Công tác huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Kạn - Pdf 26

Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
LỜI MỞ ĐẦU
Sau gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Các thành phần kinh tế được Nhà nước chủ trương khuyến khích phát
triển đồng đều, đặc biệt là khu vực ngoài quốc doanh; cơ cấu kinh tế đang
chuyển dịch đúng hướng; nhiều ngành kinh tế tiếp tục phát triển khá; thu nhập
người dân đã được nâng lên hơn trước. Tuy nhiên so với các nước cùng khu vực
kinh tế Việt Nam vẫn thuộc loại trung bình, chưa thể so sánh với các nước như
Singapo,Thái Lan, Trung Quốc…Để có thể tiếp tục phát triển đúng theo định
hướng đã chọn và đuổi kịp các nước trong khu vực, chúng ta cần huy một lượng
động vốn lớn hơn nữa để đầu tư phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước cũng như các lĩnh vực xã hội (y tế, giáo dục ). Nguồn vốn huy động này
có thể có được từ nhiều kênh, trong đó hệ thống ngân hàng là một kênh huy
động vốn hiệu quả của đất nước. Thông qua các ngân hàng với nghiệp vụ huy
động và cho vay, nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức sẽ được chuyển
tới những ngành, những lĩnh vực đang cần vốn đầu tư. Có thể nói, hệ thống ngân
hàng đã và đang làm rất tốt vai trò trung gian vốn của nền kinh tế, góp phần huy
động và chu chuyển vốn nhàn rỗi trong xã hội cho sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Nhưng làm thế nào để các ngân hàng có thể huy động vốn có hiệu
quả hơn từ dân cư và các tổ chức kinh tế?
Trong thời gian gần đây có rất nhiều ngân hàng lần lượt được thành lập điều
đó làm cho sự cạnh tranh càng thêm quyết liệt.Nguồn cung vốn huy động càng
bị chia sẻ trong khi nhu cầu ngày một tăng lên để đáp ứng nhu cầu phát triển của
đất nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn cũng như những khó khăn
mà các ngân hàng hiện nay đang gặp phải trong quá trình huy động vốn, tôi xin
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
1
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
chọn chuyªn ®Ò : “ C«ng t¸c huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát

2
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
Chương I : Những vấn đề về nguồn vốn và huy động vốn tại ngân hàng
thương mại.
Chương II : Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Kạn.
Chương III : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn cho Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh tỉnh Bắc Kạn.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian thực tập có hạn, kinh nghiệm
thực tế của bản thân còn hạn chế, nên chuyên đề của tôi không tránh khỏi những
thiếu sót. Tôi rất mong các thầy cô giáo nhiệt tình chỉ bảo, sửa chữa giúp chuyên
đề của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo cùng toàn thể cán bộ trong
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Bắc Kạn đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập và nghiên cứu viết chuyên đề này.
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
3
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN VỐN
VÀ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 NGUỒN VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI .
1.1.1.Định nghĩa nguồn vốn.
Nguồn vốn trong Ngân hàng thương mại được định nghĩa là toàn bộ tài
sản bên Nợ trong Bảng cân đối Kế toán của Ngân hàng. Nó bao gồm nguồn vốn
chủ sở hữu(vốn tự có và vốn coi như tự có), vốn huy động, vốn đi vay và các
nguồn vốn khác. Trong đó nguồn vốn huy động và vốn đi vay là chủ yếu và
quan trọng bởi nguồn này chiếm tỷ trọng lớn và tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng.
Thông thường kết cấu nguồn vốn của các NHTM là như nhau nhưng xét về số
lượng mỗi thành phần thì không ngân hàng nào giống nhau. Sự khác biệt đó xuất

