Hoàn thiện công tác huy động vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh khu vực bãi cháy quảng ninh - Pdf 34

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, trong bối cảnh nền kinh tế trị trường không ngừng hoàn
thiện và phát triển, vốn là một yếu tố hết sức quan trọng, quyết định sự tăng
trưởng và phát triển của cả nền kinh tế. Mọi các thành phần kinh tế đều cần có
vốn để đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh. Vậy nguồn vốn này được lấy từ
đâu? Sự ra đời của các tổ chức tín dụng và sự phát triển bùng nổ của hệ thống
các Ngân hàng thương mại đã trả lời cho câu hỏi này. Ngân hàng thương mại
có vai trò tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi để cung cấp cho những doanh nghiệp
thiếu vốn trong nền kinh tế. Quá trình chu chuyển vốn trên thị trường chủ yếu
được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại và thị trường tín
dụng. Hơn 80% lượng vốn trong nền kinh tế là do hệ thống ngân hàng thương
mại cung cấp. Do đó, nghiệp vụ huy động vốn luôn là nghiệp vụ cốt lõi liên
quan trực tiếp tới sự tồn tại của ngân hàng thương mại.
Cùng với việc gia nhập WTO, ngành tài chính - ngân hàng của Việt
Nam đang đứng trước một vận mệnh mới, đó là tự do hóa thương mại trong
lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Mức độ cạnh tranh ngày một cao sẽ khiến cho
các ngân hàng phải tìm cách phát huy lợi thế so sánh của mình để tồn tại và
phát triển. Là một trong số các ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan
trọng trong nền kinh tế và đang phấn đấu trở thành một ngân hàng tầm cỡ
trong khu vực, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
phải chuẩn bị cho mình một nền tảng vốn vững mạnh, từ đó làm điểm tựa để
Ngân hàng triển khai các hoạt động nhằm tăng sức cạnh tranh của mình.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hoàn
thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn - Chi nhánh khu vực Bãi Cháy - Quảng Ninh” để nghiên cứu
thực trạng và đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn, tăng



3
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của luận văn
Luận văn có ý nghĩa thực tiễn cho hoạt động huy động vốn tại
Agribank Chi nhánh khu vực Bãi Cháy nói riêng và các ngân hàng khác trong
những điều kiện tương tự. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp các nhà quản
lý đánh giá được thực trạng hoạt động huy động vốn tại Agribank Chi nhánh
Bãi Cháy trong giai đoạn 2011-2013, để từ đó có các biện pháp nâng cao hiệu
quả huy động vốn.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh khu vực Bãi Cháy - Quảng Ninh.
- Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn tại
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh khu vực Bãi
Cháy - Quảng Ninh.


4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề chung về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái quát về NHTM trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang
tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại

hệ thống ngân hàng hai cấp: cấp quản lý và kinh doanh. Sau khi Nghị định số
53/HĐBT được ban hành ngày 26/03/1998 bộ máy NHNN được tổ chức
thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp là NHNN và các Ngân
hàng chuyên doanh trực thuộc. Hệ thống NHNN Việt Nam hoạt động theo
chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Theo Pháp lệnh
Ngân hàng số 38 - LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định: NHTM là: “tổ
chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách
hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện
nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
Trung gian tín dụng
Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong
nền kinh tế, mặt khác nó dùng chính số tiền huy động được để cho vay đối với
các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng
vai trò là “cầu nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn. Thông
qua sự điều chuyển này, ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư,
ổn định thu chi Chính phủ. Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng
trong việc điều hòa lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Từ đó cho thấy rằng,
đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại.


6
Trung gian thanh toán
Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài
ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản,
vận chuyển tiền... Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các
khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội
dần được thực hiện qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp,
thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại

trường vốn.
Ngân hàng góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước và
cung cấp các dịch vụ tài chính khác.
1.2. Khái niệm, đặc điểm của vốn huy động trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm về vốn huy động của ngân hàng thương mại
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân
hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả. Vốn huy
động còn được gọi là tài sản nợ ngân hàng. Bộ phận nguồn vốn này chiếm tỷ
trọng lớn và chủ yếu nhất trong cơ cấu nguồn vốn của bất kỳ ngân hàng
thương mại nào.
Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức
khác nhau, mang tính đặc thù riêng vốn có của NHTM. Đây cũng chính là
điểm khác biệt giữa NHTM với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Thực chất, vốn huy động của ngân hàng là một bộ phận của thu nhập
quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng,
người chủ sở hữu của chúng gửi vào ngân hàng nhằm mục đích thanh toán,
tiết kiệm hay đầu tư. Nói cách khác họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn
cho ngân hàng để ngân hàng trả lại cho họ một khoản thu nhập hoặc một số


8
tiện ích khác. Sau đó, ngân hàng sử dụng lại những nguồn vốn này để cấp tín
dụng cho những người có nhu cầu sử dụng vốn.
Như vậy ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại
vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích
thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời chính những hoạt động đó
lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
(Chương 2: Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại, giáo trình nghiệp vụ
ngân hàng, Học viện ngân hàng).

