Hiệu quả của truyền thông giáo dục dinh dưỡng lên kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ góp phần giảm suy dinh dưỡng thấp còi ở huyện tam nông, phú thọ - Pdf 34

BỘ Y TẾ
VIỆN DINH DƯỠNG

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NHÁNH
ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC 2011 - 2014
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM
SUY DINH DƯỠNG THẤP CÒI Ở TRẺ EM VIỆT NAM
Đề tài nhánh: Hiệu quả của truyền thông giáo dục dinh dưỡng lên
kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ góp phần giảm suy
dinh dưỡng thấp còi ở huyện Tam nông, Phú Thọ

Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Thị Thuý Hoà
Thư ký đề tài:
TS Huỳnh Nam Phương
Đơn vị chủ trì:
Viện Dinh dưỡng Quốc gia
Đơn vị chủ quản: Bộ Khoa học và Công nghệ

Hà Nội, năm 2014


Mục lục

Danh mục bảng

2


Danh mục hình

3

Động vật

G

Glucid

GDSK

Giáo dục sức khỏe

L

Lipid

MICS

Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ
(Multiple Indicator Cluster Survey)

NCBSM

Nuôi con bằng sữa mẹ

NCBSMH
T
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
P

Protein


tiềm năng nếu được nuôi dưỡng trong môi trường lành mạnh và hưởng các thực hành
về y tế, dinh dưỡng và chăm sóc theo đúng khuyến cáo. Suy dinh dưỡng thấp còi tác
động đến 1/3 số trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tương
đương với tổng số 178 triệu trẻ em ( 1). Suy dinh dưỡng thấp còi vừa là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến chiều cao người trưởng thành thấp và giảm các các chức phận cơ thể
ở tuổi trưởng thành vừa là dấu hiệu chính đánh dấu một quá trình quan trọng trong
những năm đầu đời dẫn đến tăng trưởng kém và các hậu quả xấu khác. Suy dinh
dưỡng thấp còi là một trong những yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh,
suy giảm sức khỏe lúc còn nhỏ và khi trưởng thành, giảm khả năng học tập và năng
suất lao động. Để có hiệu quả tốt nhất, các can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng
thấp còi cần được tiến hành sớm, tốt nhất là trong giai đoạn “cửa sổ cơ hội”: từ khi
trong bào thai cho đến khi trẻ được 2 tuổi.
Can thiệp hiệu quả nhất với suy dinh dưỡng thấp còi phải có tính dự phòng và
toàn diện, trong đó cải thiện về thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ (bao gồm nuôi con bằng
sữa mẹ và ăn bổ sung) được coi là những can thiệp cần được ưu tiên.
Cần tập trung vào thời điểm can thiệp hiệu quả nhất và các can thiệp được
chứng minh là có tác động đến tăng trưởng chiều cao. Các can thiệp trong thời kì
mang thai và 2 năm đầu đời của trẻ nhằm ngăn chặn tình trạng thấp còi thì có hiệu quả
hơn các can thiệp tác động trẻ đã bị suy dinh dưỡng. Đây là thời điểm trẻ nhận được
nhiều lợi ích nhất từ các can thiệp dinh dưỡng. Khuyến khích cho bú sớm, bú mẹ hoàn
toàn trong 6 tháng đầu và bú kéo dài đến 24 tháng; cải thiện thực hành ăn bổ sung
thông qua tư vấn dinh dưỡng ở những nơi có an ninh thực phẩm cao và tư vấn kết hợp
cung cấp các thực phẩm hoặc sản phẩm bổ sung vi chất ở nơi có an ninh thực phẩm
thấp có thể góp phần giảm tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi. Các can thiệp về nuôi
dưỡng trẻ nhỏ cần phải được xây dựng cho phù hợp với hoàn cảnh, cần có đánh giá tỉ
mỉ các tập quán nuôi dưỡng và các thực phẩm sẵn có tại địa phương.
Ở Việt Nam, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã có những
họat động giáo dục truyền thông lồng ghép nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của
5


TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1

Nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Theo báo cáo của UNICEF 2009, mức độ trẻ và bà mẹ bị thiếu dinh dưỡng tiếp
tục duy trì trên thế giới, trong đó 90% trẻ bị thấp còi sống ở các nước Châu Á và Châu
Phi. Những thiệt hại thường không nhìn thấy được cho tới khi mức độ suy dinh dưỡng
trầm trọng, nó phá hủy sự sống còn, sự phát triển và lớn lên của trẻ cũng như của người
mẹ khi mang thai, từ đó kéo theo những thiệt hại xã hội (3). Những nguyên nhân phối hợp
giữa sự thiếu chất lượng thực phẩm, sự tấn công liên tục của các bệnh nhiễm trùng và sự
6


thiếu chăm sóc, thiếu dinh dưỡng tiếp tục trải rộng tỷ lệ ra cả các nước đang phát triển và
các nước công nghiệp với những hình thái và mức độ khác nhau. Dinh dưỡng thiếu đặc
biệt nguy hại khi người phụ nữ mang thai và trẻ em trong 2 năm đầu cuộc đời. Giai đoạn
này quyết định sự sống còn, phát triển về sau của trẻ và ảnh hưởng nhiều tới khả năng
học tập và làm việc khi trưởng thành. Dinh dưỡng thời thơ ấu có tác động cuối cùng lên
sức khỏe và sự có ích khi lớn lên (4), (5).
Theo WHO/PAHO (6), có 15 thực hành lý tưởng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ như sau:
1

Trẻ mới sinh đều được bắt đầu cho bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh

2

Trẻ mới sinh không được cho ăn/uống gì trước khi cho bú mẹ


12 Cho trẻ ăn thực phẩm đa dạng (với 4 loại thực phẩm trong mỗi bữa ăn)
13 Cho trẻ ăn những thực phẩm giàu sắt hàng ngày
14 Cho trẻ ăn thịt, cá và thịt gia cầm hàng ngày
15 Hỗ trợ và chăm cho trẻ ăn no trong các bữa ăn

Để cải thiện tình trạng dinh dưỡng, đặc biệt giảm tỷ lệ thấp còi của trẻ dưới 2 tuổi,
nhiều nghiên cứu đã can thiệp tới thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ trong đó chăm sóc ngay
từ ban đầu khi mới sinh như cho bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, nuôi con bằng sữa mẹ
trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú kéo dài tới hơn 2 tuổi cùng kết hợp với cho ăn bổ
7


sung an toàn và hợp lý từ lúc 6 tháng tuổi trở đi. Các nghiên cứu cho thấy dưới 40% trẻ ở
các nước đang phát triển được bú mẹ trong 1 giờ đầu, 37% trẻ bú mẹ hoàn toàn dưới 6
tháng và 60% trẻ ăn bổ sung với chất lượng bữa ăn bổ sung của trẻ thường không đủ, đặc
biệt thiếu protein, chất béo hay vi chất dinh dưỡng tăng cường sự phát triển của trẻ (3).
Những giải pháp lồng ghép các họat động chăm sóc dinh dưỡng trên cộng đồng cũng
được nhiều nước áp dụng và có một số hiệu quả đáng chú ý như tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn
ở nhiều nước tăng lên như ở Campuchia tăng từ 12% năm 2000 lên 60% năm 2005,
Srilanca tăng từ 53% năm 2000 lên 76% năm 2005 (7, 8, 9, 10).
Việc kết hợp các hoạt động triển khai nhằm dự phòng suy dinh dưỡng được nhiều
nước quan tâm bao gồm cân trẻ, chăm sóc sức khỏe và điều kiện vệ sinh, khuyến khích
an ninh thực phẩm.
Ở Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng đã có nhiều cải thiện, tỷ lệ thấp cân giảm đáng
kể, mỗi năm giảm trung bình 1.5 đến 2%. Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng đã
có những hoạt động trên cộng đồng đáng ghi nhận như cân trẻ thường xuyên, tổ chức
giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ qua các buổi trình diễn bữa ăn hoặc chăm sóc những
phụ nữ khi mang thai qua bổ sung viên đa vi chất ở một số nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng
cao hoặc cấp một số thực phẩm bổ sung cho bà mẹ không tăng cân khi có thai…đã góp
phần làm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của