THƯƠNG MẠI.
1.2.1.Vốn chủ sở hữu.
Bất kì một ngân hàng nào bắt đầu hoạt động đều phải có một lượng vốn
nhất định,gọi là vốn chủ sở hữu hay vốn tự có. Đây là loại vốn ngân hàng có thể
sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa,kho tàng,bến bãi… cho
ngân hàng. Nguồn vốn này tuy chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn nhưng
được coi là tấm đệm phòng chống rủi ro, bảo đảm an toàn cho sự hoạt động của
tất cả các ngân hàng. Đồng thời quy mô nguồn vốn tự có cho thấy thực lực của
ngân hàng, là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác. Nguồn hình thành và nghiệp
vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng, tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài
chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở
hữu bao gồm các thành phần sau:
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
5
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
1.2.1.1 Nguồn vốn hình thành ban đầu.
Nguồn vốn ban đầu hay Vốn điều lệ của mỗi ngân hàng được hình thành
do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định. Vốn điều lệ được hình thành ngay
từ khi ngân hàng thương mại được thành lập,nguồn vốn này phải lớn hơn hoặc ít
nhất bằng vốn pháp định được quy định theo từng thời kỳ. Vốn điều lệ có thể
được điều chỉnh tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
Vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản,trang thiết bị ban
đầu cần thiết cho hoạt động của ngân hàng,góp vốn liên doanh. Các ngân hàng
không được phép sử dụng nguồn vốn nào khác ngoài vốn điều lệ để đầu tư vào
tài sản cố định của ngân hàng và hùn vốn liên doanh.
1.2.1.2 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
Gia tăng vốn chủ sở hữu là một hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối
với mỗi ngân hàng. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì uy tín cũng như sức mạnh của
ngân hàng trên thị trường càng lớn. Để tăng vốn chủ sở hữu, các ngân hàng
thường lấy từ các nguồn sau:

động khác nhau.
1.2.2.1.Tiền gửi không kỳ hạn .
Tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi
mà người gửi có thể gửi thêm tiền hoặc rút ra bất cứ lúc nào. Do tính chất có thể
rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất
thấp hoặc không được ngân hàng trả lãi nhưng đổi lại người gửi tiền được sử
dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Đối với ngân hàng, tiền gửi thanh
toán cũng là khoản vốn huy động khá hấp dẫn. Bởi chi phí (lãi suất) cho loại tiền
gửi này thấp nhất trong các loại tiền gửi đồng thời ngân hàng còn có thể thu
được phí giao dịch khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng.
1.2.2.2.Tiền gửi có kì hạn .
Bên cạnh những khoản tiền gửi thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp
thương mại, tổ chức xã hội đều gửi một lượng tiền nhất định tại ngân hàng với
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
7
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
thời hạn xác định. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp hay tổ chức luôn
có một lượng tiền tạm thời chưa cần sử dụng, họ gửi nó vào ngân hàng với các
kì hạn khác nhau để hưởng lãi (mức lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn cao hơn lãi
suất của tiền gửi không kì hạn) nhằm tạo thêm thu nhập cho mình , nhưng những
người gửi tiền loại này không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng.
Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước thời hạn,song
để cạnh tranh thu hút khách hàng, các ngân hàng vẫn cho phép rút trước hạn.
Tuy nhiên, người gửi tiền rút trước hạn sẽ phải chịu một khoản phạt,chẳng hạn
chỉ được hưởng lãi suất bằng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn hoặc không
được hưởng lãi,tùy theo qui định của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ.
1.2.2.3 Tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa dùng đến,
họ tích luỹ lại cho tương lai. Người dân có nhiều cách để giữ số tiền tiết kiệm