được huy động với lãi suất thấp.
1.3.1.2. Huy động trung hạn
Đây là nguồn huy động vốn của ngân hàng thông qua phát hành các
công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 5 năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận
tiện. Tuy nhiên lãi suất nguồn huy động này thường cao hơn nguồn ngắn hạn.
Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện
các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi
suất cao.
1.3.1.3. Huy động dài hạn
Đây là nguồn vốn huy động mà ngân hàng chủ yếu huy động được trên
thị trường vốn, với nguồn này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng vì có tính ổn
định cao. Do vậy, lãi suất ngân hàng phải trả cũng rất cao.
1.3.2. Căn cứ phân loại theo đối tượng huy động
1.3.2.1. Huy động vốn từ dân cư
Mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có những khoản tiền dự phòng cho
những tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Khi xã hội càng phát triển thì các
khoản dự phòng càng tăng lên. Nắm bắt được những đặc tính đó, các Ngân
hàng Thương mại tìm mọi hình thức để huy động các khoản tiết kiệm này, vì


10
nếu gom được chúng ngân hàng sẽ có một nguồn vốn không nhỏ để đáp ứng
nhu cầu vốn của nền kinh tế đồng thời thu được lợi nhuận.
1.3.2.2. Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội
Đây là lĩnh vực ngân hàng huy động được lượng vốn rất lớn, chiếm tỷ
trọng khá lớn trong tổng vốn huy động, vì các đơn vị này gửi một khối lượng
lớn tiền vào ngân hàng để hưởng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Giao
dịch tiền tệ giữa các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của họ. Do có sự đan xen giữa
các khoản phải thanh toán và các khoản phải thu tiền mà trên tài khoản của

nào có nhu cầu. Mục đích chính của người gửi tiền nhằm đảm bảo an toàn về
tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng nên cũng được gọi là
tiền gửi thanh toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng là cá
nhân hoặc tổ chức có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
Để mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHTM, khách hàng cần làm
thủ tục sau:
- Đối với khách hàng cá nhân chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị mở tài
khoản tiền gửi cá nhân, đăng ký chữ ký mẫu, xuất trình và nộp bản sao giấy
chứng minh nhân dân.
- Đối với khách hàng là tổ chức, chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị
mở tài khoản tiền gửi thanh toán, đăng ký mẫu chữ ký và con dấu của
người đại diện, xuất trình và nộp bản sao các giấy tờ chứng minh tư cách
pháp nhân của tổ chức, và các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp
pháp của chủ tài khoản.
- Đối với khách hàng là đồng chủ tài khoản cần điền và nộp giấy đề
nghị mở tài khoản đồng sở hữu, các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp
pháp của người đại diện cho tổ chức tham gia tài khoản đồng sở hữu, văn bản
thỏa thuận quản lý và sử dụng tài khoản chung của các đồng chủ tài khoản.
Theo thông lệ ở các nước phát triển, ngân hàng không trả lãi cho khách
hàng mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn vì mục đích của khách hàng khi sử


12
dụng tài khoản này là để thực hiện thanh toán qua ngân hàng chứ không phải
vì mục đích hưởng lãi. Hơn nữa ngân hàng còn yêu cầu khách hàng phải duy
trì một số dư tối thiểu để được hưởng các dịch vụ của ngân hàng, nếu không
có đủ số dư này thì khách hàng phải trả phí cho ngân hàng khi sử dụng các
dịch vụ của ngân hàng.
Ở Việt Nam, do thói quen thanh toán bằng tiền mặt và dân chúng chưa
quen với việc sử dụng tài khoản để thanh toán nên để thu hút khách hàng,

