ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN THỊ XUÂN XINH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ
TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
ii
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN THỊ XUÂN XINH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ
TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34. 04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Dung
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã giúp đỡ và
cộng tác với tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo cơ quan, gia đình,
bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện và động viên, giúp đỡ để tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 3 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Xuân Xinh
iii
MỤC LỤC
1.1.4. VAI TRÒ CỦA KIỂM TRA THUẾ......................................................................................................................8
GIẢI TRÌNH SỐ LIỆU QUA KIỂM TRA: .....................................................................................................................70
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
BCTC
CQT
CNTT
CBCC
CSKD
GTGT
GIẢI TRÌNH SỐ LIỆU QUA KIỂM TRA: .....................................................................................................................70
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất kỳ một quốc gia nào thuế cũng đóng một vai trò hết sức
quan trọng, là nguồn thu chủ yếu chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách
nhà nước. Theo thống kê của Tổng cục thuế thì nước ta trên 90% ngân sách
nhà nước là thu từ thuế. Đây là biện pháp động viên bắt buộc các thể nhân và
các pháp nhân trích một phần thu nhập do kinh doanh, do lao động, do đầu tư
tài chính mang lại để nộp vào ngân sách nhà nước, nhằm đáp ứng nhu cầu chi
tiêu của đất nước và thực hiện vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh những
đóng góp mà các Doanh nghiệp mang lại cho xã hội, cho nền kinh tế trong
quá trình sản xuất kinh doanh, thì đây cũng là nơi tập trung tình trạng lợi dụng
kẽ hở của các chính sách, chế độ, Luật thuế hoặc dựa vào tính chất phức tạp
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khó kiểm soát để khai man, trốn lậu
thuế, chây ì, chậm nộp thuế… Điều này đòi hỏi người quản lý phải từng bước
nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, nắm chắc văn bản hướng dẫn để có thể triển
khai và thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động chuyên môn.
Có thể khẳng định, kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế chính
sách pháp luật về thuế, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm
nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế và còn góp phần cải cách thủ tục hành
chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện. Công tác kiểm tra thuế không
những là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước mà còn là
một đòi hỏi khách quan trong quá trình quản lý thu thuế nhằm đảm bảo thu
đúng, thu đủ, thu kịp thời cho ngân sách nhà nước, đảm bảo công bằng trong
việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của các tổ chức cá nhân trong xã hội. Công
tác quản lý thuế ở Chi cục Thuế thành phố Bắc Ninh cũng nằm trong tình
Khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra thuế.
Phân tích, đánh giá thực trạng kiểm tra thuế chi cục thuế thành phố Bắc
Ninh năm 2011-2013.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế chi
cục thuế thành phố Bắc Ninh.
3
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm tra thuế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động kiểm tra thuế chi cục thuế thành phố
Bắc Ninh
Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế chi
cục thuế thành phố Bắc Ninh
4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA THUẾ
1.1. Kiểm tra thuế
1.1.1. Khái niệm
Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”(1), hay
để chỉ hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực
thuộc hoặc không trực thuộc). Tuy nhiên, khái niệm kiểm tra có thể được hiểu
theo nghĩa rộng, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và của
công dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước. Theo nghĩa này, tính
chế được tình trạng vi phạm pháp luật về thuế, NTT cũng không có điều kiện
để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc họ sợ bị xử lý mà không dám vi
phạm pháp luật về thuế. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra
thuế cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa
Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện
luật Thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng
hợp lý hơn. Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ NTT
nắm được nghĩa vụ và quyền lợi của đơn vị khi thực hiện Luật thuế; đồng thời
nâng cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ.
Công tác kiểm tra thuế là công tác cần thiết của cơ quan thuế để tăng
cường hiệu lực quản lý nhà nước, đảm bảo việc thực hiện tốt chính sách pháp
luật thuế, pháp lệnh cán bộ công chức và căn cứ văn bản pháp luật khác nhằm
mục đích tích cực ngăn ngừa, kịp thời phát hiện xử lý các vi phạm, góp phần
thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, xây dựng ngành
thuế trong sạch vững mạnh. Công tác kiểm tra thuế phải được thực hiện đúng
chức năng, thẩm quyền, trình tự, thời hạn do pháp luật qui định phải đảm bảo
tính chính xác, khách quan, dân chủ, kịp thời.
1.1.3. Nguyên tắc kiểm tra thuế
Để công tác kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao, cần phải đảm bảo một số
nguyên tắc cơ bản sau:
6
* Tuân thủ pháp luật
Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất đó là trong quá trình kiểm tra
thuế phải tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo tính khách quan, công khai, dân
chủ, khi kết luận một vấn đề phải có chứng lý rõ ràng, không suy diễn chủ
quan. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể
kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng
làm gốc. Phải lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia hoạt động kiểm tra, đấu
tranh, ngăn ngừa, đẩy lùi tiêu cực, phát huy các nhân tố tích cực. Đồng thời
cũng chính nhân dân là lực lượng thúc đẩy các quyết định, kiến nghị của kiểm
tra. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý
kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra
trình bày ý kiến của mình, nhất là khi xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân, cần tránh mọi biểu hiện tự mãn, áp đặt chủ quan, bất chấp ý kiến
của người khác. Kịp thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong kiểm tra nhằm
nhanh chóng khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý của Nhà nước.