gửi một lượng tiền ở các ngân hàng khác nhằm mục đích tạo sự thuận tiện cho
việc thanh toán hộ, chuyển khoản hay mua bán, giao dịch khác…Lượng tiền gửi
này thường không lớn, biến động nhỏ nên ít ảnh hưởng tới nguồn vốn của ngân
hàng.
1.2.3.Tiền vay và nghiệp vụ đi vay.
Bên cạnh việc huy động vốn từ nhận tiền gửi, các ngân hàng còn đi vay
để tăng lượng vốn nắm giữ nhằm đảm bảo và phát triển hoạt động kinh doanh
của mình. Vốn vay của ngân hàng có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau như
: vay từ Ngân hàng nhà nước, vay từ các tổ chức tín dụng khác hoặc vay trên thị
trường vốn…Nguồn vốn vay chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong kết cấu nguồn vốn
song nó rất cần thiết và quan trọng đối với các ngân hàng.
1.2.3.1 Tiền vay Ngân hàng Nhà nước(NHNN).
Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng, là cứu tinh của
các ngân hàng trong các trường hợp khó khăn nhất, là người cho vay sau cùng.
Thông thường tất các ngân hàng thương mại(NHTM) và một số tổ chức tài
chính khác trong nước được NHNN cho phép thành lập đều được hưởng quyền
vay tại ngân hàng NHNN trong những tình huống thiếu hụt dự trữ hoặc thiếu hụt
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
9
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
thanh khoản tạm thời. Ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng cho các NHTM qua 2
hình thức:
- Tái chiết khấu (hoặc chiết khấu) hay còn gọi là tái cấp vốn các chứng
từ có giá. Các thương phiếu đã được các ngân hàng thương mại chiết khấu sẽ trở
thành tài sản của họ. Khi cần tiền họ mang chúng lên NHNN để tái chiết khấu.
NHNN kiểm soát việc vay mượn này một cách chặt chẽ. Thông thường NHNN
chỉ chiết khấu cho các thương phiếu có chất lượng (có thời hạn đáo hạn ngắn và
khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng thời kì.
- Cho vay thế chấp hay ứng trước bảo đảm hay không có bảo đảm. Đây
là hình thức cho vay thời hạn ngắn, chủ nợ không bán các phiếu nợ cho ngân

doanh nghiệp, Ngân hàng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kì phiếu,
tín phiếu, trái phiếu ) trên thị trường. Thông thường đây là các khoản vay không
có đảm bảo, nên những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi suất cao hơn thì sẽ
vay được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng
cách đó mà phải thông qua ngân hàng đại lí hoặc được sự bảo lãnh của ngân
hàng khác lớn và có uy tín hơn. Có thể nói thị trường tài chính với vai trò trung
gian điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động của
các ngân hàng. Thị trường tài chính càng phát triển thì khả năng chuyển đổi các
công cụ nợ dài hạn của các ngân hàng càng tăng.
1.2.3.4 Vay nợ khác.
Ngoài những nguồn vốn đi vay cơ bản trên, Ngân hàng còn có các nguồn
vốn vay khác như:
- Nguồn uỷ thác: NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho
vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ….Trong đó Uỷ
thác Đầu tư là dịch vụ khá hấp dẫn của ngân hàng. Với dịch vụ này, khách hàng
uỷ thác tiền bạc, tài sản của mình cho ngân hàng để ngân hàng tiến hành đầu tư
vào những dự án khả thi để sinh lãi.
- Nguồn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền
mặt có thể hình thành nguồn trong thanh toán ( séc trong quá trình chi trả, tiền
ký quỹ L/C…), Hoặc các ngân hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có
kết dư tiền gửi từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để cho vay. Đặc
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
11
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
điểm của nguồn này là thời gian tồn tại ngắn vì phần lớn chúng đều ở trong
trạng thái chờ luân chuyển, do đó các ngân hàng ít khi chỉ sử dụng chúng để cho
vay lâu dài mà chỉ để bổ sung thêm nguồn ở thời điểm hiện tại.
- Nguồn khác: Các khoản nợ khác như Thuế chưa nộp, lương chưa trả…
Đây là nguồn mà ngân hàng tạm thời chiếm dụng, không có ảnh hưởng đáng kể
tới nguồn vốn cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng.

• Theo tiện ích của sản phẩm.
Nói chung, những sản phẩm huy động vốn đều giống nhau về bản chất
nên để tạo sự khác biệt các NHTM thường tăng thêm nhiều tiện ích cho các sản
phẩm khiến cho khách hàng ưa thích chúng hơn. Việc làm này đòi hỏi sự sáng
tạo của bộ phận phát triển sản phẩm trong mỗi ngân hàng. Các ngân hàng
thường đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn của họ dựa trên 2 cách:
Một là, đưa thêm các tiện ích mới vào các sản phẩm huy động truyền
thống. Chẳng hạn như đối với thẻ ATM,thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng ngoài chức năng
chính là cho phép khách hàng rút tiền mặt tại máy ATM, thanh toán hoá đơn qua
các máy POS, ngân hàng có thể đưa thêm một số tiện ích mới như: Thanh toán
các loại cước phí (điện, nước, điện thoại ), trả lương, quản lý chi tiêu cá nhân,
được ưu đãi ở một số cửa hàng Đối với các loại tiền gửi có kì hạn, hiện nay
ngân hàng có thể cho phép người gửi rút tiền trước kì hạn, dễ dàng chuyển đổi
kì hạn theo ý mình Chi phí cho việc tăng thêm các tiện ích mới cho các sản
phẩm truyền thống cũng chiếm một phần đáng kể trong chi phí huy động vốn
chung. Do đó, tuỳ thuộc vào khả năng của từng ngân hàng mà số tiện tích mới
của các sản phẩm huy động vốn của chúng ít hay nhiều.
Hai là, phát triển sản phẩm hoàn toàn mới với những tiện ích nổi trội. Đây
là công việc rất khó khăn đối với hầu hết các ngân hàng thương mại. Hiện nay,
các loại sản phẩm huy động vốn được phát triển đã khá đầy đủ, đa dạng, việc tạo
ra một sản phẩm mới hoàn toàn khác biệt những sản phẩm cũ là điều ít ngân
hàng nào dám nghĩ tới, mà hầu hết họ đều đa dạng các sản phẩm huy động vốn
theo cách thứ nhất (dựa trên nền tảng các sản phẩm cũ).
Tóm lại, việc đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn, chú ý phát triển
sản phẩm riêng biệt sẽ tạo dựng cho các ngân hàng thương mại những dấu ấn
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
nhất định đối với khách hàng gửi tiền, khuyến khích họ gửi tiền nhiều hơn, làm
tăng lượng vốn huy động cho các ngân hàng thương mại.

nhánh sẽ không có tác dụng thu hút vốn mà còn làm tăng chi phí hoạt động cho
ngân hàng.
• Nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho cán bộ huy động vốn.
Cán bộ huy động vốn là những người trực tiếp xây dựng và triển khai các
chương trình huy động vốn của ngân hàng. Trình độ và nghiệp vụ của những
người này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả huy động vốn của các ngân hàng.
Hiện nay các ngân hàng đều cố gắng lựa chọn cũng như đào tạo các cán bộ của
mình thành thạo về nghiệp vụ cũng bồi dưỡng nâng cao các kiến thức về
marketing và ngân hàng. Bên cạnh việc đào tạo trực tiếp cán bộ tại nơi làm việc,
các NHTM thường tổ chức các khoá bồi dưỡng, nâng cao kiến thức nghiệp vụ
cho cán bộ ở các cơ sở trong nước và nước ngoài. Đây là việc làm có ý nghĩa
khá quan trọng cho công tác huy động vốn trong hiện tại cũng như tương lai của
ngân hàng.
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.4.1 Các nhân tố khách quan.
1.4.1.1.Chính sách chỉ đạo của ngân hàng Nhà nước.
NHNN ban hành các chính sách chỉ đạo về hoạt động nhằm đảm bảo các
ngân hàng thương mại hoạt động theo đúng định hướng của nó, phù hợp và thúc
đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Các chính sách của Ngân hàng Nhà nước
thay đổi theo từng thời kì, tùy thuộc vào chính sách kinh tế chung của nhà nước
và sự phát triển của thị trường tài chính. Để kiểm soát việc huy động vốn của
các NHTM, NHNN có các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết
khấu,trần lãi suất huy động Tất cả những quy định, chính sách này được áp
dụng cho tất cả các NHTM nên ảnh hưởng của chúng tới các ngân hàng không
khác nhau nhiều.
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
1.4.1.2.Hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước.

