Đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng bột lá keo giậu trong chăn nuôi ngựa tại Thái Nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO QUANG HỢP

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG BỘT LÁ KEO GIẬU
TRONG CHĂN NUÔI NGỰA TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO QUANG HỢP

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG BỘT LÁ KEO GIẬU
TRONG CHĂN NUÔI NGỰA TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. NGUYỄN VĂN ĐẠI
2. PGS.TS. PHAN ĐÌNH THẮM

THÁI NGUYÊN - 2015

Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các vị trong hội đồng chấm
luận văn lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái Nguyên, ngày.....tháng.....năm 2015
Tác giả luận văn

Đào Quang Hợp


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT ...................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................ vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................ viii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề ................................................................................................. 1
2. Mục tiêu của đề tài .................................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài ................................................. 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 4
1.1. Vị trí phân loại, một số giống ngựa trong và ngoài nước ...................... 4
1.1.1. Vị trí của ngựa trong hệ thống phân loại động vật ......................... 4
1.1.2. Các giống ngựa trong nước ............................................................. 4
1.1.3. Một số giống ngựa trên thế giới ...................................................... 8
1.1.4. Một số phương thức chăn nuôi ngựa hiện nay.............................. 10
1.1.5. Một số đặc điểm sinh vật học của ngựa ........................................ 11
1.2. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng ...................................................... 12
1.2.1. Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng ........................................ 12
1.2.2. Khả năng sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng ......... 13

3.2. Đánh giá ảnh hưởng của việc thay thế bột lá keo giậu đến khả năng
sinh trưởng của ngựa giai đoạn 9 - 12 tháng tuổi ....................................... 56
3.2.1. Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của ngựa ............................... 56
3.2.2. Khả năng sinh trưởng của ngựa khi thay thế tỷ lệ bột lá keo giậu
khác nhau ................................................................................................ 57
3.2.3. Sinh trưởng tuyệt đối của ngựa thí nghiệm .................................. 59
3.2.4. Sinh trưởng tương đối của ngựa ................................................... 61


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày
trong luận văn này là trung thực, khách quan do bản thân tôi thực hiện, chưa
từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào ở trong và ngoài nước. Các
thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.


vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT


: Con cái



: Con đực

BLKG

: Bột lá keo giậu


: Số con

NC&PTCNMN : Nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi
SS

: Sơ sinh

STT

: Số thứ tự

TB

: Trung bình

TCVN

: Tiêu chuẩn Việt Nam

TN1

: Thí nghiệm 1

TN2

: Thí nghiệm 2

TTTĂ


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu đồ tăng khối lượng của ngựa thí nghiệm ................................ 58
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của ngựa thí nghiệm ........................ 60
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của ngựa thí nghiệm ...................... 62


1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nước ta có 66,9 ngàn con ngựa (Tổng cục thống kế 2014) [26], được
phân bổ hầu hết các tỉnh trung du và miền núi trong cả nước. Con ngựa được
gắn liền với đời sống, lao động, sản xuất và văn hóa vùng miền. Đối với
người vùng cao con ngựa được coi như chiếc xe đạp của mỗi gia đình, khi đi
nương lấy thóc, đi xuống chợ mua hàng, đi thăm người thân, ngựa thồ nước
về nhà.... Con ngựa là vốn quý của mỗi gia đình vùng cao. Người H’mông khi
cho con gia đình riêng, tài sản được bố mẹ cho để làm ăn là con ngựa, con
ngựa thật thân thiện. Trong kháng chiến con ngựa gắn liền với hoạt động của
cách mạng, ngày nay ngựa phục vụ bộ đội biên phòng tuần tra, những nơi có
đường biên giới hiểm trở đều cần đến con ngựa. Trong lĩnh vực nông nghiệp
việc sản xuất kích tố Huyết thanh ngựa chửa đã góp phần nâng cao năng suất
sinh sản cho hàng vạn con gia súc giống nhập nội, con lai, thúc đẩy sự phát
triển của ngành chăn nuôi.
Chính vì vai trò và lợi ích không thể thay thế của con ngựa nên những
năm gần đây việc phát triển chăn nuôi ngựa rất nhanh và mạnh theo nhiều
hướng khác nhau phục vụ nhu cầu phát triển xã hội như ngựa đua, ngựa thể
thao, ngựa phục vụ lễ hội, ngựa phục vụ các khu du lịch, và đặc biệt xuất hiện
xu hướng khai thác thịt và cao xương ngựa phục vụ sức khỏe con người. Bên
cạnh đó, trong chăn nuôi ngựa còn gặp nhiều khó khăn như việc đầu tư cho
chăn nuôi ngựa khá cao, tiếp thu khoa học kỹ thuật còn hạn chế đặc biệt kỹ
thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho ngựa, nguồn thức ăn chưa