+ Tiết kiệm không kỳ hạn: Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng là cá nhân có tiền tạm thời nhàn
rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi, nhưng không thiết lập
được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai. Đối với khách hàng khi lựa
chọn hình thức tiền gửi này, thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn là
mục tiêu sinh lợi. Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi này khách hàng muốn
rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả
và không chủ động được khi lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng.
Do vậy, ngân hàng thường trả lãi suất rất thấp cho loại tiền gửi này.
Đối với loại tiền gửi này, khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền bất cứ
lúc nào trong giờ giao dịch, mỗi lần giao dịch khách hàng phải xuất trình sổ
tiền gửi và chỉ có thể thực hiện được các giao dịch ngân quỹ như gửi tiền hoặc
rút tiền, không thể thực hiện được các giao dịch thanh toán như trong trường
hợp tiền gửi thanh toán.Thủ tục mở sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn rất đơn
giản, khách hàng đến bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng điền vào mẫu giấy
đề nghị gửi tiết kiệm không kỳ hạn có kèm theo giấy chứng minh nhân dân và
chữ ký mẫu. Nhân viên sẽ hoàn tất thủ tục nhận tiền và cấp sổ tiền gửi ngay
cho khách hàng.
+ Tiết kiệm có kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm định kỳ được thiết kế dành
cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và
thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối tượng khách hàng
chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và


14
thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý. Đa số
khách hàng thích lựa chọn hình thức gửi tiền này là công nhân, nhân viên hưu
trí. Mục tiêu quan trọng của họ khi chọn lựa hình thức tiền gửi này là lợi tức
có được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút
được đối tượng khách hàng này. Dĩ nhiên, lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết

phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Điều
đó, có nghĩa ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, nghĩa là có đầu ra mới
tính đầu vào. Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động
và đưa ra mức lãi suất hợp lý làm cho việc huy động vốn của ngân hàng thành
công nhanh chóng. Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ
phiếu, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu.
+ Kỳ phiếu ngân hàng: là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân
hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư, chủ yếu là để phục vụ cho
những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một
chương trình kinh tế,…
+ Chứng chỉ tiền gửi (CDs): là công cụ vay nợ do ngân hàng bán cho
người gửi tiền với lãi suất nhất định và được lưu thông khi chưa đến hạn
thanh toán. Người sở hữu CDs có thể được hoàn trả toàn bộ số tiền gửi cộng
với lãi khi đến hạn hoặc có thể bán CDs trước hạn thanh toán trên thị trường
tiền tệ. CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính trên cơ sở 360
ngày và trả theo mệnh giá và thời hạn.
+ Trái phiếu ngân hàng: là một giấy tờ có giá, xác nhận một khoản nợ
của ngân hàng với khách hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền
xác định vào một ngày xác định trong tương lai. Trái phiếu được phát hành
trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu để huy động vốn trung và dài hạn.
Vay ngân hàng Trung ương:
Khi cần vốn cấp bách để đảm bảo khả năng thanh toán thì NHTM có thể
vay của NHTW bằng cách tái chiết khấu giấy tờ có giá hoặc được tái cấp vốn.
Vay các TCTD khác:
Đó là nguồn mà các NHTM vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân
hàng. Đây cũng là một hình thức cho vay, nhưng thực chất nó là một hình


16
thức tương trợ giữa các ngân hàng để có được sự hợp tác đôi bên cùng có lợi.

- Tình hình thực tế của kinh tế xã hội: Yếu tố về sự phát triển kinh tế vĩ
mô của toàn xã hội luôn có những tác động trực tiếp đến công tác huy động
vốn của các ngân hàng thương mại. Khi một nền kinh tế phát triển bền vững
thì các thành phần kinh tế mới gia tăng được thu nhập, doanh thu, đồng thời
yên tâm gửi tiền vào ngân hàng. Hoặc ngược lại, trong thời kỳ mà nền kinh tế
có nhiều biến động, lạm phát cao, thì mọi người có xu hướng giữ tiền lại để
đảm bảo an toàn.
- Chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cũng như các quy
định cụ thể trong lĩnh vực hoạt động của ngành ngân hàng. Do đặc trưng hoạt
động của NHTM trên thị trường tài chính, mà tầm ảnh hưởng của các ngân
hàng đến sự phát triển kinh tế là rất lớn. Chính vì vậy, mà Chính phủ các quốc
gia luôn kiểm soát rất chặt chẽ các hoạt động của NHTM. Các hoạt động huy
động vốn của NHTM sẽ được điều chỉnh kiểm soát chặt chẽ theo các quy định
của Ngân hàng Nhà nước.
- Và cuối cùng là tình hình thực tế của ngân hàng mà có thể đưa ra các
cách tổ chức huy động vốn thích hợp hơn. Một ngân hàng lớn, với mạng lưới
chi nhánh rộng có nhiều khả năng huy động được lượng vốn lớn.
1.4.2. Tổ chức công tác huy động vốn của NHTM
Trong thực tế, khi một doanh nghiệp muốn thành lập và đi vào hoạt
động thì yếu tố đầu tiên không thể thiếu là yếu tố vốn. Đó sẽ là cơ sở đầu tiên
để doanh nghiệp mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, mua nguyên
vật liệu. Đặc biệt, hoạt động của các ngân hàng trên thị trường chủ yếu là kinh
doanh tiền tệ nên điều tất yếu là phải có một lượng vốn ban đầu lớn. Mặt
khác, do hoạt động đặc thù của các ngân hàng là kinh doanh một lượng tiền
rất lớn, do vậy việc huy động vốn đòi hỏi phải diễn ra liên tục. Có thể nói hoạt
động huy động vốn trên thị trường là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trên thị trường.


18

19
mình, đồng thời tận dụng được các cơ hội kinh doanh, tăng thời gian quay
vòng vốn. Tính chất sử dụng vốn của các ngân hàng không chỉ là thời hạn của
khoản tín dụng, mà còn là phương thức thanh toán trong nước hay quốc tế.
- Điều tiếp theo cần phải kể đến là vấn đề an toàn về vốn trong công tác
huy động vốn. Hoạt động của các NHTM trên thị trường tài chính luôn hàm
chứa rất nhiều những rủi ro, do vậy vấn đề đảm bảo các điều kiện an toàn về
vốn là một việc hết sức cần thiết. Sự an toàn trong công tác huy động vốn có
thể thể hiện ở tính thanh khoản của khoản vốn. Bởi vì, trong quá trình kinh
doanh các khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào, do vậy các khoản vốn mà
ngân hàng huy động được cần phải bảo đảm tính thanh khoản song song với
việc sinh lãi.
- Chi phí thấp, cơ cấu vốn phù hợp. Hoạt động kinh doanh của các
NHTM là vì mục tiêu lợi nhuận, vì thế yếu tố chi phí cho hoạt động huy động
vốn của ngân hàng sẽ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nó sẽ quyết định
đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng, cũng như vấn đề về lợi nhuận của
ngân hàng. Ngoài ra cơ cấu của nguồn vốn cũng có ảnh hưởng rất lớn tới cơ
cấu tài sản và quyết định chi phí của ngân hàng. Quản lý cơ cấu của nguồn
huy động phải đảm bảo các nội dung sau:
Thống kê đầy đủ và kịp thời các thay đổi về các loại nguồn vốn huy
động, tốc độ quay vòng của mỗi loại.
Phân tích kỹ lưỡng các nhân tố gắn liền với thay đổi đó.
Lập kế hoạch phù hợp cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu sử dụng.
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn tại Ngân hàng
Thương mại
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ kinh doanh
truyền thống của các ngân hàng. Nó có ý nghĩa quan trọng với hoạt động của
bất cứ NHTM nào vì nó cung cấp vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Do đó để nghiệp vụ này mang lại kết quả cao nhất thì bên cạnh việc tìm



21
Trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng, chiến lược khách hàng
đóng vai trò rất quan trọng. Nó tác động trực tiếp đến sự thành công trong
công tác huy động vốn của ngân hàng. Để có được thành công, trước tiên,
ngân hàng cần phải tìm hiểu động cơ, thói quen, mong muốn của người gửi
tiền, thậm chí từng đối tượng khách hàng thông qua phân tích lợi ích khách
hàng. Trên cơ sở thông tin về khách hàng đưa ra chính sách lãi suất hợp lý
đồng thời xây dựng chính sách phục vụ và tiếp đón khách hàng tạo sự thoải
mái khi khách hàng giao dịch. Từ đó, sẽ tạo thuận lợi cho công tác huy động
vốn của ngân hàng.
Công tác cân đối vốn
Một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với kế hoạch sử dụng
vốn trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho các Ngân hàng Thương mại đạt
được mục tiêu lợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh. Sự hài
hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn của
ngân hàng. Công tác cân đối vốn là hết sức quan trọng và cần thiết đối với
hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào. Đó là một biện pháp nghiệp vụ, là một
công cụ quản lý của các nhà lãnh đạo ngân hàng, thông qua bảng cân đối vốn
đã lập, các cán bộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn
vốn và từng khoản sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương
lai, từ đó co chính sách huy động vốn thích hợp.
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng
Đây cũng là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
huy động vốn của ngân hàng. Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng đa
dạng, phong phú bao nhiêu thì khả năng thu hút vốn từ nền kinh tế sẽ càng
lớn bấy nhiêu. Điều này xuất phát từ sự khác nhau trong nhu cầu tâm lý của
các tầng lớp dân cư. Mức độ đa dạng các hình thức càng cao thì càng dễ dàng
đáp ứng một cách tối đa nhu cầu của dân cư, vì họ đều tìm thấy cho mình một
hình thức gửi tiết kiệm phù hợp mà lại an toàn. Do vậy các Ngân hàng

điểm cũng tác động đến tâm lý khách hàng, một ngân hàng nằm ở vị trí thuận


23
lợi như khu vực trung tâm, đông dân cư, đi lại thuận tiện,… sẽ giúp ngân
hàng thu hút được nhiều khách hàng hơn.
Uy tín của ngân hàng
Trên cơ sở nghiên cứu sẵn có đã đạt được, mỗi ngân hàng sẽ tạo được
một hình ảnh riêng trong lòng khách hàng. Một ngân hàng lớn có uy tín tiếng
tăm trong nhiều năm sẽ có lợi thế hơn trong việc huy động vốn. Sự tin tưởng
của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có khả năng ổn định khối lượng vốn
huy động và tiết kiệm chi phí huy động. Thậm chí, trong trường hợp lãi suất
tiền gửi tại ngân hàng thấp hơn đôi chút, những người có tiền vẫn lựa chọn
một ngân hàng có uy tín hơn để gửi mà không tìm những nơi có lãi suất hấp
dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của mình được tuyệt đối an toàn.
Năng lực trình độ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng.
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng càng cao, mọi thao tác thực
hiện nhanh chóng, chính xác, hiệu quả; thái độ phục vụ, tác phong làm việc
của nhân viên ngân hàng tốt, nhiệt tình, cởi mở, tạo thuận lợi cho khách hàng
sẽ gây được ấn tượng tốt với khách hàng, từ đó sẽ thu hút được nhiều khách
hàng hơn. Thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng đối với khách hàng có
ảnh hưởng lớn đến công tác huy động vốn cho ngân hàng. Do đó ngân hàng
cần chú trọng đến công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ
công nhân viên của mình đồng thời mỗi nhân viên cũng cần nâng cao tác
phong làm việc, phong thái phục vụ có như vậy thì công tác huy động vốn của
ngân hàng mới đạt được hiệu quả cao.
1.5.2. Những nhân tố khách quan
Ý thức tiết kiệm của dân cư:
Xu hướng hiện nay của các Ngân hàng Thương mại ở các nước phát
triển là đẩy mạnh công tác huy động vốn trong khu vực dân cư, nơi mà tầng

Như chúng ta đã biết, hoạt động của ngân hàng có mức độ ảnh hưởng,
tác động hết sức mạnh mẽ đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Cụ thể
việc huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng đều tác động trực tiếp đến


25
tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc độ chu
chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Chính vì lẽ đó, hoạt động
của ngân hàng phải chịu sự quản lý gắt gao hơn các doanh nghiệp khác. Thực
tế ngân hàng phải chịu sự điều chỉnh của rất nhiều chính sách, quy định của
chính phủ, của NHNN: đó là luật các TCTD, luật dân sự và hàng loạt các quy
định cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ, hạn mức. Trong sự ràng
buộc về luật pháp này thì các yếu tố của các nghiệp vụ huy động vốn chắc
chắn sẽ bị thay đổi và kết quả làm ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả của
việc huy động vốn. Bởi khi chính sách của nhà nước, NHNN về chính sách
tiền tệ, chính sách tài chính, lãi suất, tín dụng,.. thay đổi sẽ ảnh hưởng đến khả
năng thu hút vốn cũng như chất lượng nguồn vốn của NHTM.
Môi trường kinh tế-chính trị-xã hội:
Hoạt động của NHTM nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng
không thể thoát ly khỏi môi trường kinh doanh đặc biệt là môi trường kinh tếchính trị-xã hội.
Trong các hoạt động của ngân hàng thì hoạt động huy động vốn và sử
dụng vốn luôn bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình
trạng thất nghiệp, lạm phát,…tác động trực tiếp. Khi nền kinh tế tăng trưởng,
sản xuất phát triển, từ đó tạo điều kiện tích lũy nhiều hơn, do đó tạo môi
trường thuận lợi cho việc thu hút vốn cũng như cấp tín dụng của ngân hàng.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát tăng làm cho môi trường đầu tư
bị thu hẹp thì quá trình tạo vốn cũng như cho vay của ngân hàng sẽ gặp nhiều
khó khăn.
Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị
không ổn định. Sự ổn định về chính trị hay chính sách ngoại giao cũng tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status