tiểu luận “kế thừa tư tưởng “pháp trị” của trường phái pháp gia trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay” - Pdf 34

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Triết học Trung Quốc cổ đại nảy sinh trong một thời kỳ xã hội đặc biệt:
Xuân thu Chiến quốc, thời kỳ đánh dấu bớc chuyển quan trọng từ chế độ chiếm
hữu nô lệ sang chế độ phong kiến trung ơng tập quyền. Chính thời đại lịch sử xã hội
đặc biệt này đã tạo tiền đề cho sự nảy sinh, phát triển phong phú và vô cùng rực rỡ
của các trờng phái triết học khác nhau. Với t cách là một hình thái ý thức xã hội, sự
phát sinh, phát triển của t tởng triết học Trung Quốc cổ đại luôn là tấm gơng phản
chiếu sự biến đổi của đời sống xã hội.
Để giải đáp đợc nhiệm vụ xã hội Từ gia, trị quốc, bình thiên hạ, hàng loạt
trờng phái triết học đã xuất hiện. Về thực chât, t tởng của mỗi trờng phái triết học
đều nói lên tiếng nói của mỗi một tầng lớp. Song trong thời Xuân thu Chiến
quốc, chỉ có một học thuyết đợc vua chúa áp dụng và đem lại kết quả nhanh chóng
trong việc thống nhất Trung Quốc - đó là học thuyết pháp trị của trờng phái Pháp
gia.
T tởng Pháp trị của trờng phái Pháp gia chủ yếu dùng pháp luật để trị nớc.
Vậy trong muôn sắc hình của thời gian và không gian, luật pháp đã có một bộ mặt
thiên hình vạn trạng. Qua các sắc thái vô cùng chuyển biến ấy có một tiêu chuẩn
căn bản nào hớng dẫn các luật gia trong nhân loại không?
Khác với những hành vi cô lập và độc đoán, luật pháp phải kết tinh những sự
cố gắn không ngừng của quyền lập pháp để thực hiện lý tởng công bằng trong nhân
loại và đảm bảo trật tự an ninh trong xã hội. Thực hiện sứ mệnh này các nhà t tởng
ở Phơng Đông lúc bấy giờ rong ruổi trên con đờng nêucoa quan điểm khác nhau về
pháp luật.
Vẫn biết rằng, xã hội chỉ có thể sinh hoạt trong vòng trật tự, song ở đây, trật
tự đợc thiết lập và duy trì không phải hoàn toàn do ngoại cảnh của pháp luật. Xã hội
Trung Quốc lúc đầu theo giáo lý của Khổng Tử đã đi tìm giải pháp ở mỗi cá nhân
một kỷ luật cao thợng bắt nguồn ở sự rèn luyện tâm linh, lấy việc tu thân làm gốc.
Đến Tuân Tử thì kết hợp Lễ trị với luật để trị nớc, ông cho rằng pháp luật là cái
1


2


Mục lục
Mở đầu
Chơng I: Học thuyết pháp trị của trờng phái pháp gia.
1. Sự ra đời của học thuyết.
2. Nội dung học thuyết pháp trị của trờng pháp pháp gia.
Chơng II: Kế thừa t tởng pháp trị của Hàn Phih trong quá trình xây
dựng Nhà nớc pháp quyền ở Việt Nam.
1. Lý luận chung về Nhà nớc pháp quyền.
1.1. Quan điểm của Mác, Ăngghen và Lênin về Nhà nớc pháp
quyền.
1.2. Đặc trng của Nhà nớc pháp quyền.
2. Những giá trị góp phần hoàn thiện việc xây dựng Nhà nớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kết luận

3


Chơng I
Học thuyết pháp trị của trờng phái Pháp gia
1. Vài nét về sự ra đời của học thuyết.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ của Trung Quốc cổ đại, các trờng phái chính
trị xã hội khác nhau đấu tranh quyết liệt xung quanh vấn đề Nhà nớc, trị nớc, an
dân bằng cách nào. Nhìn chung họ muốn tìm những hình thức cai trị xã hội một
cách thật hữu hiệu, dùng pháp luật hay đạo đức, lễ, nhạc.v.v
Nho giáo do Khổng Tử sáng lập, lúc đầu chủ trơng nhân trị, lễ trị hoàn
toàn, nhng về sau phải tìm kiếm yếu tố thích hợp của t tởng pháp trị. Bởi, chủ nghĩa