Đào Quang Hợp


3
hàm lượng protein cao ), (Garcia và cs 1996) [49]. Hàm lượng protein có trong
lá keo giậu cũng có biến động giữa các phần của cây. Ở lá non keo giậu chứa
nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein
cao nhất từ 28,4 - 30,0% trong VCK, (Deshumkh và cs 1987) [46]. Ronia và cs
(1979) [59], cho biết hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá
già, các phần lá phân bố ở giữa có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2% VCK,
phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1% VCK.
Xuất phát từ thực tế trên để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi chúng tôi tiến
hành đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng bột lá
keo giậu trong chăn nuôi ngựa tại Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống ngựa hiện có tại Trung
tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi.
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng lá keo giậu, ảnh hưởng của sử
dụng lá keo giậu đến khả năng sinh trưởng nhằm tìm ra phýõng pháp bổ sung
thích hợp lá keo giậu nhý một nguồn thức ãn protein cho ngựa .Từ kết quả ðó,
khuyến cáo trồng và sử dụng lá keo giậu trong chãn nuôi ngựa ở các tỉnh
trung du miền núi.
3. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Làm giàu thêm cho kho tàng kiến thức về sử dụng thức ăn trong chăn nuôi
ngựa ở khu vực trung du - miền núi phía Bắc.
* Ứng dụng thực tiễn
- Những nội dung nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng vào thực tiễn
chăn nuôi ngựa.

hạn chế lớn nhất của chúng là có tầm vóc nhỏ, ngoại hình chưa cân đối. Theo


5
Đặng Đình Hanh và Phạm Sỹ Lăng (2008) [12], ngựa Việt Nam có những đặc
điểm như sau:
- Thồ hàng: 40-50kg
- Kéo xe: 400-500kg
- Chạy: đạt 25-28km/giờ
- Sức giật khi keo xe:100kg
- Tỷ lệ thụ thai: 76,7%
- Tỷ lệ đẻ: 83,8%.
- Kích thước một số chiều đo và khối lượng của ngựa Việt Nam:
ĐVT: cm

Địa phương

Thái Nguyên

Cao Bằng

Lai Châu

Hà Giang

Thể

Tính

Cao


115,6

113,7

126,8

13,8

168

Đực

113

114,5

130,2

15,9

178

Cái

109,7

107,2

129,8


110,3

111

128,4

15,2

168

Cái

109,1

110

127,1

14,3

164

trọng
(kg)

* Giống ngựa Bạch
Hiện nay, ở nước ta ngựa bạch được phân bố rải rác tại các tỉnh như
Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Lai Châu, Bắc Giang… giống ngựa này
có khả năng làm việc tốt, chịu được kham khổ, ngoài ra xương ngựa bạch còn

khoán trả thù lao mỗi tháng từ 200.000 - 300.000đ/con nếu ngựa bị chết phải
chịu trách nhiệm, khi nào người giao khoán yêu cầu thì người nhận nuôi phải
đem ngựa trả, hình thức này tương đối phổ biến ở nông thôn hiện nay vì cả
người giao và người nhận nuôi khoán đều có lợi, còn việc nuôi ngựa bạch để
sinh sản thì không có nhiều. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hưng Quang và cs
2014 [29], thì ngựa bạch ở giai đoạn 12 tháng tuổi có khối lượng là 115,6kg,
một số chiều đo như CV đạt 103,7cm, VN đạt 101,8cm và DTC là 102,5cm,
ngựa trưởng thành 186,5kg.
* Dòng ngựa Lai