Để đảm bảo tính kịp thời trong kiểm tra, cần qui định cụ thể thời gian đối với
từng vụ việc kiểm tra, tùy theo qui mô, tính chất phức tạp của vụ việc, tùy
theo số lượng và chất lượng của đội ngũ công chức làm công tác kiểm tra.
* Bảo vệ bí mật
Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế vì trong quá trình
kiểm tra, người làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên
quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của Doanh nghiệp và bí mật quốc gia.
Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại đến lợi
ích của quốc gia và các Doanh nghiệp. Do vậy, họ chỉ cần báo cáo cho những
người có thẩm quyền được biết. Quán triệt nguyên tắc này không hề mâu
thuẫn với nguyên tắc công khai, vì việc công khai được thực hiện với những
vấn đề được phép công khai, nên công khai và phải công khai. Những vấn đề bí
mật thì cần được bí mật.
* Hiệu quả
Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa
là phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm. Phải đảm
8
bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế. Thực hiện
9
1.1.5. Hình thức kiểm tra thuế
* Theo kế hoạch và đột xuất
Hoạt động kiểm tra thuế được thực hiện dưới hình thức kiểm tra theo
chương trình, kế hoạch và kiểm tra đột xuất.
- Kiểm tra theo kế hoạch được tiến hành theo chương trình, kế hoạch đã
được phê duyệt.
- Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá
nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao.
* Theo nội dung và phạm vi kiểm tra thuế
Nếu xét theo nội dung: kiểm tra thuế chia thành hai loại là kiểm tra toàn
diện và kiểm tra hạn chế. Kiểm tra toàn diện: là loại hình kiểm tra tổng hợp,
toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của Người nộp thuế, mà Người
nộp thuế đó có nghĩa vụ thực hiện và ngành thuế có trách nhiệm quản lý. Với
chức năng này, kiểm tra toàn diện tức là cơ quan chức năng thực hiện việc
kiểm tra trên diện rộng, toàn bộ sắc thuế: Thuế Giá trị gia tăng, thuế TNDN,
thuế TNCN…. Bên cạnh việc kiểm tra thuế toàn diện, còn có hình thức kiểm
tra hạn chế, đó chính là hình thức kiểm tra trong phạm vi hẹp gồm: (1) Kiểm
tra một sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế; (2) Kiểm tra một hoặc một số
bộ hồ sơ hoàn thuế; (3) Kiểm tra một hoặc một số yếu tố liên quan đến một
hoặc một số kỳ tính thuế: kiểm tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán,
khấu hao, tiền lương, tài sản ...
* Theo địa điểm tiến hành kiểm tra thuế
- Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế: Việc kiểm tra thuế này
có thể áp dụng đối với bất kỳ hồ sơ khai thuế nào mà cán bộ kiểm tra nghi
ngờ. Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường
xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các
thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của Người
11
thuế có thể đến cơ quan thuế giải trình trực tiếp hoặc bổ sung thông tin, tài liệu
hoặc bằng văn bản.
* Kiểm tra thuế tại trụ sở Người nộp thuế: Việc kiểm tra thuế tại trụ sở
Người nộp thuế chỉ được thực hiện khi có quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở
Người nộp thuế ,Người nộp thuế có quyền từ chối việc kiểm tra khi không có
quyết định kiểm tra thuế. Quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở Người nộp thuế
do thủ trưởng cơ quan thuế ban hành. Bao gồm một số trường hợp sau:
- Trường hợp Người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài
liệu; không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế
nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng; hoặc cơ quan thuế
không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp.
- Trường hợp kiểm tra trước khi hoàn thuế theo quy định
- Các trường hợp xác định đối tượng kiểm tra theo tiêu chí đánh giá
rủi ro về thuế qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Người
nộp thuế; kiểm tra đối với trường hợp có phát sinh dấu hiệu vi phạm pháp
luật và các trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề kiểm tra do
thủ trưởng cơ quan quản lý thuế cấp trên quyết định. Đối với các trường hợp
nêu tại điểm này, cơ quan quản lý thuế thực hiện kiểm tra tại trụ sở Người
nộp thuế không quá một lần trong một năm.
1.1.6. Nội dung kiểm tra thuế
* Kiểm tra Người nộp thuế
Căn cứ vào kế hoạch kiểm tra, chuyên viên kiểm tra phải thực hiện việc
tập hợp và phân tích các thông tin liên quan đến công tác kiểm tra tại cơ quan
thuế. Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu được thực hiện tuỳ thuộc vào phạm vi,
quy mô, nội dung kiểm tra. Đối với doanh nghiệp, nội dung kiểm tra thuế đối
với doanh nghiệp tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
phải làm trước khi xác định mức thuế phải nộp. Trong thực tế, nhiều hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khá phức tạp, cần phải kiểm tra
để xác định đối tượng chịu thuế, ĐTNT đúng với quy định của từng sắc thuế,
tránh bỏ sót nguồn thu.