T tởng pháp trị đợc phát triển lên một bớc mới bởi Thơng ửơng (khoảng 347
TCN), ông cho rằng, trị nớc phải dựa trên 03 yếu tố đó là:
+ Thứ nhất là: pháp luật;
+ Thứ hai là: quyền lực;
+ Thứ ba là: lòng tin của nhân dân.
Sau đó, t tởng pháp trị của trờng phái pháp gia đã đợc Hàn Phi Tử (280
233 TCN) phát triển lên đỉnh cao của nó. Ông coi pháp luật là cơ sở duy nhất để
thực hiện việc quản lý xã hội. Đồng thời, ông còn cho rằng, pháp luật thay đổi theo
thời cuộc thời biến pháp biến.
Nội dung chủ yếu của t tởng là thừa nhận quyền bình đẳng của các tầng lớp
địa chủ, phong kiến trớc pháp luật; pháp luật là công cụ trị nớc an dân và là tiền đề
cho việc xây dựng chế độ phong kiến vững mạnh.
Giá trị hiện thực của t tởng pháp trị là giúp Tần Thuỷ Hoàng thu giang sơn về
một mối, thiết lập chế độ phong kiến Trung ơng tập quyền. Song, nhà Tần chỉ tồn
tại trong một thời gian ngắn, điều đó không phải là sự sai lầm của học thuyết mà là
do tính chất cực đoan và tàn bạo của kẻ cầm quyền lúc bấy giờ.
Nhìn chung, xuyên suốt toàn bộ t tởng pháp trị cho đến giai đoạn hiện nay
nổi bật là tác phẩm Hàn Phi Tử thể hiện những t tởng cốt lõi của Pháp gia. Nội
dung t tởng chủ yếu của các tác phẩm là bàn về cách xây dựng Nhà nớc phong kiến
tập quyền mạnh, thống nhất quốc gia về lãnh thổ, pháp luật và cai trị. Họ đề cao t t5


ởng bá chủ, bá đạo là con đờng bá chủ, bàn về những biện pháp, chính sách cai trị
để Nhà nớc phong kiến có đủ sức mạnh để thống nhất thiên hạ.
Lịch sử phát triển của t tởng nhân loại đã cho thấy tất cả những học thuyết
khoa học khác nhau đều đợc ra đời từ chính hiện thực của đời sống xã hội và trải
qua quá trình phát triển lâu dài, với nấc thang t tởng từ thấp lên cao, từ những tiền
đề đơn giản đầu tiên để trở thành một nấc thang hoàn chỉnh. Nh vậy, t tởng pháp
trị của trờng phái pháp gia, mà suy cho đến cùng là t tởng pháp trị của Hàn Phi đã
đợc áp dụng trong thời đại phong kiến. Với thời đại của chúng ta thì t tởng pháp trị

Khởi, Lý Khôi sau này mới chỉ chú trọng đến yếu tố pháp luật, chủ trơng dùng pháp
luật để cai trị đất nớc thay lễ nghĩa nhng cha thực sự đoạn tuyệt với đạo đức.
Thứ hai: T tởng pháp trị phát triển cùng với sự hình thành trờng phái pháp gia
với các học phái Thuật, Thế, Pháp.
Đến thời Chiến quốc, những ngời theo t tởng pháp trị đã tập hợp thành một
trờng phái (pháp gia). Họ không chỉ chủ trơng dùng pháp luật để cai trị mà còn kết
hợp với những phơng tiện khác để trị nớc. Đồng thời trong t tởng của các pháp gia,
chính trị đã thực sự ly khai với đạo đức, do đó vai trò của pháp luật tiếp tục đợc
khẳng định và đề cao hơn. Sự khác nhau trong chủ trơng lựa chọn phơng tiện kết
hợp với pháp luật của các pháp gia đã hình thành nên ba khuynh hớng t tởng đề cao
Thế (của Thận Đáo), Pháp luật (của Thơng Ưởng) và Thuật cai trị (của Thân Bất
Hại).
Thân Bất Hại (401-337 TCN) là thừa tớng của nớc Hán dới thời vua Hàn
Chiêu hầu. Khác với các pháp gia trớc đây ít nhiều còn tôn trọng đạo đức cha thực
sự tách khỏi quĩ đạo của nho gia, thì Thân Bất Hại mới là ngời chính thức cho chính
trị ly khai đạo đức. Xuất phát từ lập trờng của một địa chủ mới kiêm thơng nhân,
khi tham chỉnh ông cực lực phản đối chế độ danh phận đẳng cấp và cách cai trị chỉ
dựa vào lợi ích. Ông đè nghị Chiêu dùng quyền thuật để điều khiển hạ thần, nên
Hàn có quân đội.
Mạnh không ai dám xâm phạm. Ông ủng hộ chủ trơng dùng pháp để phủ
định thay thế lễ. Tuy nhiên học thuyết của Thân tử lấy việc hình danh làm chủ,
tức là chú trọng và đề cao các thủ pháp cai trị. Thân cho rằng:
Tai, mắt và trí ngời ta không đủ để dựa vào Vì vậy làm vau thiên hạ,
không thể không xét đến các lễ ấy Các bậc vua x a kia, chỉ làm rất ít, nhng gợi
7