Ở nước ta hiện nay dòng ngựa lai chủ yếu dùng ngựa giống Cabardin
của Liên Xô, đây là một giống ngựa kiêm dụng thồ, kéo, cưỡi, được lai tạo
với ngựa Việt Nam nhằm nâng cao tầm vóc, thể trọng và sức làm việc của
ngựa Việt Nam. Ngựa lai có thể trọng cao hơn và nhiều ưu điểm hơn ngựa
Việt Nam. Ngựa lai có chiều cao trung bình 122-125cm. Hiện nay tại Trung
tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi Miền Núi ở Bình Sơn - Sông Công


8
đang nuôi giữ giống ngựa Cabardin thuần chủng để tạo ra nhiều loại ngựa lai
có chất lượng ổn định đồng thời giúp các trạm truyền giống tiếp tục lai tạo
nâng cao chất lượng ngựa địa phương. Theo Nguyễn Hữu Trà và cs 2015
[43], cao vây của ngựa trưởng thành nuôi tại

Đức Hòa - Long An là

142,45cm, ngựa đực trưởng thành đạt 368,34kg.
1.1.3. Một số giống ngựa trên thế giới
* Giống ngựa Cabardin ( Liên Xô)
Đây là giống ngựa kiêm dụng cưỡi thồ, được nhập vào nước ta từ lâu

chịu đựng dẻo dai và chịu được điều kiện khô hạn của thảo nguyên.


9
Ngựa Mông Cổ là giống ngựa
kiêm dụng vừa làm việc vừa khai thác
sữa phục vụ cho con người. Ngựa cái
được chọn lọc và nuôi dưỡng tốt có thể
cho 1 lít sữa/con/ngày. Kích thước của
ngựa cái như sau:
Cao vây: 129,6 cm
Vòng ngực: 154,2 cm
Dài thân chéo: 134,2 cm
Vòng ống: 16,8 cm
* Giống ngựa Ả Rập
Ngựa Ả Rập từ lâu đã rất nổi tiếng là giống ngựa có ngoại hình và màu
sắc đẹp được nhiều nước dùng làm nguyên liệu để cải tạo giống ngựa địa
phương. Chúng có một số đặc điểm như sau:
Con đực (cm)

Con cái (cm)

Cao vây

153,8

151,4

Dài thân chéo


khác nhau.
- Phương thức chăn nuôi bầy đàn: Ngựa được chăn nuôi với số lượng
vừa phải trong các hộ gia đình hay các trang trại với mục đích sinh sản.
Phương thức này đã tồn tại từ lâu đời đối với những dân du mục ở các vùng
thảo nguyên hoặc những vùng chăn nuôi chưa phát triển, với phương thức này
thì ngựa đực và ngựa cái được nuôi chung đàn, phối giống tự do, ít có sự tác
động của con người. Ở nước ta phương thức này đã tồn tại ở một số địa
phương như: Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lào Cai… Ngựa được quản lý
tại hộ gia đình trong vụ trồng trọt, những ngày ngựa ðýợc thả rông cũng là
mùa sinh sản, ngựa ðực và ngựa cái được phối giống tự do. Phýõng thức chãn
nuôi này cho năng suất rất thấp, dẫn đến khả nãng sinh trưởng kém.
- Phương thức chăn nuôi bán chăn thả, phương thức này được áp dụng
ở những hộ chăn nuôi có định hướng, có mục đích, người chăn nuôi có chọn
giống, có tác động của khoa học kỹ thuật và tuyển chọn ngựa theo mục đích
riêng. Theo Heriquez và cs (1980) [52], thì phương thức này có hai hình thức
chăn nuôi đó là:
Chăn nuôi ngựa theo từng cá thể: Những ngựa đực và ngựa cái chuyên
dùng cho nhân giống, hoặc chuyên dùng cho việc sản xuất gắn liền với từng
hộ gia đình và những yêu cầu nhất định của người chăn nuôi, ngựa được
tuyển chọn theo mục đích riêng và được quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng riêng
biệt. Việc chăn thả ngựa chỉ là vận động hoặc vận động có quy trình kỹ thuật.
Phương thức chăn nuôi này đã có tổ chức phối giống, có sự theo dõi chặt chẽ
ngựa đực và ngựa cái, có áp dụng kỹ thuật phối giống và theo dõi đánh giá
khả năng sinh sản của ngựa. Sử dụng phương thức chăn nuôi này nếu người


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii

hàng trăm mét. Nhờ có đôi mắt rất tinh kết hợp với cổ linh hoạt nên ngựa đi
đêm rất giỏi và có thể nhìn được trong phạm vi 360o .
Cũng như các loài gia súc khác, cơ thể ngựa có 9 hệ chức năng, mỗi hệ
bao gồm các cơ quan và có một hay nhiều chắc năng khác nhau.
1.2. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng
1.2.1. Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng
Một số tính trạng năng suất của ngựa đều có chung bản chất di truyền
như với các gia súc khác, nhưng biểu hiện về giá trị kiểu hình của các tính
trạng này lại mang các đặc thù riêng do các gen quy định về di truyền của
từng loại. Các tác giả Nguyễn Ân và cs (1983) [2], Trần Đình Miên (1995)
[23], Nguyễn Văn Thiện (1995) [37], Nguyễn Văn Thiện và cs (1998) [38]
cho biết, hầu hết các tính trạng về năng suất hay tính trạng có giá trị kinh tế
của gia súc như: khả năng cho thịt, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho sữa…
đều là các tính trạng số lượng. Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình
(Phenotype Value - P), do giá trị kiểu gen (Genotyp value - G) và sai lệch môi
trường (Environmental deviation - E) quy định. Quan hệ này được biểu hiện
bằng công thức P = G + E.
Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng
do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành. Đó là gen mà hiệu
ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có
ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện
tượng đa gen (Polygene). Các minor gen tác động lên tính trạng theo 3
phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Giá trị kiểu gen được thể hiện qua
công thức:
G = A + D + I. Trong đó.


13
A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breeding value).
D: là sai lệch trội (Dominance deviation).

hiện ở ba mặt: phân chia tế bào để làm tăng số lượng tế bào; Tăng thể tích
mỗi tế bào; Tăng thể tích giữa các tế bào.
Đồng thời, sinh trưởng của gia súc là một quá trình mang ba đặc tính:
tốc độ, thời gian và tính chất diễn biến. Tốc độ sinh trưởng biểu thị sự tăng
khối lượng, thể tích, kích thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian nhất
định. Thời gian sinh trưởng là thời gian xác định để cân, đo và tính tốc độ
sinh trưởng nói trên (Trần Đình Miên và cs 1994) [22].
Sinh trưởng của gia súc tuân theo những quy luật nhất định, đó là quy
luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn, quy luật phát dục không đồng đều và
quy luật sinh trưởng phát dục theo chu kỳ.
* Theo quy luật sinh trưởng phát dục theo giao đoạn thì quá trình sinh
trưởng của gia súc được chia làm 2 giai đoạn lớn, đó là giai đoạn trong cơ thể
mẹ và giai đoạn ngoài cơ thể mẹ.
Ở giai đoạn trong cơ thể mẹ các đặc tính của phẩm giống được hình
thành rất sớm, do đó giai đoạn này cơ thể mẹ cần được tăng cường về các chất
dinh dưỡng như: protein và vitamin...
Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ, kể từ lúc gia súc được sinh ra đến khi ra súc
chết đi. Gia súc sinh trưởng và phát triển mạnh ở giai đoạn bú sữa cho tới khi
thành thục về tính dục. Ở giai đoạn này, cơ thể phát triển mạnh về hệ cơ,
xương, cơ quan tiêu hóa, sinh dục và hệ thống thần kinh. Do vậy, người chăn
nuôi cần có những biện pháp kỹ thuật hợp lư để con vật sinh trưởng phát triển
mạnh, phát huy tối đa năng lực của phẩm giống.
Tính giai đoạn còn thể hiện hoạt động của các tuyến nội tiết và do
nhiều yếu tố tác động như trao đổi chất, dinh dưỡng, môi trường. Từ giai đoạn
sơ sinh đến 3 tháng tuổi thì ngựa phát triển mạnh nhất, tiếp theo là giai đoạn 3
- 6 tháng, 6 - 9 tháng và 9 - 12 tháng. Từ 18 - 24 th́ áng sinh trưởng chậm dần


15
lại. Đến giai đoạn 24 - 30 tháng tuổi thì ngựa bước vào tuổi trưởng thành, tốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status