1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
* Về lý luận
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá
trình kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức,
huy động vốn, phân phối và quản trị vốn trong quá trình kinh doanh. Quản trị Tài
chính doanh nghiệp giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong quản trị kinh doanh.
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế Việt nam đang trong thời kỳ mở của và hội
nhập vào các khu vực như AFTA, ASEAN, APEC, và gần đây là WTO, mức độ mở
của thị trường hàng hoá, dịch vụ, tài chính , ngân hàng, sẽ mạnh mẽ hơn để đưa nền
kinh tế Việt nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Do vậy,
quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải được thay đổi với những kiến thức về kinh tế
thị trường hiện đại để phù hợp với xu hướng phát triển đó.
Trong hoạt động kinh doanh có nhiều vấn đề tài chính nảy sinh đòi hỏi các
nhà quản trị phải đưa ra những quyết định đúng đắn và tổ chức thực hiện những quyết
định đó một cách chính xác và khoa học, các quyết định chiến lược trong hoạt động
tài chính thường có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển lâu dài và khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Chính vì vậy để các quyết định về tài chính có tính khả thi
cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải phân tích và quản trị tài chính có hiệu quả.
Nguồn lực tài chính là một nguồn lực không thể thiếu cho sự tồn tại và phát
triển của một doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần phải có cách thức quản trị phù
hợp để sử dụng nguồn lực này một cách hiệu quả nhất.
Để đạt được mục tiêu này, doanh nghiệp cần sử dụng kết hợp nhiều biện
pháp khác nhau. Quản trị tài chính mà cụ thể là công tác kiểm tra và phân tích các
báo cáo tài chính là một trong những biện pháp quan trọng mà các nhà quản trị cần
thực hiện. Kết quả quản trị tài chính hiệu quả, khoa học là cơ sở quan trọng để ra
các quyết định có tính chiến lược trong quản trị kinh doanh. Bên cạnh đó, quản trị
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu và đánh giá hoạt động tài chính để từ đó đưa ra
một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính nhằm mang lại
lợi ích kinh tế- xã hội cho Công ty.
3
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty CP Gang Thép Thái
Nguyên
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hoạt động tài chính trong 5 năm 2007-2011
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết trong đề tài là:
- Nghiên cứu tổng quan lý luận và thực tiễn về quản trị tài chính doanh
nghiệp
- Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tiến hành phân tích đánh giá thực
trạng công tác quản trị tài chính ở Công ty CP Gang Thép Thái Nguyên nhằm đánh
giá những mặt mạnh và những điểm còn tồn tại trong công tác quản trị tài chính của
công ty.
- Xây dựng các giải pháp tăng cường quản trị tài chính cho công ty và đề
xuất kiến nghị đối với nhà nước, các ban ngành trong việc tăng cường công tác
quản trị tài chính ở các doanh nghiệp.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn.
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư duy logic để phân tích những vấn đề lý luận và
thực tiễn về vị trí, vai trò của Công ty CP Gang Thép Thái Nguyên và sự cần thiết
phải nâng cao tài chính đối với Công ty này.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH
VÀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan lý thuyết về quản trị tài chính và hiệu quả quản trị tài
chính doanh nghiệp
1.1.1. Các khái niệm về tài chính doanh nghiệp, quản trị tài chính doanh
nghiệp, hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp
* Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một mắt xích quan trọng của hệ thống tài chính
trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế quan trọng gắn liền với sự ra đời của nền
kinh tế hàng hóa tiền tệ. Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ một
doanh ngiệp nào cũng phải có một lượng tền tệ nhất định, đó là tiền đề cần thiết và
quan trọng. Qúa trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng thời là
quá trình hình thành, phân phối và sử dung các quỹ tiền tệ. Trong quá trình đó đã
phát sinh các nguồn tiền tệ gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt
động đầu tư cũng như mọi hoạt động khác của doanh nghiệp. các luộng tiền bao
gồm các luồng tiền tệ đến và ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động của các
luồng tài chính trong doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những mối quan hệ kinh tế diễn ra dưới
hình thức giá trị giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh, nó phát sinh trong
quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản nhất
đối với mỗi doanh nghiệp. Hoạt động tài chính doanh nghiệp nếu được duy trì và
phát trển ổn định thì sẽ tạo tiền đề và nền tẳng vững chắc cho mọi hoạt động khác
của doanh nghiệp vận động và phát triển. Hoạt đông tài chính doanh nghiệp giúp
cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu như huy động, khai thác vốn, đáp ứng nhu
Nếu chỉ phân tích tài chính thì chưa đủ để nhận xét, đánh giá, hay đưa ra
những quyết định quản trị quan trọng cho các nhà quản trị cũng như những đối
tượng quan tâm đến DN. Để quản trị tài chính của DN có hiệu quả thì các nhà quản
trị cần phải thực hiện khâu cuối cùng là đánh giá hiệu quả tài chính. Đánh giá chính
xác hiệu quả của hoạt động tài chính để cải tiến các dây chuyền công tác, nâng cao
7
năng suất trong hoạt động tài chính trong tương lai. Trên cơ sở các tỷ số tài chính đã
tính toán được, các nhà quản trị sử dụng các chỉ tiêu khoa học, phương pháp so
sánh, phân tích để đánh giá hiệu quả tài chính của DN. Từ đó phản ánh đúng, rõ
ràng, và sâu sắc hơn về tình hình tài chính của DN, cùng những hạng mục kinh
doanh quan trọng có ảnh hưởng tới sự phát triển kinh doanh trong tương lai của
DN.
Nội dung chính của đánh giá hiệu quả quản trị tài chính của DN bao gồm:
- Đánh giá năng lực thanh toán
- Đánh giá năng lực cân đối vốn
- Đánh giá năng lực kinh doanh
- Đánh giá năng lực thu lợi
- Đánh giá tổng hợp hiệu quả tài chính
Như vậy, để đánh giá đúng và sâu sắc tình hình tài chính của một DN, các
nhà quản trị tài chính cần phân tích tài chính, từ đó đánh giá hiệu quả quản trị tài
chính của DN.
1.1.2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp.
1.1.2.1.Chức năng phân phối
Đối với mỗi doanh nghiệp thì vấn đề tài chính là vô cùng quan trọng. Để quá
trình sản xuất kinh doanh có thể diễn ra thì vốn của doanh nghiệp phải được phân
phối cho các mục đích khác nhau và các mục đích này đều hướng tới một mục đích
thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.3. Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp.
1.1.3.1. Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh đầu tiên đối với mỗi DN. DN muốn xuất hiện
trên thị trường thì trước tiên doanh nghiệp phải có giấy phép hoạt động do Nhà
nước cấp và DN muốn tồn tại thì mọi hoạt động của DN phải diễn ra trên khuân khổ
của hiến pháp, pháp luật do Nhà nước quy định. DN vừa nhận được các lợi ích của
nhà nước vùa phải chịu các nghĩa vụ đối với nhà nước. DN có thể nhận được các
khoản trợ cấp của Nhà nước, sự hỗ trợ về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn
thông qua các khoản cho vay ưu đãi và DN cũng có thể nhận được sự bảo trợ của
Nhà nước trên thị trường trong nước và quốc tế…Bên cạnh đó, DN cũng phải đảm
bảo thưc hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước mà biểu hiện cụ thể nhất là các khoản
thuế phải nộp Nhà nước. DN cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên thị trường. Bên cạnh đó, Nhà nước
9
cũng phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng ngày càng hổ trợ
và khuyến khích cho các doanh nghiệp phát triển cũng như bảo hộ cho quyền lợi
cho các DN khi gia nhập thị trường quốc tế. Trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện
nay thì Nhà nước còn có một vai trò vô cùng quan trọng là phát hiện ra và có những
điều chỉnh kịp thời các văn bản pháp luật cho phù hợp với tình hình và nhu cầu mới
của thị trường và DN để tạo ra một môi trường ngày càng thông thoáng để DN có
thể gia nhập thị trường cũng như tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách
hiệu quả nhất.