cho ngời ta làm thì nhiều. Gợi cho ngời ta làm đó là thuật của ngời làm vua
Thuật tức là phảituỳ tài mà giao chức, theo danh vị mà đòi trách lấy việc thực, nắm
quyền sinh sát, xét tài năng của cả quần thần, đó là cái mà bậc đứng đứng đầu ngời

Thân Bất Hại, song ông lại thật lùi hơn Thân Bất Hại ở chỗ cha nhìn thấy vai trò của
Thuật là cơ sở bảođảm cho quyền lực đợc bền vững. Do đó, chủ trơng của ông đa ra
thực hiện bị thất bại là điều không tránh khỏi.
Thơng Ưởng (?-338 TCN), tớng quốc nớc Tần dới đờivua Tần Hểu Công lại
đề cao pháp luật. Ông là ngời khởi xớng t tởng về pháp và biến pháp, đề cao hình
pháp nhng hình pháp cũng phải thay đổi theo thời thế. Trên lập trờng của tầng lớp
địa chủ mới, ông cho rằng pháp luật là cái gốc để thiếp lập và phát triển chế độ mới.
Theo ông: Cai trị một nớc có ba điều, một là pháp luật, hai là lòng tinc ủa dân, ba
là quyền lực. Điều làm lọi cho dân trong thiên hạ không gì lớn bằng sự yên trị;
mà yên trị không gì tốt bằng lập ra vua. Đạo lập ra vua không gì rộng bằng làm
cho pháp luật mạnh. Để pháp luật đợc thi hành, ngời những yếu tố trên theo ông
còn phải củng cố bộ máy quan lại thực thi pháp luật phải đặt ra pháp quan lo về
pháp luật, đặt ngời chủ trì pháp luật, làm gơng cho thiên hạ. Trong 10 năm làm tớng quốc cho Tần, Thơng Ưởng đã thi hành chủ trơng pháp trị của mình qua 2 cuộc
cải cách nhằm thúc đẩy sản xuất, chống lại những quý tộc phong kiến cũ dựa vào
huyết thống lời nhác mà vẫn đợc hởng thụ, tăng cờng trung ơng tập quyền. Thơng
Ưởng đã đánh những đòn mạnh nhất vào giai cấp quí tộc. Cải cách của ông làm cho
các nớc Tần giàu mạnh lên nhng cuối cùng ông lại trở thành nạn nhân của chủ trơng cai trị đó. Chủ trơng của Thơng Ưởng về pháp luật có nhiều tiến bộ, song cũng
nh Thận Đáo, chỉ dựng lại ở thế và pháp mà cha chú trọng đến yếu tố thuật trong
cai trị. Trong thiên Định pháp, Hàn Phi đã chỉ ra hạn chế cơ bản của Thơng Ưởng
và các pháp gia: theo ông, cả pháp và thuật đều là cong cụ của đế vơng, không thể
thiếu một trong hai cái đó, cũng nh ăn với mặc đều cần thiế nh nhau đối với cuộc
sống con ngời.
Chủ trơng của các nhóm Thuật Thế Pháp là sự phát triển và làm sâu
sắc hơn t tởng pháp trị so với Quản Trọng và Tử Sản, qua đó đã nâng t tởng pháp trị
lên một trình độ mới cao hơn. Song những t tởng của họ mới chỉ là những quan
điểm thuật pháp riêng rẽ về hành xử chính trị hành chính, vẫn có một hạn chế
căn bản là tính phiến diện, chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Do cha tạo ra đợc cơ
9