hiệu chính đánh dấu một quá trình quan trọng trong những năm đầu đời dẫn đến tăng
trưởng kém và các hậu quả xấu khác. Suy dinh dưỡng thấp còi là một trong những yếu
tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, suy giảm sức khỏe lúc còn nhỏ và khi
trưởng thành, giảm khả năng học tập và năng suất lao động. Để có hiệu quả tốt nhất,
các can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng thấp còi cần được tiến hành sớm, tốt nhất
là trong giai đoạn “cửa sổ cơ hội”: từ khi trong bào thai cho đến khi trẻ được 2 tuổi.
Trẻ em trên toàn thế giới có khả năng đạt được chiều cao tối đa theo tiềm năng nếu
được nuôi dưỡng trong môi trường lành mạnh và hưởng các thực hành về y tế, dinh
dưỡng và chăm sóc theo đúng khuyến cáo.
Trẻ em trên toàn thế giới có khả năng đạt được mức tăng trưởng tối đa theo
tiềm năng nếu được nuôi dưỡng trong môi trường lành mạnh và hưởng các thực hành
về y tế, dinh dưỡng và chăm sóc theo đúng khuyến cáo. Suy dinh dưỡng thấp còi thể
hiện tình trạng không đạt được chiều cao tối đa theo di truyền ( 18). Tình trạng thấp còi
thường là hậu quả tích lũy của dinh dưỡng nghèo nàn và các thiếu hụt khác kéo dài
qua nhiều thế hệ.
Suy dinh dưỡng thấp còi tác động đến 1/3 số trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước có
thu nhập thấp và trung bình, tương đương với tổng số 178 triệu trẻ em ( 19). Các gia
đình sống tại các cộng đồng dân cư có tầm vóc thấp thường không chú ý tới tình trạng
9


thấp còi bởi vì đây là điều bình thường đối với họ. Thậm chí cả các cán bộ y tế cũng
thường không quan tâm nhiều tới suy dinh dưỡng thấp còi bằng suy dinh dưỡng thể
nhẹ cân hay suy dinh dưỡng thể gày còm (cân nặng thấp so với chiều cao); nhất là khi
các chương trình sức khỏe cộng đồng không tiến hành đo chiều cao định kì cho trẻ.
Nhiều gia đình, cán bộ y tế cũng như các nhà hoạch định chính sách không ý thức
được hậu quả của suy dinh dưỡng thể thấp còi. Chính vì vậy, nó không được xem là
một vấn đề của y tế cộng đồng.
Châu Phi là khu vực có tỉ lệ thấp còi cao nhất (40%) và châu Á là nơi có số trẻ
bị thấp còi nhiều nhất trên thế giới (112 triệu trẻ), hầu hết tập trung ở khu vực Trung

thiếu máu cho mẹ, giảm hút thuốc lá và ô nhiễm không khí trong nhà.



Hỗ trợ bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.



Cải thiện các thực hành cho trẻ ăn bổ sung và chất lượng bữa ăn
11




Giảm tỉ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là tiêu chảy thông qua các can
thiệp phòng chống bệnh tật hiệu quả.

Cần ưu tiên cho các hành động sau đây:
Nâng cao nhận thức về vấn đề. Thiết kế và tuyên truyền các thông điệp chính phù
hợp cho các đối tượng khác nhau. Ví dụ:


Suy dinh dưỡng thấp còi phản ánh tình trạng dinh dưỡng kém của bà mẹ, trẻ sơ
sinh và trẻ nhỏ.



Khi trẻ đã qua hai tuổi, rất khó có thể thay đổi tình trạng thấp còi đã xảy ra
trước đó.


suy dinh dưỡng và mắc các bệnh nhiễm trùng cao nhất. Đây là thời điểm trẻ nhận
được nhiều lợi ích nhất từ các can thiệp dinh dưỡng. Tư vấn dinh dưỡng ở những nơi
có an ninh thực phẩm cao và tư vấn kết hợp cung cấp các thực phẩm tăng cường vi
chất hoặc bổ sung vi chất ở nơi có an ninh thực phẩm thấp có thể góp phần giảm tình
trạng suy dinh dưỡng thấp còi. Các can thiệp cải thiện cho ăn bổ sung cần phải được
xây dựng cho phù hợp với hoàn cảnh, bao gồm việc đánh giá tỉ mỉ các tập quán nuôi
dưỡng và các thực phẩm sẵn có tại địa phương.
Đo cả chiều cao của trẻ chứ không chỉ cân trẻ. Cần khuyến khích các nhà hoạch
định chính sách sử dụng suy dinh dưỡng thấp còi làm chỉ số đánh giá tình trạng dinh
dưỡng và sức khỏe tổng thể của trẻ hơn là chỉ giám sát suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, và
chỉ số này phải được phản ánh trong đánh giá dự án. Việc coi suy dinh dưỡng thấp còi
là một chỉ số có vai trò đặc biệt quan trọng khi “dinh dưỡng chuyển tiếp” sang gia
tăng thừa cân ở nhiều nước đang phát triển. Điều này có thể dẫn tới một số cơ cấu dân
số có tỉ lệ nhẹ cân thấp nhưng tỉ lệ thấp còi vẫn tiếp tục duy trì ở mức cao.
Hỗ trợ nghiên cứu và đổi mới. Cần phải học hỏi nhiều hơn cách làm thế nào để triển
khai thành công các chương trình khuyến khích tăng trưởng và phát triển tối ưu với
mức chi phí hợp lý. Cũng cần phải nghiên cứu sâu hơn để có thể nắm được cơ chế nào
mà phòng chống thấp còi lại có được các tác động lâu dài trên nhiều phương diện. Các
nghiên cứu theo dõi ở Guatemala chứng minh rằng can thiệp dinh dưỡng ở giai đoạn
đầu đời làm cải thiện đường tăng trưởng và cũng có tác động lớn đến việc hình thành
năng lực và khả năng kinh tế của người trưởng thành cũng như đến sự tăng trưởng của
các thế hệ tiếp theo (25). Các nghiên cứu theo dõi khác ở châu Phi và châu Á cũng
củng cố rằng chiến lược toàn cầu phải hướng đến các can thiệp ở giai đoạn đầu đời.
Kinh nghiệm và thực tiễn đã chỉ ra rằng, SDD hoàn toàn có thể phòng tránh được
hoặc kiểm soát được. Hiện nay các biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng toàn cầu

13


tập trung vào 3 nhóm biện pháp ( 26): tăng lượng dinh dưỡng ăn vào, bổ sung vi chất và

sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho các bà mẹ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ
sung hợp lý; đảm bảo bổ sung đầy đủ vitamin A cho trẻ 6 – 36 tháng tuổi và bà mẹ
sau đẻ, thực hiện nuôi dưỡng tốt khi trẻ bị bệnh, chăm sóc vệ sinh, phòng chống
nhiễm giun và tổ chức giáo dục, tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng và tại các gia đình.
3

Giáo dục sức khoẻ và cách tiếp cận trong giáo dục sức khoẻ

14


Giáo dục sức khỏe (GDSK) là một loại can thiệp trong các chương trình y tế
dành cho sự sống còn của trẻ em, sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng, HIV/AIDS và nhiều
chương trình khác hiện nay đang được thực hiện rộng rãi ở các nước đang phát triển.
Trong Tuyên ngôn Alma Alta về Chăm sóc sức khỏe ban đầu năm 1978,
GDSK “là những can thiệp giáo dục quan tâm đến những vấn đề sức khỏe nổi bật và
các biện pháp để dự phòng và kiểm soát chúng” đã được xác định là thành tố số một
trong số tám thành tố cơ bản của chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Nội dung của GDSK bao gồm:
 Nâng cao nhận biết về các vấn đề sức khỏe và các yếu tố gây nên ốm đau bệnh

tật.
 Cung cấp các thông tin về sức khỏe, bệnh tật.
 Thúc đẩy và thuyết phục mọi người thực hiện các thay đổi trong lối sống của

họ vì sức khỏe của họ và của những người khác.
 Trang bị cho mọi người những kĩ năng và sự tự tin để thực hiện những thay đổi

hành vi có lợi cho sức khỏe.
GDSK được phân biệt chủ yếu bởi tính độc lập và tự nguyện. Nguyên lý nổi bật

sung hợp lý, sử dụng các thực phẩm giàu sắt…



Sử dụng các dịch vụ đúng: khám thai, theo dõi tăng trưởng cho trẻ …



Tuân thủ điều trị: tuân theo hướng dẫn của cán bộ y tế trong việc uống
đầy đủ và đều đặn viên sắt khi có thai…

 Cải thiện dịch vụ dinh dưỡng và y tế

Giáo dục sức khoẻ có thể hướng dẫn quá trình để làm cho các dịch vụ y tế, dinh
dưỡng trở nên thân thiện hơn cho người sử dụng và khuyến khích việc sử dụng các
dịch vụ này một cách phù hợp hơn.
Bước đầu tiên để tăng sử dụng dịch vụ là cần làm cho các cá nhân và cộng
đồng nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe từ đó họ
mới hiểu được cần tìm kiếm và sử dụng các dịch vụ. Bên cạnh đó khách hàng còn cần
có được sự tự tin và kỹ năng cần thiết để bản thân họ thấy rằng tự họ có thể đưa ra
những hành động tạo nên sự thay đổi (self-efficacy). Sau khi họ đã nhận thức được
vấn đề và nhu cầu để phòng chống vấn đề đó, họ cần phải được biết cái gì họ có thể
làm được ở nhà và khi nào thì cần tìm kiếm sự hỗ trợ. Tuy nhiên còn rất nhiều rào cản
như khó khăn trong việc thu xếp công việc, sự cản trở của những người trong gia đình,
không có tiền, định kiến xã hội, thời gian làm việc của dịch vụ không phù hợp, cán bộ
y tế không đồng cảm, chất lượng điều trị kém (thiếu cán bộ, trang thiết bị, vật tư) làm
16


cho dịch vụ chưa hoàn thiện. Vì vậy cần có những nghiên cứu tìm hiểu được những



(IEC) (35). BCC được ra đời từ kinh nghiệm của USAID qua hai thập kỷ phát triển
truyền thông. Từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước, giải pháp thay đổi hành vi đã
được sử dụng ở Hoa Kỳ để phòng chống lại những bệnh mạn tính, phòng chống thuốc
lá và giảm chế độ ăn nhiều dầu mỡ. Trong những năm 80, các cơ quan quốc tế và
chính phủ các quốc gia đang phát triển bắt đầu quan tâm đến những giải pháp thay đổi
hành vi tương tự nhằm thông qua truyền thông sức khoẻ để cải thiện các kỹ thuật và
thực hành vì sự sống còn của trẻ em (36).
Đặc điểm:
Khởi xướng của truyền thông thay đổi hành vi (BCC) là từ sự kết hợp giữa lý
thuyết truyền thông sức khỏe và dịch tễ nhằm thuyết phục cộng đồng chấp nhận
những hành vi để làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Bằng cách sử dụng kết quả của các
nghiên cứu dịch tễ để xác định các vấn đề sức khỏe liên quan, tiến hành các cuộc
phỏng vấn và thảo luận nhóm để tìm hiểu xem người ta quan niệm về các vấn đề sức
khỏe đó như thế nào, từ đó các nhà truyền thông thay đổi hành vi tìm cách sử dụng
thông tin đại chúng và truyền thông giữa các cá nhân để thuyết phục mọi người thay
đổi hành vi. Các nghiên cứu theo đó sẽ giúp xác định những rào cản của việc thay đổi
hành vi và tìm hiểu những khả năng để có thể chấp nhận những hành vi mới (37).
BCC dựa trên lý luận của 5 giai đoạn thay đổi hành vi (38) (xem Hình 2)

18


C á c g ia i đ o ạ n t h a y đ ổ i h à n h v i

4

T r u y ề n t h ô n g v iê n c ầ n l à m g ì
5


1
N h ậ n ra h à n h v i c ó h ại

3 . C u n g c ấ p th ô n g tin c ơ b ả n
2 . G iả i th íc h /p h â n tíc h lợ i, h ạ i
1 . T ìm h iể u đ ố i t ợ n g đ ã b iế t
g ì v à là m g ì

Hỡnh 2: Cỏc giai on thay i hnh vi
Giai on 1: Trc ht i tng phi t nhn ra hnh vi ca mỡnh l cú hi cho sc

kho bn thõn v cú th cho c cng ng.
Giai on 2: Tip theo, i tng phi cú quan tõm n hnh vi mi lnh mnh

Bc ny cú th kộo di vi thỏng hoc ti vi nm, v thc t cú nhng ngi
khụng bao gi vt qua c nú.
Giai on 1 v 2 thuc v nhn thc cm tớnh nờn cỏc phng tin thụng tin i chỳng
cú tỏc dng tt nht.
Giai on 3: Chun b cho s thay i. õy l bc ngot chuyn tip t quỏ trỡnh

nhn thc cm tớnh sang nhn thc lý tớnh, khi m cỏ nhõn i n quyt tõm t mc
ớch thay i v sn sng thc hin vic thay i. Trong bc ny cỏ nhõn chu tỏc
ng mnh bi cỏc yu t bờn trong v cỏc tỏc ng bờn ngoi nờn vai trũ v s giỳp
trc tip ca nhõn viờn truyn thụng l rt quan trng. Cỏc phng tin thụng tin
i chỳng khụng cũn tỏc dng tt nh trc na.

19



qua việc tăng cường các kênh truyền thông (39).

III

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1

Địa điểm – Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn
20


Trẻ dưới 2 tuổi khỏe mạnh, không có dị tật bấm sinh, không mắc các

-

bệnh nhiễm trùng cấp tính
-

Mẹ của trẻ dưới 2 tuổi sống tại xã

-

Gia đình tự nguyện tham gia

Địa điểm nghiên cứu
4 xã thuộc huyện Tam nông, tỉnh Phú thọ

dinh dưỡng; e: độ chính xác mong muốn = 95%.
Cỡ mẫu điều tra là 371 trẻ
-

Cỡ mẫu để phỏng vấn kiến thức và thực hành của mẹ

p: tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành chưa đúng của điều tra trước (32.6%) (11); q
= 1-p: tỷ lệ trẻ không bị suy dinh dưỡng; e: độ chính xác mong muốn = 95%
Cỡ mẫu tính được là phỏng vấn 352 người chăm sóc trẻ
21


Vậy cỡ mẫu chung cho điều tra là 371 + 5% bỏ cuộc= 390 trẻ
Chọn mẫu:
Cân đo và phỏng vấn: chọn toàn bộ trẻ dưới 2 tuổi cân đo và phỏng vấn
Hỏi ghi khẩu phần: chọn ngẫu nhiên hệ thống 120 bà mẹ có con dưới 2 tuổi theo danh
sách trẻ dưới 2 tuổi được lập.
Nghiên cứu định tính:
4 cuộc thảo luận nhóm có trọng tâm cho các bà mẹ đang nuôi con dưới 2 tuổi ở địa
bàn nghiên cứu
Chọn mẫu: mỗi xã tổ chức 1 thảo luận nhóm và chọn 7-12 bà mẹ có con dưới 2 tuổi
tương đồng về các đặc điểm (nghề nông, có 1-2 con) để tham gia thảo luận nhóm
2

Giai đoạn 2

Cỡ mẫu
-

Cỡ mẫu đánh giá tình trạng dinh dưỡng


Chọn xã can thiệp và xã chứng trong đó xã can thiệp gồm 2 xã: Thượng Nông và
Dậu dương huyện Tam nông tỉnh Phú Thọ và 2 xã chứng cùng huyện là xã Thanh
Uyên và Tam cường có cùng điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội và các chương trình
can thiệp sức khỏe.

-

Chọn đối tượng nghiên cứu cho điều tra nhân trắc: Dựa vào danh sách quản lý trẻ
dưới 2 tuổi của trạm y tế, chọn tòan bộ trẻ dưới 2 tuổi đạt tiêu chuẩn nghiên cứu

-

Chọn đối tượng nghiên cứu phỏng vấn: Toàn bộ trẻ được cân đo sẽ phỏng vấn kiến
thức thực hành nuôi trẻ của các bà mẹ

-

Khẩu phần: Dựa vào danh sách quản lý trẻ dưới 2 tuổi đủ tiêu chuẩn của nghiên
cứu, chọn ngẫu nhiên 59 bà mẹ đang nuôi con dưới 2 tuổi mỗi nhóm nghiên cứu
4

Phương pháp thu thập số liệu
1
Cân đo nhân trắc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 2 tuổi:
theo qui trình chuẩn của Viện Dinh dưỡng (42)



Tính tuổi theo tháng (đối với trẻ dưới 5 tuổi): tuổi theo Tổ chức y tế thế giới



Kỹ thuật cân


Chuẩn bị cân: chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0. Hàng ngày phải kiểm tra
cân 2 lần bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tương đương, ví dụ một
can nước 5 kg) để kiểm soát độ chính xác và độ nhạy của cân. Kiểm tra cân

trước và trong khi sử dụng cụ.
− Cân: cho mặc quần áo nhẹ nhất. Trường hợp trẻ quấy khóc, khó thực hiện
thì có thể cân mẹ của trẻ rồi cân mẹ bế cả con, sau đo trừ ngay để lấy cân
nặng thực tế của trẻ.
− Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng
dồn đều vào hai chân. Kết quả cân được ghi theo đơn vị kilogam với 1 số lẻ
(0,0 kg) với loại cân có độ nhạy 100g.


Kỹ thuật đo chiều dài nằm: là kỹ thuật được thực hiện khi trẻ dưới 24 tháng tuổi
Để thước nằm trên mặt phẳng nằm ngang. Đặt trẻ nằm ngửa, người phụ giữ đầu để
mắt trẻ nhìn thẳng lên trần nhà. Mảnh gỗ chỉ số 0 của thước áp sát đỉnh đầu. Người
đo ấn thẳng đầu gối và đưa mảnh gỗ di động áp sát gót, khi gót chân sát mặt phẳng
nằm ngang và bàn chân thẳng đứng thì đọc kết quả. Kết quả được ghi theo đơn vị
cm với 1 số lẻ (0,0cm).
2

Phỏng vấn bà mẹ về nuôi dưỡng trẻ:

Kiến thức, thực hành của người mẹ trong việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ (bao gồm cả khi
trẻ bị mắc bệnh tiêu chảy và nhiễm khuẩn đường hô hấp)


Bú sớm: tỷ lệ trẻ bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh: tính trên trẻ

o
o
o
o

24 tháng
BMHT: tỷ lệ trẻ 0-5 tháng BMHT/ngày hôm trước
Bú mẹ đến 1 tuổi : tỷ lệ trẻ 12-15 tháng bú mẹ ngày hôm trước
Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung 6-8 tháng ngày hôm trước
Đa dạng tối thiểu: tỷ lệ trẻ 6-23 tháng được nhận từ 4 nhóm thực
phẩm trở lên trong 7 nhóm: 1. Ngũ cốc/khoai củ; 2. Đậu đỗ các loại;
3. Chế phẩm sữa; 4. Thịt, cá, gia cầm, phủ tạng; 5. Trứng; 6. Rau trái

cây giàu vitamin A; 7. Rau quả khác
o Số lần ăn tối thiểu: tỷ lệ trẻ bú mẹ hay không bú mẹ ăn bổ sung với
số lần tối thiểu hay hơn ngày trước đó/số trẻ 6-23 tháng
Tối thiểu: Trẻ bú mẹ: 2 lần cho trẻ 6-8 tháng ; 3 lần cho trẻ 9-23
tháng; Trẻ không bú mẹ: 4 lần cho trẻ 6-23 tháng
o

Chế độ ăn tối thiểu được chấp nhận: Tỷ lệ trẻ 6-23 tháng bú mẹ hay
không bú mẹ nhận được đa dạng tối thiểu và tần xuất tối thiểu trong
ngày hôm trước/số trẻ được bú mẹ hay không bú mẹ
25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status