Giải pháp tăng cường năng lực huy động vốn tại ngân hàng TMCP công thương việt nam chi nhánh phú thọ - Pdf 34

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và có vai trò quan
trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng. Đặc biệt trước tình
hình khan hiếm vốn hiện nay huy động vốn đang trở thành hoạt động “nóng”
được các ngân hàng quan tâm nhiều nhất. Thông qua việc ứng dụng và phát
triển công nghệ Ngân hàng, tìm hiểu thị trường cũng như nhu cầu của khách
hàng các Ngân hàng đang tung ra nhiều sản phẩm mang tính “đột phá, chiến
lược” từ đó thu hút và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Để có nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng
thương mại phải tìm cách tạo lập được vốn bằng nhiều hình thức khác nhau.
Huy động vốn là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc
sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng.
Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ
(Vietinbank Phú Thọ) nhận thấy cần phải tăng cường hoạt động huy động vốn
để có thể đáp ứng nhu cầu vốn đối với sự phát triển của ngân hàng nói riêng
và của xã hội nói chung. Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn tại Vietinbank
Phú Thọ vẫn còn một số hạn chế nhất định. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với
Vietinbank Phú Thọ là phải khắc phục những hạn chế đó để tăng cường hoạt
động huy động vốn nhằm mục tiêu đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển của
ngân hàng.
Để góp phần giải quyết vấn đề này, trên cơ sở kết hợp giữa nghiên cứu
lý luận và thực tiễn, trong thời gian công tác tại Vietinbank Phú Thọ, tôi đã
chọn đề tài “Giải pháp tăng cường năng lực huy động vốn tại Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn của mình.




3

Dựa trên thực trạng công tác huy động vốn của Chi nhánh, luận văn
đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại
Vietinbank Phú Thọ nhằm phát triển các hoạt động của Chi nhánh trong các
năm tiếp theo.
* Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn của Ngân
hàng thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác huy động vốn tại Vietinbank
Phú Thọ, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực huy động vốn tại Vietinbank
Phú Thọ, đồng thời đưa ra một số kiến nghị đối với Chính phủ và NHNN và
Vietinbank.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn và năng lực huy động
vốn của ngân hàng thương mại.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động huy động vốn và năng lực huy động
vốn tại Vietinbank Phú Thọ.
Chương 4: Giải pháp tăng cường năng lực huy động vốn tại Vietinbank
Phú Thọ.


4

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ NĂNG

nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận
góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước.
1.1.2. Vai trò và chức năng cơ bản của Ngân Hàng thương mại
1.1.2.1. Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế
*) Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: NHTM ra đời là
tất yếu của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá phát triển, lưu thông
hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người thì có vốn nhàn
rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh. NHTM ra đời
là chìa khoá giúp cho người cần vốn có được vốn và người có vốn tạm thời
nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn. Các ngân hàng cũng cân đối được vốn
trong nền kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển. Các
ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các
cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất với
trang thiết bị hiện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn. có lợi nhuận cao hơn. Xã
hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tăng, không một tổ
chức nào có thể đáp ứng được. Chỉ có ngân hàng - một tổ chức trung gian tài
chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả các thành
phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng.
*) Ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ để tiếp cận
tốt hơn đến thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không phải là cứ sản
xuất bất cứ cái gì mà phải luôn trả lời được 3 câu hỏi: sản xuất cái gì? sản
xuất như thế nào ? và sản xuất cho ai? Có nghĩa là sản xuất theo tín hiệu của
thị trường. Thị trường yêu cầu các doanh nghiệp phải sản xuất ra các sản
phẩm với chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, phù hợp với thị hiếu của


6


*) Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền
tài chính quốc tế
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc
hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho
các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia trên thế
giới ngày càng được mở rộng và trở nên cần thiết, cấp bách. Nền tài chính của
một quốc gia cần phải hoà nhập với nền tài chính thế giới. Các ngân hàng
thương mại là trung gian, cầu nối để tiến hành hội nhập. Đầu tư ra nước ngoài
là một hướng đầu tư quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận. Đồng thời các
nước cần xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu
những mặt hàng mà mình thiếu. Các NHTM với những nghiệp vụ kinh doanh
như: nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh... và đặc biệt là các nghiệp vụ thanh
toán quốc tế, đã góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy ngoại thương không ngừng
được mở rộng và phát triển.
1.1.2.2. Chức năng của NHTM
* Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Thực hiện chức năng
này NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người cần vốn.
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế. NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp vốn cho nền kinh
tế.Với chức năng này NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay , vừa đóng vai
trò là người cho vay. NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham
gia, bao gồm người gửi tiền, ngân hàng , người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế
+ Đối với người gửi tiền, họ thu hút được từ nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ.