cày cấy thật tốt trên mảnh ruộng của địa chủ, chủ đối đãi tốt, trả tiền công hậu,
không phải họ xuất phát từ lòng thơng yêu lẫn nhau, mà thực chất cả hai bên đều có
tính toán, quan tâm đến quyền của mình. Ông cũng cho rằng, có ngời giàu, ngời
nghèo là do có ngời chịu lao động và khép tiết kiệm, có ngời lời biếng và xa xỉ, do
vậy mà hiện tợng ngời bóc lột ngời là hiện tợng rất bình thờng trong xã hội.
Nhìn chung, về t tởng chính trị xã hội của Hàn Phi khái quát lại thì Pháp
gia bàn đến 3 vấn đề lớn trong chính sách cai trị xã hội, đó là: trọng pháp, trọng thế,
trọng thuật.
- T tởng trọng Pháp:
Pháp có nghĩa rộng là chế độ chính trị, thể chế quốc gia. Nghĩa hẹp là các qui
định pháp luật của nhà vua. Nội dung chủ yếu của nó là thởng, phạt (nhị bính) đấy
chính là hai đòn bẩy trong tay vua để giữ chính quyền.
Chủ trơng Pháp trị của Pháp gia xuất phát từ chỗ cho rằng, bản tính con
ngời vốn t lợi, chạy theo giàu sang phú quí, mu mô tính toán để kiếm lợi cho mình.
Hàn Phi viết: Cái lợi ở đâu ngời ta theo đấy để làm, ví nh ngời đóng quan tài
mong cho nhiều ngời chết để kiếm lợi, ngời đóng xe mong có nhiều ngời giàu sang,
bầy tôi đối với vua giống nh hơu nai kiếm cỏ, ở đâu có nhiều cỏ thì hơu nai đến
đấy. Cho nên khi xét một hành động của ai thì đừng sử dụng điều nhân nghĩa. vấn
đề này thì Pháp gia đối lập hoàn toàn với Nho gia. Chính vì thế mà Hàn Phi cho
rằng:
Phải sử dụng pháp luật để trị nớc, ngăn chặn việc chạy theo lợi riêng mà
không thiết đến lợi chung, để biến lợi riêng thành lợi chung. Kẻ nào mu lợi riêng
mà bỏ lợi chung thì phải thẳng tay trừng trị.
Hàn Phi đề cao pháp luật trong việc trị nớc, ông cho rằng, nếu bỏ pháp luật
mà dùng tâm để trị nớc, thì vua hiền cũng không chỉnh đốn đợc một nớc. Ông nói:
Ngời thợ mộc giỏi bỏ cái qui, cái cũ thì không làm nổ một bánh xe. Ngời giỏi tính
toán, nếu bỏ thớc tất mà đoán dài ngắn thì biết đâu là điểm giữa. Cho nên, làm vua
phải giữ pháp luật nh ngời thợ giữ cái qui cái cũ, nh ngời giỏi tính toán giữ cái tấc,
cái thớc thì vạn điều không sai.

thâm tóm quyền lực: độc thị, độc thính, độ đoán.
Pháp gia còn phê phán Nho giáo là theo pháp cổ, họ cho rằng nếu theo pháp
cổ thì lạc hậu, nhng nếu theo thời nay thì bị ràng buộc, cho nên họ chủ trơng biến
pháp: thế sự biến, hành đạo dị thời thế thay đổi, hành động phải khác, đừng để
12


cho thế bị ràng buộc. Hàn Phi nêu chủ trơng biến pháp trên quan điểm tiến hoá
trong sự phát triển xã hội mà ông đã kế thừa t tởng của Thơng ửơng.
Hàn Phi cho rằng, thời thợng cổ canh đạo dứ ngời thợng cổ lấy cành cây
làm tổ, ăn hoa quả, mặc do cầm thú, đua tranh xem ai làm việc thiên nhiều hơn, đạo
đức, phẩm hạnh đợc đề cao. Trung thế thế mu thời trung đại thì chạy theo trí
tuệ, Cổn Vũ trị thuỷ, sự khôn ngoan trí tuệ chiếm u thế. Đơng kim tranh khí lực
thời hiện đại trong quan hệ giữa ngời với ngời trở nên gay gắt, ngời ta tranh giành
nhau bằng con đờng sức mạnh. Cho nên phép trị nớc phải hợp thời thế. Thời Hạ mà
dùng dùi lấy lửa thì không đợc thời nay mà làm theo lễ nhà Chu thì không đ ợc.
Vì vậy dối với thời nay, phải dùng pháp luật để xử thế.
- T tởng trọng thuật:
Thuật là cách thức, là phơng pháp, mu lợc, thủ đoạn của kẻ cầm quyền trong
việc tuyển ngời, dùng ngời và xét đoán sự việc.
Pháp gia còn cho rằng, nếu có thời cơ, có pháp luật, mà không có thuật trị nớc (phơng pháp) thì cha đủ. Đa mu túc trí mới điều khiển đợc quân thần, mới thâu
tóm đợc thiên hạ.
Hàn Phi đã phát triển quan điểm vô vi của Lão Tử thành thuật trị nớc và đầy
mu mẹo. Hàn Phi ra sức đề cao tính năng động chủ quant hông qua pháp, thế,
thuật,chủ trơng khai thác tính ham lợi tránh hại bằng thởng - phạt; dùng thuật để
che đậy mu mô thủ đoạn nhng lại đợc biểu lộ ra bằng vẻ tự nhên không xúc cảm.
Thực chất vô vi của Hàn Phi lại là cực hữu vi, tức là đề cao sự can thiệp bằng
hoạt động của con ngời trong đời sống xã hội.
Hàn Phi chủ trơng coi trọng cả 3 yếu tố Pháp, thế, thuật, coi đó là sự thống
nhất không thể tách rời vì chúng phải dựa vào nhau vừa tồn tại vừa phát huy sức

của lực lợng sản xuất, sự xuất hiện của chế độ t hữu và phân hoá giai cấp ở giai
đoạn cuối thời công xã nguyên thuỷ đã làm cho Nhà nớc xuất hiện. Chính vấn đề
này mà đã làm suy sụp đổ quan điểm về Nhà nớc của Heghen cho rằng: Nhà nớc
quân chủ phổ là thể hiện bản chất chung của Nhà nớc và sự phát triển cao nhất của
xã hội. Nhà nớc là thực thể tối cao và xã hội công dân là sự tha hoá của Nhà nớc.
Riêng đối với các nhà lý luận mácxít, Nhà nớc không phải là do sự phát triển chung
của tinh thần nhân loại, mà đó chính là bắt nguồn từ những điều kiện vật chất.
Nhà nớc t sản dựa trên chế độ t hữu về t liệu sản xuất dù cho đó là Nhà nớc
pháp quyền t sản, dù dới hình thức nào, Nhà nớc của giai cấp t sản vẫn là bộ máy
trấn áp của số ít ngời đi thống trị đối với số đông ngời bị bóc lột, thì trong chế độ
cộng hoà dân chủ cũng hoàn toàn giống nh trong chế độ quân chủ.
Do đó, muốn thay đổi đi Nhà nớc pháp quyền t sản thành Nhà nớc pháp
quyền của nhân dân lao động thì suy cho cùng cũng cần phải từ cái nguyên nhân
kinh tế của nó. Trớc hết là cần phải thay đổi chế độ t hữu t bản chủ nghĩa về t liệu
sản xuất thành chế độ công hữu.
Theo quan điểm mácxít, pháp luật lý ý chí của giai cấp thống trị, pháp luật
chính là do những điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị qui định. Pháp
luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật là sự hoàn thiện về lợi ích và nhu cầu
chung của xã hội, do một phơng thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà
không phải do ý muốn tuỳ tiện của mỗi cá nhân.
15


Đối với Ăngghen thì cần phải đặt Nhà nớc dới pháp luật thì mới có thể ngăn
ngừa đợc sự chuyển hoá của Nhà nớc (từ chỗ công bộc của xã hội thành ông chủ
đứng trên xã hội) mà cần thiết phải biến Nhà nớc thành một cơ quan phụ thuộc vào
xã hội.
Trong quá trình quản lý xã hội thì mối quan hệ giữa Nhà nớc và công dân
phải dựa trên sự điều hành của pháp luật. Để phát triển quan điểm này Lênin cực kỳ
chú ý và phát triển lý thuyết về tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, chấp hành

nghiêm kỷ cơng xã hội, chuyên chính với mọi hành vi xâm phạm lợi ích của tổ
quốc và lợi ích của nhân dân.
+ Bộ máy của Nhà nớc đợc tổ chức trên nguyên tắc: quyền lực Nhà nớc là
thống nhất có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nớc trong
việc thực hiện ba quyền:
Lập pháp
Hành pháp
T pháp
+ Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa; quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng
thời coi trọng pháp luật, giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa. Thực hiện tốt pháp chế
xã hội chủ nghĩa sẽ làm cơ sở đảm bảo cho sự hoạt động của bộ máy Nhà nớc, tạo
ra sự thống nhất đồng bộ, phát huy đợc hiệu lực quản lý của Nhà nớc, đảm bảo
công bằng trong toàn xã hội.
+ Tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng Nhà nớc pháp
quyền của dân, do dân và vì dân.
Đảng lãnh đạo nhng không làm thay nớc. Năng lực lãnh đạo của Đảng thể
hiện ở việc xây dựng, kiện toàn, sử dụng và phát huy vai trò chủ động của nhân dân
vào quản lý Nhà nớc là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá sự lãnh đạo của
Đảng với Nhà nớc.
Nhìn chung, quan điểm Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng ta
vừa thể hiện bản chất giai cấp công nhân, vừa đảm bảo tính pháp quyền trong mọi
tổ chức và hoạt động của Nhà nớc.
1.4. Đặc trng của Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

17


+ Quyền lực Nhà nớc là thống nhất thuộc về nhân dân lao động, bao nhiêu



cầu khách quan của lịch sử và đặc điểm của thời đại. Cũng nh các nhà t tởng khác,
Hàn Phi phê phán gay gắt xã hội đơng thời và ông đa ra đợc cáhc giải quyết từng bớc hơn cả. Ông cho rằng phơng pháp trị******** phù hợp và công hiệu nhất lúc
này là phơng pháp pháp trị, vì chỉ có pháp trị thì quyền lực mới đợc tập trung, quốc
gia mới hng thịnh. Các nhà pháp trị chải quant âm đến những vấn đề sản xuất nông
nghiệp và chiến tranh, sao cho binh cờng nớc mạnh. Pháp trị đã giải quyết vấn đề
kinh tế xã hội nh là vấn đề mang tính then chốt, để từ đó giải quyết mọi vấn đề
khác và đặt pháp luật trên nền tảng thực tiễn kinh tế xã hội.
Hàn Phi rất thực tế khi khuyên các vua chúa nhớ rằng trị dân là trị số đông,
chứ không phải trị số ít siêu nhân nên đừng cầu dân phải có nhân nghĩa, miễn họ
tôn trọng pháp luật, không làm bậy là đợc rồi. Một ông vua giỏi phải biết cách tận
dụng trí lực của toàn dân, tận dụng sức lực của cả nớc. Song để thực hiện điều đó,
nhà vua cần phải có Thế. Pháp trị chủ trơng quyến thế vạn năng, họ yêu cầu kẻ
thống trị phải nắm lấy quyền giết hại, khen thởng; chỉ có nh vậy Thuật mới đợc
thực thi, Phápmới đợc tôn trọng. Vì thực tế nên pháp trị đề cao sự hữu dụng hơn là
sự hùng biện, đề cao việc làm hơn là lời nói, hành động hơn là lý thuyết, ca tụng sự
làm việc cần kiệm và bài xích sự lời biếng xa xỉ. Trong khi những học thuyết khác
chỉ mải mê lý luận, thậm chí lý luận duy lý cao siêu, xa rời những vấn đề cấp thiết,
thì chỉ có một mình pháp trị không những vơn tới vấn đề kinh tế, của cải vật chất
vấn đề của mọi vấn đề, mà còn trực tiếp đứng ở bên trong vấn đề đó và giải quyết
nó một cách hiệu quả. Điềuđó cho phép khẳng định sự đúng đắn, có giá trị, mà còn
có tính khả hợp, khả dụng, khả thi của học thuyết pháp trị đối với thực hiện lịch sử
đơng thời.
Trong tất cả các học thuyết t tởng Trung Quốc cổ đại, pháp trị là học thuyết
duy nhất có sự kế thừa, hàm chứa những mặt, những yếu tố của những học thuyết
khác nhiều nhất. Lễ nghĩa, danh phận đợc cụ thể hoá tỏng pháp luật. Vô vi đợc
chuyển hoá thành quan hệ biện chứng vô vi, hữu vi. Kiêm ái là nội dung yếm thế
nhất của học thuyết Pháp trị, ít đợc đề cập nhất, thậm chí gần nh bài học hoàn toàn,
nhng Hàn Phi Tử vẫn không thể không xem đây là mục đích cuối cùng của pháp

kháng giai cấp. Chính cái khách quan của chính trị đã quy định khách quan cho sự ra
đời của pháp luật và làm cho pháp luật trở thành một hiện tợng chính trị trực tiếp. Vì
vậy khi chính trị ra đời (xuất hiện Nhà nớc) thì pháp luật phải trở thành nguyên tắc cơ
bản của chính trị. Pháp luật mang tính tất yếu chính trị. Giữa chính trị và pháp luật
20


còn có sự thống nhất về đối tợng phản ánh là hạ tầng cơ sở xã hội. Đồng thời, là
những bộ phận ở vị trí trung tâm giữ vai trò chi phối đến toàn bộ thợng tầng kiến
trúc, nên chính trị và pháp luật có tác động và ẳnh hởng mạnh mẽ với nhau, trở
thành hình thc và bớc đi kế tiếp của nhau. Pháp luật là công cụ đắc lực của chính trị
và chính trị trở thành nền tảng của pháp luật. Chính vì lẽ đó, pháp luật là yếu tố điều
chỉnh không thể thiếu trong bất kỳ một Nhà nớc, một xã hội có phân chia giai cấp.
Quan điểm trị nớc bằng pháp luật là một nhận thức tiến bộ và khoa học cao của t
duy pháp trị. Công lao của các nhà pháp trị là dã cung cấp cho giai cấp thống trị nói
chung và giai cấp phong kiến nói riêng một vũ khí cai trị đúng đắn nhất.
- Pháp luật công bằng :
T tởng về thực hiện pháp luật công bằng và pháp trị nhằm xoá bỏ đặc quyền
đặc lợi của giai cấp quý tộc để đa tất cả mọi ngời vào khuôn khổ điều chỉnh của
pháp luật. Theo họ, pháp luật trên bề mặt của nó phải là của chung, vì lẽ phải và
phục vụ lợi ích chung nên mọi ngời trong xã hội đều bình đẳng, từ Thái tử đến hàng
đại phu và quần chúng nhân dân đều phải tuân thủ pháp luật nh nhau. Trong việc
thởng và phạt, pháp luật chỉ có một đối vói tất cả mọi ngời, trong việc thăng quan
tiến chức, mọi ngời đều có cơ hội ngang nhau miễn là họ đáp ứng đợc những tiêu
chuẩn cần thiết.
Công bằng đợc thiết lập trên cơ sở mọi ngời đều bình đẳng trớc pháp luật, là
điểm tiến bộ của pháp trị so với chủ trơng phân biệt đẳng cấp của đức trị, thể hiện
bớc phát triển lớn trong quan niệm về dân chủ của phơng Đông.
Chủ trơng của pháp gia là lần lần tách chính trị ra khỏi đạo đức, Nhà nớc
ra khỏi tông iáo. Quan điểm của pháp gia rất thực tế nhằm xác lập mối quan hệ giã