13
+ Kiểm tra căn cứ tính thuế trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, hệ
thống báo cáo, chứng từ, hoá đơn và các tài liệu có liên quan nhằm xác định
chính xác số thuế phải nộp, số thuế đã nộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế
được hoàn trong kỳ của doanh nghiệp. Đối chiếu số liệu trên các tờ khai,
bảng kê, quyết toán thuế, báo cáo tài chính đơn vị đã kê khai với số liệu
kiểm tra trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của doanh nghiệp để phát
hiện số thuế kê khai thiếu, số thuế ẩn lậu. Đây là khâu rất quan trọng trong
quá trình kiểm tra thuế, đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung những
quy định của các luật thuế, các văn bản hướng dẫn thực hiện và thông thạo
nghiệp vụ kế toán.
+ Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế để
xác định xem cơ sở kinh doanh có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn
nộp thuế, nộp báo cáo của các luật thuế không, có chây ỳ nộp chậm tiền thuế
để chiếm dụng ngân sách nhà nước không, có nợ đọng tiền thuế không. Đặc
biệt chú trọng đến những doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm nhiều lần, với số
lượng lớn nhằm giảm thiểu tối đa khả năng thất thoát tiền thuế của Nhà nước.
Để đạt được yêu cầu trên, cần đối chiếu thời hạn phải nộp thuế theo quy định
của các luật thuế với thời gian nộp thuế của doanh nghiệp qua các chứng từ
nộp thuế như giấy nộp tiền vào kho bạc, giấy nộp tiền thuế nhập khẩu .
+ Trong trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu
giữ tài liệu, cần ghi rõ tình trạng của tài liệu để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm
giám định.
hoá xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn không quá mười lăm ngày;
- Trong trường hợp cần thiết, quyết định kiểm tra thuế được gia hạn
một lần; thời gian gia hạn không quá thời hạn quy định năm ngày làm việc;
- Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ
ngày hết thời hạn kiểm tra;
- Xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cấp có thẩm quyền xử lý theo kết
quả kiểm tra.
15
Trường hợp qua kiểm tra thuế mà phát hiện hành vi vi phạm về thuế có
dấu hiệu trốn thuế, gian lận về thuế thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể
từ ngày phát hiện, đoàn kiểm tra có trách nhiệm báo cáo thủ trưởng cơ quan
thuế để chuyển hồ sơ sang bộ phận thanh tra thuế và bổ sung vào kế hoạch
thanh tra theo trường hợp quy định.
1.1.7.1. Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan Thuế
* Thu thập, khai thác thông tin để kiểm tra hồ sơ khai thuế
Bộ phận kiểm tra thuế và cán bộ kiểm tra thuế sử dụng dữ liệu kê khai
thuế của Người nộp thuế trong hệ thống cơ sở dữ liệu của ngành và những dữ
liệu thông tin của Người nộp thuế chưa được nhập vào hệ thống dữ liệu của
ngành (nếu có) để kiểm tra tất cả các hồ sơ khai thuế; phân tích, đánh giá lựa
chọn các cơ sở kinh doanh có rủi ro về việc kê khai thuế.
Ngoài các dữ liệu, thông tin trong hồ sơ khai thuế, bộ phận kiểm tra và
cán bộ kiểm tra thuế còn phải tổ chức thu thập thêm thông tin nếu có liên
quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của Người nộp thuế từ các nguồn thông
tin của các cơ quan như Ngân hàng, Kho bạc, Kiểm toán, Quản lý thị trường,
tài nguyên môi trường, kế hoạch và đầu tư, thanh tra, công an, toà án...
* Lựa chọn cơ sở kinh doanh để lập danh sách kiểm tra hồ sơ khai thuế
Hàng năm các đội kiểm tra thuộc Chi cục Thuế phải kiểm tra sơ bộ tất
thuế để trình Thủ trưởng cơ quan Thuế duyệt, Trưởng phòng kiểm tra thuế
hoặc Đội trưởng đội kiểm tra thuế cần phải cân đối với nguồn nhân lực hiện
có đảm bảo kiểm tra được tất cả các loại hồ sơ khai thuế của cơ sở kinh doanh
đã được lập theo danh sách.
- Đối với các loại hồ sơ khai thuế: Thuế nhà thầu nước ngoài; nộp tiền
thuế sử dụng đất khi được giao đất; thuế nhà đất; thuế chuyển quyền sử dụng
đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế môn bài; lệ phí trước bạ; phí và các
loại lệ phí khác... không thuộc diện lập danh sách để Thủ trưởng cơ quan Thuế
duyệt hàng năm. Bộ phận được giao kiểm tra các loại hồ sơ khai thuế nêu trên
phải bố trí cán bộ kiểm tra tất cả các loại hồ sơ khai thuế phát sinh trong năm.
* Duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế