NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM SUY DINH DƯỠNG THẤP CÒI Ở TRẺ EM VIỆT NAM - Pdf 34

BỘ Y TẾ
VIỆN DINH DƯỠNG

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI NHÁNH
ĐỀ TÀI CẤP NHÀ NƯỚC 2011 - 2014
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM
SUY DINH DƯỠNG THẤP CÒI Ở TRẺ EM VIỆT NAM
Đề tài nhánh: Hiệu quả của truyền thông giáo dục dinh dưỡng lên
kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ góp phần giảm
suy dinh dưỡng thấp còi ở huyện Tam nông, Phú Thọ

Hà Nội, năm 2014
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Thị Thuý Hoà
Thư ký đề tài:
TS Huỳnh Nam Phương
Đơn vị chủ trì:
Viện Dinh dưỡng Quốc gia
Đơn vị chủ quản: Bộ Khoa học và Công nghệ


Mục lục

Danh mục bảng

2


Danh mục hình

3



G

Glucid

GDSK

Giáo dục sức khỏe

L

Lipid

MICS

Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ
(Multiple Indicator Cluster Survey)

NCBSM

Nuôi con bằng sữa mẹ

NCBSMHT

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

P

Protein



ĐẶT VẤN ĐỀ

Trẻ em trên toàn thế giới có khả năng đạt được mức tăng trưởng tối đa theo
tiềm năng nếu được nuôi dưỡng trong môi trường lành mạnh và hưởng các thực hành
về y tế, dinh dưỡng và chăm sóc theo đúng khuyến cáo. Suy dinh dưỡng thấp còi tác
động đến 1/3 số trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tương
đương với tổng số 178 triệu trẻ em ( i). Suy dinh dưỡng thấp còi vừa là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến chiều cao người trưởng thành thấp và giảm các các chức phận cơ thể
ở tuổi trưởng thành vừa là dấu hiệu chính đánh dấu một quá trình quan trọng trong
những năm đầu đời dẫn đến tăng trưởng kém và các hậu quả xấu khác. Suy dinh
dưỡng thấp còi là một trong những yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh,
suy giảm sức khỏe lúc còn nhỏ và khi trưởng thành, giảm khả năng học tập và năng
suất lao động. Để có hiệu quả tốt nhất, các can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng
thấp còi cần được tiến hành sớm, tốt nhất là trong giai đoạn “cửa sổ cơ hội”: từ khi
trong bào thai cho đến khi trẻ được 2 tuổi.
Can thiệp hiệu quả nhất với suy dinh dưỡng thấp còi phải có tính dự phòng và
toàn diện, trong đó cải thiện về thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ (bao gồm nuôi con bằng
sữa mẹ và ăn bổ sung) được coi là những can thiệp cần được ưu tiên.
Cần tập trung vào thời điểm can thiệp hiệu quả nhất và các can thiệp được
chứng minh là có tác động đến tăng trưởng chiều cao. Các can thiệp trong thời kì
mang thai và 2 năm đầu đời của trẻ nhằm ngăn chặn tình trạng thấp còi thì có hiệu quả
hơn các can thiệp tác động trẻ đã bị suy dinh dưỡng. Đây là thời điểm trẻ nhận được
nhiều lợi ích nhất từ các can thiệp dinh dưỡng. Khuyến khích cho bú sớm, bú mẹ hoàn
toàn trong 6 tháng đầu và bú kéo dài đến 24 tháng; cải thiện thực hành ăn bổ sung
thông qua tư vấn dinh dưỡng ở những nơi có an ninh thực phẩm cao và tư vấn kết hợp
cung cấp các thực phẩm hoặc sản phẩm bổ sung vi chất ở nơi có an ninh thực phẩm
thấp có thể góp phần giảm tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi. Các can thiệp về nuôi
dưỡng trẻ nhỏ cần phải được xây dựng cho phù hợp với hoàn cảnh, cần có đánh giá tỉ
mỉ các tập quán nuôi dưỡng và các thực phẩm sẵn có tại địa phương.

trẻ dưới 2 tuổi.

II.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

II.1.

Nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Theo báo cáo của UNICEF 2009, mức độ trẻ và bà mẹ bị thiếu dinh dưỡng tiếp
tục duy trì trên thế giới, trong đó 90% trẻ bị thấp còi sống ở các nước Châu Á và Châu
Phi. Những thiệt hại thường không nhìn thấy được cho tới khi mức độ suy dinh dưỡng
trầm trọng, nó phá hủy sự sống còn, sự phát triển và lớn lên của trẻ cũng như của người
mẹ khi mang thai, từ đó kéo theo những thiệt hại xã hội ( iii). Những nguyên nhân phối
hợp giữa sự thiếu chất lượng thực phẩm, sự tấn công liên tục của các bệnh nhiễm trùng và
6


sự thiếu chăm sóc, thiếu dinh dưỡng tiếp tục trải rộng tỷ lệ ra cả các nước đang phát triển
và các nước công nghiệp với những hình thái và mức độ khác nhau. Dinh dưỡng thiếu
đặc biệt nguy hại khi người phụ nữ mang thai và trẻ em trong 2 năm đầu cuộc đời. Giai
đoạn này quyết định sự sống còn, phát triển về sau của trẻ và ảnh hưởng nhiều tới khả
năng học tập và làm việc khi trưởng thành. Dinh dưỡng thời thơ ấu có tác động cuối cùng
lên sức khỏe và sự có ích khi lớn lên (iv), (v).
Theo WHO/PAHO (vi), có 15 thực hành lý tưởng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ như sau:
1. Trẻ mới sinh đều được bắt đầu cho bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh
2. Trẻ mới sinh không được cho ăn/uống gì trước khi cho bú mẹ
3. Trẻ mới sinh đều được bú sữa non
4. Trẻ mới sinh và trẻ nhỏ đều được cho bú mẹ theo nhu cầu suốt ngày lẫn đêm

Ở Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng đã có nhiều cải thiện, tỷ lệ thấp cân giảm đáng
kể, mỗi năm giảm trung bình 1.5 đến 2%. Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng đã
có những hoạt động trên cộng đồng đáng ghi nhận như cân trẻ thường xuyên, tổ chức
giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ qua các buổi trình diễn bữa ăn hoặc chăm sóc những
phụ nữ khi mang thai qua bổ sung viên đa vi chất ở một số nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng
cao hoặc cấp một số thực phẩm bổ sung cho bà mẹ không tăng cân khi có thai…đã góp
phần làm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của
Viện Dinh dưỡng tỷ lệ thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi còn cao (29.3%) trong đó cao nhất là ở
các vùng cao, đặc biệt là như các tỉnh vùng núi phía bắc 33.7% và Tây nguyên 35.1%.
Nguyên nhân thiếu kiến thức và thực hành chưa đúng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ còn khá phổ
biến, nhất là nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý ở các vùng có tỷ lệ suy dinh
dưỡng cao (xi, xii,

xiii

, xiv, xv, xvi). Nuôi con bằng sữa mẹ vẫn là thực hành phổ biến ở Việt

Nam với tỷ lệ 98% trẻ được bú mẹ ( xvii). Tỷ lệ này thay đổi theo từng vùng sinh thái, dân
tộc, trình độ học vấn của bà mẹ và nơi sinh con. Mặc dù tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ cao
nhưng vấn đề tồn tại là cho trẻ bú sớm, thời gian cho trẻ bú mẹ hoàn toàn và bú kéo dài
chưa đạt được khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới về nuôi con bằng sữa mẹ (7). Theo
số liệu của Điều tra giám sát năm 2010 (Viện Dinh dưỡng), tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ
hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ có 19,6%; tỷ lệ cho trẻ bú sớm trong 1h đầu là 61,7%; tỷ
lệ trẻ được bú đến 1 tuổi là 77% và đến 2 tuổi 22.1%.
8


Như vậy, trẻ em bắt đầu ăn bổ sung thường sớm hơn so với khuyến cáo, tỷ lệ
trẻ dưới 2 tuổi được nuôi dưỡng hợp lý chỉ chiếm 54,8%; được ăn đủ nhóm thực phẩm
tối thiểu là 71,6%; ăn đủ bữa tối thiểu là 85,6%; được nuôi đúng đú là 51,7% (Điều tra