8

9

rất nhiều lần khi khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khối lượng tiền qua
hệ thống ngân hàng được tính theo công thức
D= m X MB
Trong đó: D: Khối lượng tiền qua hệ thống NH
MB: Khối lượng tiền cơ sở
M = 1/rd: Hệ số nhân tiền
Rd: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHTW có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi
lượng tiền tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của
NHTM từ đó ảnh hưởng đến khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế do đó đạt
được hiệu quả mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặt ra.
1.2. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về huy động vốn và Năng lực huy động vốn của NHTM
“Năng lực” theo Từ điển tiếng Việt là khả năng đủ để làm một công
việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để
thực hiện một hoạt động nào đó.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy
động được để tiến hành các hoạt động cho vay, đầu tư hoặc các dịch vụ kinh
doanh khác nhằm đạt dược mục tiêu khác nhau. Biểu hiện của vốn trong kinh
doanh ngân hàng chủ yếu là tiền.Vốn của ngân hàng cũng có thể thuộc quyền
sở hữu của chủ ngân hàng hoặc vay từ bên ngoài.Việc sử dụng vốn phải đáp
ứng yêu cầu lợi nhuận và an toàn.
Huy động vốn là việc các NHTM động viên các nguồn vốn trong xã
hội để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình. Huy động vốn là trong
những hoạt động chính của NHTM. Đây là hoạt động tìm kiếm các nguồn tài
trợ, là hoạt động tiền đề để tiến hành các hoạt động khác.
“Năng lực huy động vốn của Ngân hàng TMCP Công thương – Chi
nhánh Phú Thọ” phải hiểu là khả năng, điều kiện vốn có của chi nhánh để huy

nó là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng ma còn vì nó là một trong


11

những hoạt động chủ yếu và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó
trong mọi giai đoạn, nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn luôn là vấn đề
được các Ngân hàng Thương mại chú trọng.
Nhu cầu phát triển của xã hội ngày càng tăng kéo theo nhu cầu về vốn
của các thành phần kinh tế, của dân cư... Để đáp ứng được mọi yêu cầu này
thì các ngân hàng phải có một nguồn vốn đủ lớn để có thể phục vụ cho sự
phát triển chung của nền kinh tế, mà nguồn vốn tự có của ngân hàng luôn là quá
“nhỏ bé” trước yêu cầu phát triển của xã hội. Do đó để có thể có một lượng vốn
cần thiết để thực hiện sứ mệnh “bà đỡ” cho nền kinh tế thì các Ngân hàng
Thương mại phải tìm cách tăng trưởng nguồn vốn hiện có của mình và vấn đề
nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn được đặt ra rất bức thiết.
Các Ngân hàng Thương mại hoạt động trên thị trường với tư cách là
các trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là phân phối lại tiền tệ trong
xã hội, thúc đẩy nền kinh tế không ngừng phát triển. Hoạt động huy động vốn
chính là việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để rồi sau đó ngân
hàng phân phối đến nơi thiếu vốn (bằng các hoạt động cho vay, đầu tư). Làm
tốt công tác huy động vốn cũng đồng nghĩa với ngân hàng làm tốt nhiệm vụ
quan trọng nhất của mình . Cho nên mọi Ngân hàng Thương mại đều ý thức
được sự cần thiết của việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động huy động vốn.
Đối với khách hàng
*) Đối với dân cư
Nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp cho mọi người dân các phương
thức tiết kiệm tiền hợp lý và an toàn. Nguồn tiền tiết kiệm trong dân cư rất dồi
dào, có nhiều điều kiện thuận lợi để ngân hàng sử dụng kinh doanh. Để thu
hút được các nguồn vốn này các ngân hàng đã sử dụng nhiều hình thức huy

doanh của NHTM
1.2.3.1. Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn
nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên


13

trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình
thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính
của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Đây là nguồn vốn
sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng, gồm:
a. Nguồn vốn hình thành ban đầu
Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn
ban đầu khác nhau. Nếu ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, ngân sách Nhà
nước cấp. Nếu ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ
phần hoặc cổ phiếu. Ngân hàng liên doanh do các bên đóng góp; ngân hàng tư
nhân là vốn thuộc sở hữu tư nhân.
b. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ sở hữu theo
nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể.
Nguồn từ lợi nhuận: Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn không, chủ
ngân hàng có xu hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu
nhập ròng thành vốn đầu tư. Tỷ lệ trích lập tuỳ thuộc cân nhắc của chủ ngân
hàng về tích luỹ và tiêu dùng.
Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để
mở rộng quy mô hoạt động, hoặc có thể đổi mới trang thiết bị hoặc có thể đáp
ứng nhu cầu gia tăng vốn của chủ do Ngân hàng Nhà nước quy định.
c. Các quỹ
Ngân hàng có nhiều quỹ, mỗi quỹ có mục đích riêng. Trước tiên là quỹ dự

b. Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ
được chi trả sau một thời gian xác định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện
cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu
cho người gửi tiền ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người
gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán
để áp dụng với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải rút tiền ra.
Tuy không thuận lợi bằng tiền gửi thanh toán nhưng tiền gửi có kỳ hạn lại
được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo kỳ hạn gửi tiền.


15

c. Tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng
(các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng tiếp cận được với ngân
hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện mục tiêu an toàn và sinh lời
đối với các khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu an toàn. Nhằm thu hút
ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều khuyến khích dân cư thay
đổi thói quen giữ tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động vốn,
đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn. Sổ tiết
kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và các dịch vụ của ngân hàng
song có thể thể thế chấp vay vốn nếu được sự cho phép của ngân hàng.
d. Tiền gửi của các ngân hàng khác
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác NHTM
này có thể gửi tiền ở tại ngân hàng khác. Tuy nhiên quy mô của nguồn tiền
gửi này là thường không lớn.
1.2.3.3. Nguồn tiền vay và các nghiệp vụ huy động tiền vay
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Tuy nhiên, khi cần,
ngân hàng thường vay mượn thêm. Tại nhiều nước, Ngân hàng trung ương

đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó là
nguồn bổ sung thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN.
c. Vay trên thị trường vốn
Giống như các doanh nghiệp khác, các NHTM cũng vay mượn bằng
cách phát hành các giấy nợ, trên thị trường vốn. Rất nhiều NHTM thiếu
nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho vay
trung và dài hạn. Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho
các nguồn tiền gửi trung và dài hạn, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và
dài hạn. Thông thường đây là các khoản vay không có đảm bảo. Những ngân
hàng có uy tín hoặc được trả lãi suất cao hơn sẽ vay mượn được nhiều hơn.
1.2.3.4. Các nguồn khác và nghiệp vụ huy động vốn từ các nguồn khác
Phần lớn các nguồn khác ngân hàng không phải trả lãi. Tuy nhiên, chi phí
để có và duy trì chúng là rất đáng kể. Ví dụ để có các nguồn uỷ thác ngân hàng


17

phải tìm kiếm các chủ đầu tư, tìm hiểu yêu cầu của họ, nghiên cứu các dự án mà
họ tài trợ… Nhìn chung các nguồn khác trong NHTM là không lớn (chỉ trừ một
số ngân hàng có nguồn uỷ thác của NHNN và các tổ chức quốc tế). Việc gia
tăng các nguồn này nằm trong chính sách tăng nguồn vốn cho ngân hàng và bị
ảnh hưởng rất lớn bởi khả năng thực hiện và mở rộng các dịch vụ khác.Các
nguồn khác bao gồm nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán…..
a. Nguồn uỷ thác
NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu
tư, uỷ thác cấp phát… Các hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác trong các
NHTM. Cùng với sự phát triển các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ
chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển như ngân hàng, các nguồn tài
chính của các tổ chức này đã sử dụng mạng lưới ngân hàng như kênh dẫn vốn
tới các mục tiêu. Kết quả là hình thành các nguồn uỷ thác, làm gia tăng vốn