1.1.3.2. Các mối quan hệ của DN với các cơ quan, đơn vị liên quan
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trên thị trường
lao động lại là nơi cung cấp cho doanh nghiêp những doanh nghiệp phù hợp với nhu
cầu của doanh nghiệp, là cầu nối giữa người lao động và doanh nghiệp.
- Mối quan hệ với các thị trường khác: Bên cạnh các thị trường trên doanh
nghiệp còn có mối quan hệ với các thị trường khác như thị trường khoa học công
nghệ, thị trường tư kiệu sản xuất, thị truongf bất động sản, thị truongf thông tin…
Đối với các thị trường này, doanh nghiệp vừa đóng vai trò là nhà cung ứng các dịch
vụ đầu vào vừa đóng vai trò là khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đầu ra.
Duy trì và phát triển được với các mối quan hệ với các thị trường này sẽ giúp
cho doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động của mình trên thị trường.
1.1.3.3. Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp.
Trong nội bộ doanh nghiệp cũng phát sinh rất nhiều mối quan hệ như mối quan
hệ giữa các bộ phận sản xuất- kinh doanh trong doanh nghiệp, quan hệ giữa các phòng
ban, quan hệ giữa người lao động với người lao động trong quá trình làm việc, quan hệ
giữa doanh nghiệp với người lao động, quan hệ giữa doanh nghiệp với người quản lý
doanh nghiệp, quan hệ giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn…
Các mối quan hệ này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp và doanh
nghiệp có thể kiểm soát được. Nếu doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ này
thì sẽ tạo được động lực rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, khi đó hoạt động của doanh nghiệp sẽ diễn ra trôi chẩy, các thành viên đều
có trách nhiệm đối với hoạt động của doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động sản xuất
kinh doanh diễn ra hiệu quả hơn. Chính vì vậy, các nhà quản lý cần phải nắm vững
tầm quan trọng của các mối quan hệ này để có thể có những biện pháp hữu hiệu và
11
phù hợp với tình hình của doanh nghiệp mình để có thể duy trì và củng cố được các
mối quan hệ này và tạo ra một môi trường làm việc tích cực cho mọi thành viên
trong doanh nghệp, tạo cơ hội và khuyến khích sự đóng góp của mọi thành viên
Bước 1: Nghiên cứu và dự báo môi trường kinh doanh
Để xây dựng kế hoạch tài chính, doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu các
nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển của hoạt động tài chính của
doanh nghiệp. Các nhà quản lý phải nghiên cứu môi trường bên ngoài để có thể xác
định được các cơ hội, thách thức hiện có và tiềm ẩn ảnh hưởng đến hoạt động tài
chính của doanh nghiệp; nghiên cứu môi trường bên trong tổ chức để thấy được
những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để có thể có những giải pháp hữu
hiệu khắc phục những điểm yếu và phát huy cao độ những điểm mạnh.
Bước 2: Thiết lập các mục tiêu
Mục tiêu tài chínhh của doanh nghiệp bao gồm các mục tiêu về lợi nhuận,
mục tiêu doanh số và mục tiêu hiệu quả. Các mục tiêu tài chính cần xác định một
cách rõ ràng, có thể đo lường được và phải mang tính khả thi. Do đó các mục tiêu
này phải được đặt ra dựa trên cơ sở là tình hình của doanh nghiệp hay nói cách khác
là dựa trên kết quả của quá trình nghiên cứu và dự báo môi trường. Đồng thời, cùng
với việc đặt ra các mục tiêu thì nhà quản trị cần phải xác định rõ ràng về trách
nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận trong doanh nghiệp trong việc thực hiện các
mục tiêu này.
Bước 3: Xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu
Căn cứ vào các mục tiêu đã đề ra, dựa trên cơ sở tình hình hoạt động của
doanh nghiệp, các nhà quản trị xây dựng các phương án để thực hiện các mục tiêu
này. Các phương án phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và chỉ những
phương án triển vọng nhất mới được đưa ra phân tích.
Bước 4: Đánh giá các phương án
Các nhà quản trị tiến hành phân tích, tính toán các chỉ tiêu tài chính của từng
phương án để có thể so sánh, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng phương án
cũng như khả năng hiện thực hoá như thế nào, tiềm năng phát triển đến đâu để từ đó
có hướng giải quyết.
Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu
Sau khi đánh giá các phương án, phương án tối ưu sẽ được lựa chọn. Phương
+ Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo
chu kỳ và phải đảm bảo chính xác.
+ Dựa vào đặc điiểm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về
tài sản của Bộ Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo thu
15
hồi vốn nhanh, khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý.
+ Thường xuyên đổi mới, nâng cấp đẻ không ngừng nâng cao hiệu suất sản
xuất của tài sản cố định.
+ Sau mỗi kỳ hoạt động, doanh nghiệp sử dụng các tiêu chí để tính toán,
đánh giá hiệu quả vốn cố định. Từ đó tìm ra các nguyên nhân để tìm biện pháp khắc
phục những hạn chế và tiếp tục tăng cường những điểm mạnh của tài sản cố định.
- Quản trị vốn lưu động
Để quản trị vốn lưu động một cách có hiệu quả thì công tác quản trị vốn lưu
động cần đảm bảo các nội dung sau:
+ Thực hiện việc phân tích và tính toán để xác định một cách chính xác
lượng vốn lưu động cần thiết cho một chu kỳ kinh doanh.
+ Khai thác hợp lý các nguồn tài trợ vốn lưu động.
+ Thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình và sử dụng vốn lưu động, tìm
hiểu và xác định xem vốn bị ứ động ở mặt nào, khâu nào để kịp thời tìm những biện
pháp xử lý hữu hiệu.
Trong công tác quản trị vốn lưu động cần quán triệt các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vốn cho sản xuất đông thời bảo đảm sử dụng
vốn có hiệu quả. Trong công tác quản trị vốn lưu động thường xuất hiện những mâu
thuẫn giữa khả năng vốn lưu động thì có hạn mà phải đảm bảo cho nhu cầu sản xuất
kinh doanh rất lớn. Giải quyết mâu thuẫn nay, doanh nghiệp phải cải tiến quản trị,
tăng cường hoạt động kinh doanh, đề ra những biện pháp thích hợp để hoàn thành
tốt nhiệm vụ sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Các doanh nghiệp có thể đầu tư vào các tài sản tài chính như mua cổ phiếu,
trái phiếu hoặc tham gia vào góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác để góp
phần đảm bảo cho nguồn vốn hoạt đông của doanh nghiệp cũng như tăng thu nhập
cho doanh nghiệp. Trong xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại thì đầu tư tài
chính ngày càng phát triển và mang lại lợi ích ngày càng lớn cho các doanh nghiệp.
Chính vì thế hoạt động quản lý đầu tư tài chính ngày càng có vai trò quan trọng đối
với các doanh nghiệp.
1.2.1.4. Phân tích tài chính
Phân tích tài chính là “Một tập hợp các phương pháp và công cụ cho phép thu
thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp,
17
nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp người
sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý phù hợp”.
Từ khái niệm phân tích tài chính như vậy, ta có thể thấy rằng phân tích tài chính
là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp và cũng đòi hỏi cả một quá
trình nghiên cứu và đánh giá một cách khoa học và kỹ lưỡng. Để hoạt động phân tích tài
chính đạt được hiệu quả thì yêu cầu nguồn dữ liệu cung cấp phải chính xác, người tiến
hành phân tích phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng làm việc nhất định.
Phân tích tài chính là một hoạt động vô cùng quan trọng vì kết quả của nó được sử dụng
cho rất nhiều mục đích khác nhau. Phân tích tài chính giúp cho nhà quản lý nắm được
tình hình hoạt động, phát hiện ra những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp mình
thông qua việc so sánh các kết quả của phân tích tài chính.
Từ đó nhà quản lý có thể đề ra những biện pháp hữu hiệu kịp thời khắc phục
những khó khăn cũng như phát triển hơn nữa các điểm mạnh của mình. Kết quả phân
tích tài chính cũng là một căn cứ để các chủ thể khác như ngân hàng, Nhà nước, các nhà
đầu tư, các doanh nghiệp khác… đánh giá về tình hình hoạt động của doanh nghiệp để từ
cáo tài chính có 3 loại là: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
c) Nội dung phân tích tài chính
Phân tích tình hình tài chính là vô cùng quan trọng, do đó khi tiến hành phân
tích phải đảm bảo được các nội dung sau:
- Phân tích khái quát một số vấn đề:
+ Phân tích tình hình diễn biến tài sản và kết cấu tài sản của doanh nghiệp.
+ Phân tích kết cấu nguồn vốn, diễn biến nguồn vốn và tình hình sử dụng
nguồn vốn của doanh nghiệp.
+ Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Phân tích tình hình thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Phân tích các nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
d) Các chỉ tiêu tài chính
* Chỉ tiêu về khả năng thanh toán
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời còn được gọi là khả năng thanh toán
ngắn hạn, được tính như sau:
19
Tổng số tài sản lưu động
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời =
Tổng số nợ ngắn hạn
Trong đó: Tài sản lưu động gồm vốn bằng tiền, tài sản dự trữ (vật tư, hàng
hoá, chi phí sản xuất dở dang) và vốn trong thanh toán (các khoản phải thu). Số nợ
gồm các khoản phải trả (người bán, lương, BHXH…), các khoản vay nợ (nợ ngân
hàng, nợ mua trái phiếu…), các khoản thuế phải nộp mà chưa nộp và các phải nộp
và phải trả khác.
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời là thước đo khả năng có thể trả nợ của
cơ cấu vốn không hợp lý, sẽ làm giảm đi tính hấp dẫn để thu hút nguồn vốn vào
doanh nghiệp. Trong nhóm chỉ tiêu này bao gồm:
- Hệ số nợ
Tổng số nợ của doanh nghiệp
Hệ số nợ =
Tổng số vốn của doanh nghiệp
Hệ số nợ được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với
các chủ nợ, được tính như sau
Tổng số nợ của doanh nghiệp bao gồm: Các khoản phải trả cho khách hàng,
các khoản nợ ngân hàng, các khoản phải nộp ngân sách nhưng chưa nộp, các khoản
phải trả công nhân viên, số nợ qua việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp. Hệ
số nợ càng nhỏ thì càng tốt đối với doanh nghiệp. Khi hệ số này nhỏ hơn so với
mức trung bình của ngành, điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có tình hình tài chính
lành mạnh.
- Hệ số tự tài trợ:
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số tự tài trợ =
x 100 (%)
Tổng nguồn vốn
Hệ số này cho biết tỷ lệ nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm
trong Tổng nguồn vốn của Công ty. Nếu hệ số này ở mức thấp thì cho biết Công ty
đang phụ thuộc vào các Nguồn vốn huy động bên ngoài khác, nếu không đảm bảo
được khả năng thanh toán các khoản Nợ phải trả đúng hạn sẽ dễ dẫn tới rủi ro thanh
khoản. Nếu hệ số này ở mức quá cao cũng không tốt và dễ bị lợi dụng vốn bởi các
đối tác có quan hệ mua bán với Công ty. Do đó, tùy vào chiến lược kinh doanh của
Công ty mà có thể duy trì hệ số tự tài trợ ở mức hợp lý.
toán. Nếu doanh nghiệp có kỳ thu tiền bình quân lớn hơn so với bình quân của
ngành, thì khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp là rất tốt, và ngược lại.
- Kỳ trả tiền bình quân
Tương tự như kỳ thu tiền bình quân, ta có chỉ số phản ánh kỳ trả tiền bình quân.
Chỉ tiêu này cho chúng ta biết, trong một năm DN phải trả tiền cho khách hàng.
Số ngày trong năm
- Kỳ trả tiền bình quân =
(ngày/vòng)
Số vòng quay khoản phải trả
- Số vòng quay vốn lưu động
Số vòng quay
vốn lưu động
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
(đã trừ thuế)
(vòng)
Số dư bình quân vốn lưu động của
doanh nghiệp trong kỳ
Số vòng quay vốn lưu động cho biết một đồng tài sản lưu động tạo ra bao
22
Hiệu suất sử dụng
Tổng các doanh thu
=
(đồng/đồng
tổng tài sản
Tổng tài sản bq
Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được mức độ sử dụng tài sản của doanh nghiệp
có hiệu quả hay không. Nếu hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp cao hơn so
với ngành thì hiệu quả quản lý tài sản là tương đối tốt.
* Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi và phân phối lợi nhuận
- Tỷ số lãi ròng
Lợi nhuận ròng
Tỷ số lãi ròng =
x 100 (%)
Các khoản doanh thu, thu nhập thuần
Nếu tỷ số lãi ròng của doanh nghiệp nhỏ hơn mức trung bình của ngành có
nghĩa là giá bán sản phẩm của doanh nghiệp thấp hơn hoặc chi phí sản xuất và tiêu thụ
của doanh nghiệp cao hơn mức trung bình của ngành.
- Tỷ số lãi ròng so với tài sản (ROA)
Lợi nhuận ròng sau thuế
Tỷ số lãi ròng so với tài sản =
X 100 (%)
Do ú mc tiờu tng doanh li vn t cú l mc tiờu quan trng hng u trong hot
ng qun lý ti chớnh doanh nghip.
- Thu nhp mt c phn (EPS)
Thu nhập
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi
=
1 cổ phần (EPS)
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành
Ch tiờu ny phn ỏnh mi c phn thng (hay c phn ph thụng) trong
nm thu c bao nhiờu li nhun sau thu.
H s EPS cao thỡ tt
- C tc 1 c phn (DIV)
Lợi nhuận sau thuế
Cổ tức một cổ phần thường dành trả cổ tức cho cổ đông thường
=
Số cổ phần thường đang lưu hành
(DIV)
- H s tr c tc:
24
Hệ số trả cổ tức =
Lợi tức một cổ phần thường
Thu nhậơ 1 cổ phần thường trong năm
* H s giỏ th trng:
- H s giỏ trờn thu nhp:Ch tiờu ny phn ỏnh nh u t hay th trng tr
thu nhp do u t a li hay núi cỏch khỏc l xem xột dũng tin ra v dũng tin vo
liờn quan n khon u t ỏnh giỏ c hi u t v mt ti chớnh. ú l quỏ trỡnh
25
hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư.
Các loại quyết định trong quản trị tài chính doanh nghiệp:
- Quyết định đầu tư: Là những quyết định liên quan đến việc mua máy móc
thiết bị, nhà xưởng nhằm thực hiện các cơ hội kinh doanh.
- Quyết định tài trợ: Là những quyết định liên quan đến việc huy động và
thanh toán các nguồn vốn
- Quyết định kinh doanh khác: Là những quyết định còn lại, không phải là
quyết định đầu tư và tài trợ.
Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường luôn biến động như ngày nay thì những
quyết định này càng trở nên khó khăn và mức độ rủi ro cũng tăng. Do đó các nhà
quản trị tài chính cần phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng trước khi đưa ra các quyết
định đầu tư, đảm bảo duy trì và phát triển nguồn tài chính của doanh nghiệp. Nhà
quản trị đưa ra các quyết định đầu tư dựa trên cơ sở lựa chọn các phương án căn cứ
vào các chỉ tiêu cụ thể bao gồm cả đầu tư vào doanh nghiệp lẫn đầu tư ra ngoài
doanh nghiệp để các quyết định đầu tư thực sự đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.