1.4.1.4.Tâm lý, thói quên của người tiêu dùng.
Tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của ngân hàng.
Nếu những vùng dân cư người ta quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức
cất trữ là chính thì việc huy động vốn sẽ gặp khó khăn. Chẳng hạn vào thời kì
vàng còn có giá trị thì người ta dùng tiền nhàn rỗi đi mua vàng về cất trữ…Còn
khi người dân có nhu cầu hưởng lãi hoặc bảo quản tài sản thì họ sẽ gửi tiền vào
ngân hàng nhiều hơn. Khi đó cơ hội huy động vốn của ngân hàng tăng lên.
Mức thu nhập và chu kì chi tiêu của người dân cũng là những yếu tố
trực tiếp tác động đến lượng tiền gửi vào ngân hàng. Nhìn chung thu nhập của
người dân càng cao; nhu cầu đầu tư và giao dịch của họ tăng lên.
Chu kì chi tiêu ảnh hưởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền.
Vào những dịp nghỉ lễ trong năm, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của
doanh nghiệp có xu hướng giảm sút, đặc biệt là trong điều kiện thanh toán bằng
tiền mặt còn phổ biến.
1.4.2 Các nhân tố chủ quan.
1.4.2.1.Chính sách huy động vốn của ngân hàng.
Chính sách huy động vốn của ngân hàng là tổng thể các chiến lược và
biện pháp huy động vốn của một ngân hàng nhằm mục tiêu thu hút vốn tối đa.
Chính sách này thay đổi theo từng thời kỳ, phù hợp với mục tiêu cụ thể của ngân
hàng nhưng nhìn chung luôn bao gồm các nội dung sau :
- Hình thức huy động vốn : Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn
vốn thì trước hết phải đa dạng hoá hình thức huy động. Hình thức huy động
càng phong phú thì ngân hàng càng dễ huy động hơn. Ngân hàng có thể đưa ra
nhiều hình thức huy động như : phát hành trái phiếu, kì phiếu, huy động tiền gửi
tiết kiệm trong đó đưa ra nhiều thời hạn và lãi suất khác nhau. Các hình thức huy
động vốn được đưa ra phải dựa trên cơ sở nghiên cứu phân tích thị trường và
tâm lí khách hàng một cách kĩ lưỡng thì mới có thể hấp dẫn khách hàng gửi tiền.
- Lãi suất huy động :Bên cạnh bộ phận tiền gửi không kì hạn thì vốn huy
động của ngân hàng còn bao gồm cả tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp và tiền
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1

Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
18
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
+ Thái độ phục vụ khách hàng : Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến tâm
lý cũng như tình cảm của người gửi tiền. Nếu các nhân viên ngân hàng luôn cởi
mở nhiệt tình trong giao dịch với khách hàng, luôn tạo điều kiện tốt cho khách
hàng thì sẽ gây được thiện cảm và uy tín đối với họ, sẽ ngày càng có nhiều
khách hàng đến giao dịch, gửi tiền tại ngân hàng hơn.
- Công nghệ thông tin:
Công nghệ thông tin giữ một vai trò không thể thiếu trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với công nghệ thông
tin ở hầu hết các nghiệp vụ từ việc nhận, nhập tiền gửi, hay thanh toán qua tài
khoản khách hàng đến việc cho vay, đầu tư trên thị trường tài chính. Hệ thống
công nghệ và thông tin càng hiện đại thì càng phục vụ hữu ích cho các hoạt động
kinh doanh của ngân hàng, giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian, chi phí trong việc
tìm kiếm, quản lý thông tin về khách hàng, thị trường cũng như toàn bộ ngân
hàng.
1.4.2.3.Mạng lưới hoạt động của ngân hàng
Với những ngân hàng sát địa bàn dân cư hoặc gần với những trung tâm
thương mại thì sẽ có thuận lợi khi thu hút vốn. Lẽ tự nhiên, khi dân chúng có
tiền nhàn rỗi họ sẽ đến các chi nhánh ngân hàng gần nhà mình nhất để gửi, như
thế vừa tiết kiệm thời gian đi lại vừa đảm g. bảo an toàn. Ngày nay, các ngân
hàng đều cố gắng mở thật nhiều chi nhánh để thu hút tiền gửi của người dân
cũng như đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh khác.
1.4.2.4.Uy tín của ngân hàng.
Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, uy tín là điều tối quan trọng.
Uy tín của ngân hàng chính là vị trí, hình ảnh tốt đẹp của ngân hàng trong lòng
khách hàng. Để có được niềm tin và uy tín đối với khách hàng (cả mới và cũ) thì
các ngân hàng đều phải trải qua một thời gian gây dựng hoạt động mới có được.
Uy tín của ngân hàng biểu hiện qua thâm niên, kinh nghiệm hoạt động của ngân