9


thấp còi bởi vì đây là điều bình thường đối với họ. Thậm chí cả các cán bộ y tế cũng
thường không quan tâm nhiều tới suy dinh dưỡng thấp còi bằng suy dinh dưỡng thể
nhẹ cân hay suy dinh dưỡng thể gày còm (cân nặng thấp so với chiều cao); nhất là khi
các chương trình sức khỏe cộng đồng không tiến hành đo chiều cao định kì cho trẻ.
Nhiều gia đình, cán bộ y tế cũng như các nhà hoạch định chính sách không ý thức
được hậu quả của suy dinh dưỡng thể thấp còi. Chính vì vậy, nó không được xem là
một vấn đề của y tế cộng đồng.
Châu Phi là khu vực có tỉ lệ thấp còi cao nhất (40%) và châu Á là nơi có số trẻ
bị thấp còi nhiều nhất trên thế giới (112 triệu trẻ), hầu hết tập trung ở khu vực Trung
Nam Á 90% suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em tập trung ở 36 nước trên thế giới. Suy
dinh dưỡng thấp còi có thể xảy ra ở nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Ở các nước đang
phát triển, suy dinh dưỡng thể thấp còi phổ biến hơn suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân
nặng thấp so với tuổi, 20%) và suy dinh dưỡng thể gày còm (cân nặng thấp so với
chiều cao, 10%). Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do chất lượng bữa ăn ảnh
hưởng đến việc tăng trưởng chiều cao nhiều hơn so với ảnh hưởng đến việc tăng cân.
Trong suốt thời kì bào thai và 2 năm đầu đời, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ rất cao
nhằm đáp ứng quá trình tăng trưởng và phát triển nhanh của cơ thể. Ở một số vùng,
khi trẻ sinh ra đã có Z-score trung bình về chiều cao/tuổi thấp hơn mức chuẩn (dưới 0)
và giá trị này giảm mạnh trong hai năm đầu đời, còn sau đó thì không thấy giảm thêm
cũng nhưng không có cải thiện gì ( xx). Mẹ bị thiếu máu, hút thuốc lá và ô nhiễm không
khí trong nhà có thể làm hạn chế sự phát triển của bào thai dẫn đến cân nặng sơ sinh
thấp. Khẩu phần ăn nghèo dinh dưỡng trong thời kì bào thai, sơ sinh và trong những
năm đầu đời làm cho trẻ không được nhận đủ chất dinh dưỡng. Ngoài ra, thường
xuyên mắc các bệnh nhiễm khuẩn trong 2 năm đầu đời cũng góp phần làm tăng nguy
cơ bị thấp còi của trẻ trong giai đoạn này (xxi).
Hình : Các nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến hậu quả lâu dài của suy dinh dưỡng
thấp còi ( )

− Giảm tỉ lệ thấp còi là chỉ tiêu quan trọng để đạt được các Mục tiêu Phát triển

Thiên niên kỷ. Phổ cập tiểu học, xóa đói giảm nghèo, giảm tỉ lệ tử vong và cải
thiện sức khỏe bà mẹ đều nằm trong số các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
Nỗ lực phòng chống suy dinh dưỡng thấp còi có thể góp phần đạt được các
mục tiêu này thông qua việc tăng cường phát triển nhận thức, thành tích học
tập, mức lương cao hơn ở tuổi trưởng thành và các chỉ số sức khỏe và sống còn
khác cao hơn.
Nâng cao nhận thức rằng trẻ em trên toàn thế giới có thể tăng trưởng và phát
triển tối đa. Chưa có bằng chứng nào chứng minh cho một ngộ nhận rằng trẻ em
thuộc một số chủng tộc và dân tộc vốn đã thấp “tự nhiên”. Khi trẻ nhỏ được nuôi
dưỡng trong môi trường lành mạnh và được chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe tốt
theo khuyến nghị, mức độ phát triển trung bình ở trẻ là như nhau không kể đến yếu tố
chủng tộc hoặc dân tộc. Nghiên cứu Quần thể Tăng trưởng tham khảo tại nhiều trung
tâm của Tổ chức Y tế Thế giới đã chứng minh rằng ở những nước có điều kiện kinh
tế-xã hội cao như Brazil, Ghana, Ấn Độ, Na Uy, O-man và Mỹ, những trẻ được nuôi
dưỡng đúng như các thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã khuyến nghị từ
lúc mới sinh cho đến 5 tuổi thì có chiều cao trung bình như nhau ( xxiv). Mặc dù có thể
có một số khác biệt về chiều cao dự kiến của người trưởng thành ở các tầng dân cư
khác nhau, có hoặc không phụ thuộc vào yếu tố di truyền, những khác biệt này chỉ
được biểu hiện rõ ràng ở độ tuổi vị thành niên hoặc sau đó.
12


Tập trung vào thời điểm can thiệp hiệu quả nhất và các can thiệp được chứng
minh là có tác động đến đường tăng trưởng. Các can thiệp trong thời kì mang thai
và 2 năm đầu đời của trẻ nhằm ngăn chặn tình trạng thấp còi thì có hiệu quả hơn các
can thiệp tác động lên trẻ đã bị suy dinh dưỡng. Trẻ từ 6-24 tháng tuổi có khả năng bị
suy dinh dưỡng và mắc các bệnh nhiễm trùng cao nhất. Đây là thời điểm trẻ nhận
được nhiều lợi ích nhất từ các can thiệp dinh dưỡng. Tư vấn dinh dưỡng ở những nơi


Nhóm giải pháp thứ nhất: Tăng lượng dinh dưỡng ăn vào (cả chất lượng và số
lượng), bao gồm các hoạt động: bổ sung năng lượng và protein cho phụ nữ
mang thai, các chiến lược giáo dục và nâng cao nuôi con bằng sữa mẹ, cải thiện
số lượng và chất lượng bữa ăn bổ sung của trẻ (26)



Nhóm giải pháp thứ 2: Bổ sung vitamin và các khoáng chất, bao gồm bổ sung
đơn chất như sắt axit folic, vitamin A, iốt, kẽm và bổ sung đa vi chất cho trẻ.
Các hình thức can thiệp thường bao gồm: bổ sung vi chất bằng đường uống,
tăng cường vi chất vào thực phẩm hoặc dưới dạng trộn vào thức ăn bổ sung.



Nhóm giải pháp thứ 3: giảm gánh nặng bệnh tật, bao gồm các hoạt động tuyên
truyền vệ sinh phòng bệnh truyền nhiễm như nâng cao thói quen rửa tay đúng
cách, vệ sinh nơi ở và các chiến lược nhằm giảm gánh nặng bệnh tật (đặc biệt
là nhiễm trùng, sốt rét ở phụ nữ mang thai ( xxvii). Nhóm giải pháp này liên quan
đến cải thiện cơ sở hạ tầng và văn hóa – xã hội, nâng cao trình độ dân trí, giảm
sự mất công bằng trong phân bổ nguồn lực (xxviii).

Tại Việt Nam: Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng tại Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 29/6/2011 với 1 mục tiêu tổng quát và 6
mục tiêu cụ thể. Giảm tỷ lệ SDD thấp còi là một chỉ tiêu quan trọng trong mục tiêu
“Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em”. Chỉ tiêu đặt ra trong giai đoạn
2011 – 2020 là giảm xuống còn 26% năm 2015 và 23% vào năm 2020 (xxix).
Các hoạt động phòng chống SDD tại cộng đồng hiện nay bao gồm: thực hiện chăm
sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho các bà mẹ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ
sung hợp lý; đảm bảo bổ sung đầy đủ vitamin A cho trẻ 6 – 36 tháng tuổi và bà mẹ sau

đến khả năng của con người thực hiện những lựa chọn về sức khỏe, đặc biệt mọi
người được tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện lựa chọn riêng về hành vi sức khỏe
của họ (xxx).
Vai trò của giáo dục sức khỏe đối với cải thiện dinh dưỡng
Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, với sự gia tăng của các can thiệp mang tính
dự phòng, hướng tới cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em, đặc biệt ở
những nước đang phát triển, GDSK được coi là một giải pháp hàng đầu được lựa chọn
cho các chương trình can thiệp. Mặc dù GDSK đều nhằm vào việc khuyến khích
những hành vi có lợi cho sức khỏe nhưng cũng có những điểm khác biệt tùy thuộc vào
nhóm đối tượng đích và loại hành vi hay hành động cần thiết. Một số hoạt động
GDSK được thiết kế bởi hoặc cho các bà mẹ và những người ảnh hưởng đến họ
15


(khuyến khích các hành động của cá thể, gia đình và cộng đồng), một số khác hướng
về cộng đồng nhằm tới việc cải thiện điều kiện của cộng đồng để cải thiện dinh
dưỡng, một số lại dành cho cán bộ y tế và những người thực hiện chương trình (cải
thiện dịch vụ và tư vấn).
 Khuyến khích những hành vi có lợi

Vai trò quan trọng của GDSK là khuyến khích, động viên cá nhân và cộng
đồng thực hành các lối sống, hành vi sức khỏe lành mạnh, loại bỏ các hành vi có hại
cho sức khỏe nhằm phòng chống bệnh tật, nâng cao sức khỏe cho cá nhân và cộng
đồng.
Một số ví dụ về các hành vi mà GDSK có thể tác động:


Những thực hành tại gia đình như nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn bổ
sung hợp lý, sử dụng các thực phẩm giàu sắt…


thiện hơn. Truyền thông sau đó sẽ phổ biến cho người dân biết được lợi ích của dịch
vụ cũng như những điểm đã được cải thiện để thu hút họ đến với dịch vụ.
Các cách tiếp cận của giáo dục sức khỏe
Có nhiều cách phân loại và đặt tên cho các tiếp cận khác nhau của GDSK. Dựa
vào loại thay đổi hành vi thông qua GDSK, người ta có thể chia ra 2 cách tiếp cận
chính sau: GDSK truyền thống; Truyền thông sức khỏe (bao gồm cả truyền thông thay
đổi hành vi).
Giáo dục sức khỏe truyền thống là cách tiếp cận chú trọng vào việc cung cấp và
tiếp thu kiến thức. Cách tiếp cận này tập trung hơn đến kiến thức, thái độ và niềm tin
của đối tượng (xxxi). Những nhà giáo dục sức khoẻ sử dụng cách tiếp cận này đều giả
định rằng rào cản lớn nhất để có sức khoẻ tốt hơn đó là sự kém hiểu biết và nhiệm vụ
của họ chính là truyền đạt được các kiến thức mà họ tích luỹ được và phổ biến các kỹ
năng kỹ thuật đến đối tượng cần GDSK. Trong giáo dục dinh dưỡng, cách tiếp cận này
được nhắc đến như là một phương pháp sư phạm nhấn mạnh vào việc tiếp thu kiến
thức hơn là thay đổi hành vi (xxxii, xxxiii).
Truyền thông sức khoẻ được định nghĩa là cách thay đổi hành vi con người và
các yếu tố môi trường liên quan đến hành vi có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp đến
nâng cao sức khoẻ, phòng chống bệnh tật và bảo vệ con người khỏi các tác nhân gây
hại. Truyền thông sức khoẻ và những lĩnh vực liên quan của nó là những nỗ lực có
tính hệ thống nhằm ảnh hưởng một cách tích cực đến các thực hành sức khoẻ của
đông đảo dân cư. Mục đích chính của cách tiếp cận truyền thông sức khoẻ là mang lại
những cải thiện về các hành vi liên quan đến sức khoẻ và từ đó cải thiện tình trạng sức
khoẻ (xxxiv).
Trong lĩnh vực truyền thông sức khoẻ, người ta thường đề cập đến truyền thông
thay đổi hành vi (Behaviour change communication - BCC). Truyền thông thay đổi
hành vi là thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực truyền thông sức khoẻ thay thế
cho những thuật ngữ như giáo dục sức khoẻ, hay thông tin – giáo dục - truyền thông
17



h a y từ c h ố i d u y trì
9 . T h ả o lu ậ n c á c k in h n g h iệ m
đ ể đ ư a ra c á c q u y ế t đ ịn h

L à m th ử + Đ á n h
g iá

3

8 . G iú p g iả i q u y ế t k h ó k h ă n
7 . T h ả o lu ậ n c á c h th ự c h iệ n
v à đ á n h g iá

Đ ặ t m ụ c đ íc h th a y
đ ổ i/c h u ẩ n b ị
T ru y ề n th ô n g
trự c tiế p
T h ô n g tin
đại chúng

2

6 . N ê u g ư ơ n g n g ư ờ i tố t, v iệ c
tố t
5 . K h u y ế n k h íc h , đ ộ n g v iê n
4 . B ổ s u n g k iế n th ứ c m ớ i

Q u a n tâ m đ ế n h à n h v i m ớ i

1


19


Giai đoạn 4: Hành động. Đây là giai đoạn làm thật để tự kiểm nghiệm trên



chính bản thân mình, và cũng là giai đoạn khó khăn nhất và quan trọng nhất, cần có
sự giúp đỡ tích cực của truyền thông viên và những người thân có kinh nghiệm.
Giai đoạn 5: Cuối cùng, đối tượng đi đến chỗ chấp nhận hay là từ chối hành vi



sức khoẻ mới đó.
o Nếu chấp nhận thì đối tượng cần có sự hỗ trợ về mọi mặt để có thể duy trì được

hành vi sức khoẻ mới đó trong một thời gian đủ dài để nó trở thành một thói
quen mới, một nếp sống mới.
o Nếu từ chối thì đối tượng lại quay trở lại bước trước đó hoặc thậm chí từ bước

một, rồi tiến lên từng bước như đã làm.
Trong khi phương pháp giáo dục truyền thống chỉ chú trọng đến cung cấp
thông tin thì mục tiêu cơ bản của BCC là tạo ảnh hưởng hoặc cải thiện hành vi sức
khỏe, do đó nó nhấn mạnh sự tham gia của đối tượng đích trong việc thương lượng để
đưa ra những can thiệp về hành vi sức khỏe thay vì đưa ra những thông điệp sức khỏe
định sẵn cho họ. Mục đích chính của BCC là cung cấp cho đối tượng kiến thức, kỹ
năng, sự khuyến khích và những hỗ trợ họ cần để có một cuộc sống lành mạnh hơn.
Người học chính là đối tượng đích và sẽ hỗ trợ các chuyên gia truyền thông để xây
dựng thông điệp. Thông qua các nghiên cứu có hệ thống, các nhà truyền thông sẽ đối

Gia đình tự nguyện tham gia

Địa điểm nghiên cứu
4 xã thuộc huyện Tam nông, tỉnh Phú thọ
Thiết kế nghiên cứu

3.2.
-

Giai đoạn 1 (tương ứng với mục tiêu 1): Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết
hợp phương pháp định tính và định lượng

-

Giai đoạn 2 (tương ứng với mục tiêu 2): Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có
đối chứng và so sánh trước-sau can thiệp

3.3.

Cỡ mẫu – Chọn mẫu
3.3.1. Giai đoạn 1

Nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu
n=4pq/e2
trong đó: n: số mẫu cần điều tra; p: tỷ lệ ước tính hoặc của điều tra trước về quần thể
có vấn đề ; 1-p: tỷ lệ của quần thể không có vấn đề sức khỏe; e: độ chính xác mong
muốn = 95%
-


Cỡ mẫu đánh giá tình trạng dinh dưỡng
n = 2.[(Zα + Zß)σ]2/ (μ1 - μ2)2 = 140 (xl)

trong đó: Zα + Zß: độ chính xác thống kê và lực mẫu thống kê mong muốn α = 0,05, β
= 0,20
μ1 - μ2: (hai số trung bình khác nhau mong muốn của mức tăng chiều cao = 0.5cm
σ: Độ lệch chuẩn giữa 2 số trung bình khác nhau của mức tăng chiều cao là 1,5cm
Cỡ mẫu mỗi nhóm là 140 x 2 nhóm (can thiệp và nhóm chứng) là 280. Tỷ lệ bỏ cuộc
(không tham gia đủ các thông tin cần thu thập) là 10%. Vậy mỗi nhóm sẽ là 154 trẻ, 2
nhóm là 308 trẻ.
-

Cỡ mẫu điều tra khẩu phần

Áp dụng công thức : n=Z2.δ2.N/(e2.N)+(Z2. δ2) (xli)
trong đó: n: số mẫu cần điều tra, Z: độ tin cậy 95%(z=1.96) ; δ: độ lêch chuẩn của
nhiệt lượng trung bình ăn khoảng 300kcal; N: tổng số người tham gia điều tra
khoảng 300 ; e: sai số cho phép khoảng 70kcal
22


Ta có
22.3002.300
n = --------------------------- = 59
(702.300)+(22.3002)
Như vậy mỗi nhóm nghiên cứu sẽ hỏi 59 khẩu phần x 2 nhóm (1 nhóm chứng và 1
nhóm nghiên cứu) = 118 khẩu phần
Chọn mẫu:
Chọn có chủ đích: huyện Tam nông – Phú Thọ là huyện có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng
cao, đặc biệt là thể thấp còi.

năm 1983 mà hiện nay đang được áp dụng
− Kể từ khi mới sinh đến trước ngày tròn tháng (từ 1 đến 29 ngày) được coi là

0 tháng tuổi.
− Kể từ ngày tròn 1 tháng đến trước ngày tròn 2 tháng (từ 30 ngày đến 59
ngày) được coi là 1 tháng tuổi.
23


− Tương tự như vậy, kể từ ngày tròn 11 tháng đến trước ngày tròn 12 tháng

được coi là 11 tháng tuổi.
− Từ tròn 12 tháng đến 12 tháng 29 ngày được coi là 12 tháng tuổi.


Tính tuổi theo năm:
− Từ sơ sinh đến trước ngày đầy năm (tức là năm thứ nhất) gọi là 0 tuổi hay

dưới một tuổi.
− Từ ngày tròn 1 năm đến trước ngày sinh nhật lần thứ hai (tức là năm thứ

hai) gọi là một tuổi...


Kỹ thuật cân
− Chuẩn bị cân: chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0. Hàng ngày phải kiểm tra

cân 2 lần bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tương đương, ví dụ một
can nước 5 kg) để kiểm soát độ chính xác và độ nhạy của cân. Kiểm tra cân
trước và trong khi sử dụng cụ.

chủ đề có sẵn và được mở rộng hợp lý. Mỗi cuộc thảo luận nhóm có một
người hướng dẫn thảo luận và một thư ký ghi chép và hỗ trợ. Nội dung
thảo luận còn được ghi lại bằng hai máy ghi âm để đảm bảo thu thập
được thông tin tốt nhất. Trong nghiên cứu này, chọn 4 nhóm bà mẹ có
con dưới 2 tuổi, mỗi nhóm 7-12 bà mẹ thảo luận về những thực hành
nuôi dưỡng trẻ nhỏ theo các chủ đề về nuôi dưỡng trẻ nhỏ đã được
chuẩn bị sẵn (Phụ lục 3)
3.5.

Các chỉ tiêu đánh giá:
− Tình trạng dinh dưỡng: phân loại của Tổ chức y tế thế giới (xlv)
− Chỉ tiêu đánh giá nuôi dưỡng trẻ nhỏ theo Tổ chức Y tế thế giới ( xlvi, xlvii) bao
gồm:
o Bú sớm: tỷ lệ trẻ bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh: tính trên trẻ
o
o
o
o

24 tháng
BMHT: tỷ lệ trẻ 0-5 tháng BMHT/ngày hôm trước
Bú mẹ đến 1 tuổi : tỷ lệ trẻ 12-15 tháng bú mẹ ngày hôm trước
Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung 6-8 tháng ngày hôm trước
Đa dạng tối thiểu: tỷ lệ trẻ 6-23 tháng được nhận từ 4 nhóm thực
phẩm trở lên trong 7 nhóm: 1. Ngũ cốc/khoai củ; 2. Đậu đỗ các loại;
3. Chế phẩm sữa; 4. Thịt, cá, gia cầm, phủ tạng; 5. Trứng; 6. Rau trái
cây giàu vitamin A; 7. Rau quả khác

o Số lần ăn tối thiểu: tỷ lệ trẻ bú mẹ hay không bú mẹ ăn bổ sung với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status