhiều dự án, chương trình. Trong đó, dự án 147, chương
trình 135, dự án 327, dự án PAM 5322,… được triển khai đã nâng độ che phủ lên đáng kể.
Đặc biệt, trong quy hoạch phát triển Khu công nghiệp Thanh Bình, huyện Chợ Mới có
điều kiện phát triển thế mạng nông lâm nghiệp cho công nghiệp chế biến gỗ.
Khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng.
Trong long đất khá giàu các kim loại màu, kim loại đen, vật liệu xây dựng. Đây là
một trong những thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp
khai khoáng nói riêng.

24

MSV: 11124831


Chuyên đề thực tập

GVHD: Th.S Bùi Trung Hải

*Khó khăn:
-

Huyện Chợ Mới nằm xa các cửa khẩu, bến cảng, xa các trung tâm kinh tế lớn của
nhà nước như Hà Nội, Hải Phòng,… nên việc cung cấp thông tin, công nghệ tiên tiến,

-

thu hút vốn gặp khó khan.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm khó ổn định, sức mua của dân cư thấp. Việc giao lưu,
trao đổi hàng hóa với bên ngoài phải bằng đường bộ hoặc đường sông với chi phí

-

vận chuyển lớn.
Việc hợp tác liên doanh kêu gọi vốn nước ngoài gặp phải những khó khan nhất định.
Những yếu tố bất lợi của thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt luôn là mối đe dọa cho sản

-

xuất và đời sống.

226839
230796
Người
212653
218896
222502
Người
147865
152654
167612
%
1,41
1,45
1,51
%
1,12
1,09
1,11
Người/km
649
671
683
2
Nguồn: Phòng tổng hợp sở kế hoạch đầu tư Bắc Kạn

Số liệu thống kê các năm cho thấy dân số nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng. Cụ
thể, năm 2010 có 212653 người tới năm 2011 tăng lên 222502 người. Do đó lao
động trong nông nghiệp cũng tăng từ 147865 người (năm 2010) đến 166712 người
(năm 2012). Đây là khó khăn của huyện trong thời gian tới vì sẽ dư thừa lao động
trong nông nghiệp. Mặt khác tỷ lệ sinh ngày càng cao với 1,41 (năm 2010) lên 1,51


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status