1.5.2.Xác định lãi suất huy động.
Theo nguyên lý chung, các ngân hàng huy động với lãi suất thị trường,
phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường tiền tệ. Với mỗi nguồn cụ thể ngân
hàng có phương pháp riêng để tính toán lãi suất huy động.
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1
20
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng

*Xác định lãi suất huy động dựa theo tỷ lệ lạm phát và thu nhập kì
vọng của người gửi tiền.
Lãi suất = Tỷ lệ lạm phát + Tỷ lệ thu nhập kì vọng
huy động bình quân của người gửi tiền
Để có lãi suất thực dương, lãi suất huy động huy động phải lớn hơn tỷ lệ
lạm phát. Tuy nhiên, không phải nguồn nào cũng trả lãi suất thực dương. Những
nguồn có kì hạn ngắn ( khách hàng lựa chọn tính thanh khoản cao hơn tính sinh
lời), ngân hàng thường trả lãi suất thực âm.
Tỷ lệ thu nhập kì vọng của người gửi tiền phụ thuộc vào rủi ro của mỗi
ngân hàng, tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khách và những tiện ích mà
người gửi kì vọng nhận được từ ngân hàng. Những loại tiền gửi mà tiện ích thu
được từ ngân hàng càng cao, lãi suất ngân hàng trả cho nguồn tiền càng thấp.
* Xác định lãi suất huy động dựa trên lãi suất gốc.
Lãi suất = Lãi suất gốc (lãi suất tái chiết khấu + Tỷ lệ thu nhập
nguồn hoặc lãi suất liên ngân hàng,lãi suất kì vọng của
(nhóm nguồn) trái phiếu ngắn hạn của Chính phủ) người gửi tiền
Trong quá trình phát triển của thị trường tài chính, nguồn cung ứng tiền từ
Ngân hàng Trung ương, từ các tổ chức tài chính khác ngày càng có ý nghĩa hơn
đối với các NHTM. Với môi trường này, NHTM xác định lãi suất huy động dựa
trên lãi suất gốc. Những lãi suất gốc quan trọng là : lãi suất tái chiết khấu của
Ngân hàng Trung ương, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng hoặc lãi suất trái
phiếu ngắn hạn của Chính phủ. Những ngân hàng lớn, ở các trung tâm tài chính

Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH TỈNH BẮC KẠN
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NH ĐT&PT TỈNH BẮC KẠN
Tỉnh Bắc Kạn được tái lập từ năm 01/01/1997 trên cơ sở tách tỉnh Bắc
Thái ra làm 2 tỉnh Thái nguyên và Bắc Kạn. Là vùng đất chứa đựng nhiều tiềm
năng. Với diện tích tự nhiên 4857.21 km2, dân số hơn 31.4 vạn người. Phía
Đông giáp Lạng Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp Thái Nguyên,
phía Bắc giáp Cao Bằng và 1 phần nhỏ phía Tây Bắc giáp Hà Giang. Bắc Kạn
có đường quốc lộ 3A chạy qua. Tuy vậy, Bắc Kạn là 1 tỉnh miền núi phía bắc,
địa hình chủ yếu là đồi núi với độ dốc cao, hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn
lại xa các trung tâm kinh tế lớn nên điều kiện phát triển rất khó khăn, cùng với
khó khăn đó là trình độ dân trí còn thấp nên khả năng nhận thức còn chưa cao,
quan niệm còn lạc hậu.
* Về kinh tế xã hội: Ngành công nghiệp hầu như không phát triển chỉ có
một số ngành như khai thác khoáng sản, xi măng, chế biến nông lâm sản. Dân
cư chủ yếu là đồng bào dân tộc ít người trình độ dân trí thấp, phong tục còn lạc
hậu nên nông nghiệp nông thôn phát triển phân tán và nghèo nàn, thương mại thì
bán lẻ là chủ yếu.
* Du lịch: Bắc kạn có khu du lịch nổi tiếng là hồ nước ngọt Ba Bể nằm
trong vườn quốc gia Ba Bể, là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất trong cả nước . Tuy
nhiên còn nhiều hạn chế như là vì nằm xa trung tâm thị xã, đường xá đi lại khó
khăn hiểm trở, dịch vụ du lịch chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và vị thế
của nó chính vì vậy chưa thực sự thu hút được đông đảo khách du lịch trong và
ngoài nước đến thăm quan và nghỉ lại đây.
Thực hiện chủ trương nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn những
năm gần đây về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đa dạng hoá nền kinh tế nhiều thành
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1

24
Chuyên đề tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
đầu khẳng định được vị thế của mình, từ đó nhanh chóng chuyển hướng hoạt
động, đổi mới toàn diện, sâu sắc theo hình mẫu đổi mới của Đảng và Nhà nước.
Hiện nay Ngân hàng ĐT & PT tỉnh Bắc Kạn có đội ngũ cán bộ nhân viên
trẻ với nhiệt huyết cao đã và đang đủ sức đảm đương nghiệp vụ hiện đại và lâu
dài. Từ chỗ bám sát định hướng của ngành, thực hiện chính sách kinh doanh
tổng hợp, cùng với sự chỉ đạo của Ngân hàng NH ĐT&PT Việt Nam cũng như
sự thống nhất phương pháp điều hành, với chủ trương lấy hiệu quả an toàn
trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của mình làm tiêu chuẩn hàng đầu đáp ứng
nhu cầu của khách hàng với chất lượng tốt nhất, rủi ro thấp nhất, mức độ chi phí
thấp nhất để từ đó kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Tạo điều kiện tốt nhất cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự
án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ và tạo điều kiện phát triển
cho mọi thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
* Thuận lợi: Nằm tại trung tâm thị xã, các loại hình sản xuất kinh doanh
đa dạng, thị trường trên địa bàn có nhiều triển vọng. Trong suốt quá trình hoạt
động luôn được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của ngân hàng cấp trên, của
Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Bắc Kạn và các ban ngành tại địa phương cùng với sự phấn
đấu không ngừng của tập thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên nhằm phát
triển ổn định lâu dài và có hiệu quả.
Bản thân Ngân hàng ĐT&PT tỉnh Bắc Kạn cũng dần từng bước hoàn
thiện mình như: Bố trí cán bộ nhân viên tham gia đầy đủ các lớp tập huấn
nghiệp vụ do NHNNVN và Ngân hàng ĐT & PT Việt Nam tổ chức, truyền đạt
kịp thời chế độ, chính sách đến người lao động, thường xuyên tổ chức trao đổi
nghiệp vụ nội bộ để nắm vững nội dung, yêu cầu mới, kịp thời nắm bắt và
nghiên cứu kỹ các vấn đề hoặc tình hình mới để chủ động sáng tạo trong chỉ
đạo thực hiện như vấn đề đổi mới tổ chức, đảm bảo vốn vay, phân loại và xử lý
nợ, cơ cấu nợ, các điều kiện tín dụng.
Đỗ Huy Hoàng_lớp Vănbằng2_7a1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status