Ngân hàng thường phát hành thẻ tiết kiệm không kỳ hạn để thu hút
những khoản tiền nhỏ lẻ hoặc những khoản vốn nhàn rỗi có thời gian ngắn
hay khách hàng không xác định được thời gian phát sinh nhu cầu sử dụng.
Khi gửi tiền, khách hàng được nhận một sổ tiết kiệm không kỳ hạn và có thể
rút tiền ra bất cứ lúc nào nhưng không được phát séc (đây là điểm khác biệt
với tiền gửi giao dịch). Đồng thời, do nhu cầu gửi tiền của khách hàng rất đa
dạng tùy thuộc vào nhu cầu của họ trong hiện tại và tương lai nên các NHTM
thường quy định nhiều loại kỳ hạn gửi tiền (1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng,
9 tháng, 12 tháng…) theo nhiều hình thức khác nhau (tiết kiệm định kỳ, tiết
kiệm bậc thang, tiết kiệm tích lũy,…) với nhiều cách thức trả lãi (trả lãi định
kỳ, trả lãi trước, trả lãi cuối kỳ,…) cho khách hàng lựa chọn nhằm thu hút tiền
gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Để huy động khối lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu tài sản trong từng
thời kỳ nhất định, NHTM thường tổ chức phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu,
trái phiếu,…) với lãi suất hấp dẫn hơn tiền gửi tiết kiệm, đối tượng khách
hàng này rất quan tâm đến thu nhập từ tài sản của họ. NHTM cũng có thể


19

thông qua các tổ chức nhận làm đại lý hay bảo lãnh phát hành để phát hành
giấy tờ có giá của ngân hàng ra công chúng đầu tư (chủ yếu là các loại giấy tờ
có giá dài hạn như trái phiếu, chứng chỉ có giá dài hạn,….). Sử dụng phương
thức này ngân hàng sẽ có những lợi ích như: huy động được nguồn vốn lớn
với chi phí và lãi suất huy động thấp hơn; chiến lược sử dụng vốn được xây
dựng phù hợp với mục tiêu của ngân hàng; được nhiều nhà đầu tư biết đến.
- Tổ chức bảo lãnh phát hành có thể là các công ty chứng khoán hay
các định chế tài chính khác theo quy định của pháp luật. Có hai hình thức bảo
lãnh: bảo lãnh một phần là bảo lãnh phát hành tối đa đến mức có thể một số
lượng trái phiếu; bảo lãnh chắc chắn là bảo lãnh mua số chứng khoán chưa

phẩm của ngân hàng – tức là bán các sản phẩm khác cùng với các sản phẩm
chính nhất định – nguồn vốn huy động từ khách hàng của ngân hàng sẽ được
tăng lên.
Trong cơ chế thị trường, khách hàng là người có quyền quyết định việc
gửi tiền ở đâu? khi nào? và bằng cách nào? Khác với hoạt động của ngân
hàng trong nền kinh tế kế hoạch hóa, ngân hàng chỉ huy động vốn thông qua
các sản phẩm truyền thống và thụ động đợi khách hàng đến gửi tiền, ngày nay
các NHTM đều cố gắng giới thiệu cho khách hàng các sản phẩm, dịch vụ sẵn
có của mình và các giá trị tăng thêm trên từng sản phẩm bằng nhiều kênh
thông tin khác nhau để thu hút khách hàng. Có thể kể đến một số loại sản
phẩm có thể gián tiếp huy động vốn hay bán chéo sản phẩm như: phát hành
thẻ ATM miễn phí cho khách hàng có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tiết
kiệm; tăng các tiện ích cho tài khoản tiền gửi cá nhân (trả lương qua tài
khoản, thanh toán hóa đơn các dịch vụ,…); khách hàng gửi tiền được ưu tiên
sử dụng các dịch vụ home-banking, internet-banking, phone-banking…;
khách hàng vay vốn mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng được hưởng lãi suất
ưu đãi; khi vay vốn phải có tiền gửi k ý quỹ; gắn sản phẩm huy động vốn với
nhận giấy chứng nhận bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học đường;… để hấp dẫn
khách hàng, khuyến khích họ giao dịch với ngân hàng nhiều hơn, và qua đó
thu hút được nhiều vốn hơn.


21

1.2.5. Nội dung các biện pháp tạo vốn của NHTM
1.2.5.1. Biện pháp kinh tế
Khi sử dụng các biện pháp kinh tế để huy động vốn tức là việc ngân
hàng sử dụng đòn bẩy kinh tế để thu hút khách hàng, được thể hiện bằng lãi
suất hay phí dịch vụ. áp dụng lãi suất cạnh tranh là việc ngân hàng nâng cao
lãi suất huy động hạ phí dịch vụ so với bình quân thị trường (việc này không

NHTMCP.Trên thực tế ta thấy rất rõ, NHTMCP luôn có lãi suất cao hơn các
NHTM của nhà nước. Nhưng khách hàng thường không thay đổi ngay lập tức
ngân hàng. Vì chi phí và sự rủi ro cho sự thay đổi này là không nhỏ. Hơn nữa
là khách hàng đã quen với các hoạt động giao dịch của ngân hàng mình đã
chọn, cách chăm sóc khách hàng, các dịch vụưu đãi vv…Theo nghiên cứu của
một số chuyên gia Mỹ: Các công ty lẫn cá nhân khi xem xét gửi tiền thì quan
tâm đến rất nhiều yếu tố chứ không chỉđơn thuần là lãi suất. Các cá nhân thì
đặcbiệt quan tâm đến quan hệ lâu dài vàđịa điểm thuận lợi. Trái lại các doanh
nghiệplại ưu tiên các ngân hàng có khả năng cho vay tốt và tình hình tài chính
vững mạnh.
- Chính sách định giá mục tiêu trọng điểm
Ngân hàng mong muốn thu hút các cá nhân và doanh nghiệp gửi tiền
thông qua các điều khoản tiền gửi hấp dẫn với hy vọng nhận được các khoản
tiền gửi quy mô lớn, nhằm tăng cường khả năng huy động vốn. Ngân hàng áp
dụng những chương trình quảng cáo công phu cũng như lãi suất hấp dẫn để
thu hút những khách hàng cóđịa vị trong xã hội. Đối với khách hàng có số dư
thấp, ít ổn định ngân hàng định giá cao hơn để hạn chế. Chiến lược này
thường kết hợp với chương trình nhà ngân hàng cá nhân (personal banhker),
theo đó mỗi khách hàng lớn được một cán bộ ngân hàng chịu trách nhiệm đáp
ứng tất cả các nhu cầu dịch vụ ngân hàng.
Việc áp dụng chính sách này giảm được chi phí nhờ có được nhiều
tài khoản có số dư cao và ổn định. Nhưng cũng có những bất lợi là khó áp
dụng được với những ngân hàng nằm tại những khu vực không phát triển
thịnh vượng.


23

- Chính sách lãi suất trên cơ sở mối quan hệ tổng thể với khách hàng:
Ngân hàng quy định mức phí thấp hơn và mức thu nhập cao hơn cho

đầu tư tự động, chuyển các nguồn thu nhập vào tài khoản, chỉ trả các hoá đơn
và vay tiền.
* Phân phối:
Đối với các khách hàng cá nhân, địa điểm thuận tiện là một trong
những vấn đề quan trọng. Ngày nay, để tiếp cận một ngân hàng khách hàng
không chỉ có cách duy nhất là tới các chi nhánh, họ có thể tiếp cận với ngân
hàng một cách gián tiếp thông qua các hệ thống homebanking, EFTPOS, máy
rút tiền tự động. Nếu một ngân hàng có đầy đủ các hệ thống trên sẽ thu hút
đuợc khách hàng gửi tiền tại ngân hàng của mình. Bên cạnh đó, không thể
phủ nhận sự tồn tại của các chi nhánh, các phòng giao dịch. Những phòng
giao dịch khang trang với hệ thống máy móc hiện đại hoặc nằm trong những
vị trí đắc địa luôn tạo những cam giác an toàn , thuận tiện với khách hàng.
1.2.5.3. Biện pháp tâm lý
* Con người:
Khách hàng luôn có rất nhiều ấn tượng với phong cách phục vụ của các
nhân viên. Các ngân hàng Việt Nam đang quan tâm đến vấn đề này thông qua
việc đầu tư xây dựng những quyền cẩm nang phục vụ khách hàng. Phong
cách ở đây được hiểu là cả thái độ phục vụ lẫn trình độ chuyên môn của nhân
viên. Trong quyển cẩm nang đó nhân viên được dậy cách tiếp cận sao cho
hiệu quả với khách hàng mới, với khách hàng đã từng nhiều lần đến gửi tiền.
Vấn đề trình độ chuyên môn cũng như khả năng xử lý thành thạo quy trình
nghiệp vụ cũng được đề cập tới. Các nhân viên sẽ được hướng dẫn cách xử lý
các tình huống hàng ngày
Trong khoảng thời gian nào đó, khi lãi suất ngoại tệ tăng liên tục do
FED tăng lãi suất nhân viên ngân hàng có hiểu biết thì có thể khuyên khách
hàng gửi ngắn hạn để có thể nhận được những mức lãi suất cao hơn trong
những kỳ tiết kiệm tiếp theo. Nếu trong giai đoạn, khi FED liên tục hạ lãi suất
mà vẫn chưa vực được nền kinh tế Mỹ, nhân viên ngân hàng có thể khuyên




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status