- Nhận thức đúng đắn về quan hệ giữa yếu tố khách quan và chủ quan
trong xây dựng pháp luật.
Từ nhận thức về vai trò chức năng của pháp luật, các nhà pháp trị khẳng
định: pháp luật là vũ khí và là chỗ dựa duy nhất của nhà vua - đại diện cho giai cấp
thống trị, cho nên vua phải nắm giữ và triệt để sử dụng. Sự hé mở này của t duy
pháp trị đã gần tiếp cận đến tính giai cấp của luật pháp theo quan điểm pháp lý hiện
đại: pháp luật là của ý chí của giai cấp thống trị đợc đề lên thành luật.
Khẳng định pháp luật là sản phẩm chủ quan song Hàn Phi cũng nhận thấy
pháp luật cũng có quy luật vận động riêng đó là phục vụ lợi ích chungmà ông gọi là
phép công. Đây chính là giới hạn caonhats của pháp luật, nó đòi hỏi tất cả mọi ngời,
22


kể cả vua là ngời nắm quyền ban hành pháp luật cũng không đợc vợt qua. Hàn Phi
quan niệm phải thực hiện pháp luật vì lợi ích tối cao của toàn xã hội, nên ông nhiều
lần nhắc nhở các bậc vau chúa phảichí công vô t, phải bỏ t lợi tà tâm mà theo phép
công thín mới thịnh đợc. Cái phép công ấy chính là lợi ích chính trị cao nhất, là
mục tiêu trị an và binh cờng nớc mạnh, gắn với sự tồn vong của chính kẻ cai trị. Vì
vậy kẻ cia trị không đợc phép dẫm đạp nên yêu cầu đó.
Mặc dù pháp luật là do vua ban hành để thực hiện sự cai trị và bảo vệ lợi ích
của nhà vau nhng theo Hàn Phi nó không thể là sự quyết định tùy tiện mà không xét
đến khả năng thực hiện của ngời dân. Ông nói:
Khi bắt làm những điều mà những ngời dũng mãnh không thể làm đợc thì
nhà vua không thể yên đợc. Nhà vua đòi hỏi không biét chán, ngời dới đã hết thì họ
trả lời: không có, không có là khinh pháp luật. Pháp luật là cái để làm nên nớc mà
coi khinh nó thì công không đợc lập mà danh cũng không thành.
Hàn Phi đã thấy đợc rằng muốn duy trì đợc sự thống trị của mình thì nhà vua
và giai cấp thống trị cần phải bảo đảm điều kiện tối thiểu cho sự tồn tại của giai cấp
bị trị, tức là sự bóc lột, vơ vét phải có giới hạn, bởi lẽ đơn giản là ngời cai trị chỉ có
thể tiếp tục cai trị kẻ bị cai trị không bị dồn đến chân tờng. Điều Hàn Phi đa ra

Tựu trung lại, trờng phái pháp gia bàn đến 3 vấn đề lớn là pháp, thể và thuật,
nh sự phân tích đôi nét về pháp, thể, thuật ở Chơng I. Điều đó co chúng ta thấy rằng
xuyên suốt t tởng pháp trị của trờng phái pháp gia đã góp phần ít nhiều trong việc
xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
* Bàn về pháp:
+ Trờng phái pháp gia mà cụ thể là Hàn Phi cho rằng, phải dùng pháp luật
để trị nớc, để ngăn chặn những kẻ chạy theo lợi riêng mà làm ảnh hởng đến lợi
chung. Pháp luật phải có qui tắc chuẩn mực của nó để mọi ngời tuân theo. Pháp luật
phải đợc ban bố rõ ràng ban bố nơi công đờng; đồng thời thởng phạt phải
nghiêm minh
Bên cạnh đó, còn đặc biệt chú ý đến thời biến, pháp biến và cũng căn cứ
vào lợi ích của con ngời trong một chừng mực nào đó cùng với tâm lý của mỗi ngời.
+ Vậy đối với Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vận dụng đặc
điểm nào trong t tởng pháp của trờng phái pháp gia.

24


Theo quan điểm mácxít thì hoàn toàn thừa nhận là tập trung xây dựng hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện ý chí nguyện vọng, quyền và nghĩa vụ của
công dân trên cơ sở nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và tình hình thực tế xã
hội.
Đối với Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng, Nhà nớc pháp quyền phải xuất
phát từ yêu cầu dân chủ triệt để, Nhà nớc là Nhà nớc hợp hiến, hợp pháp.
Nhìn chung Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kế thừa t tởng của nhân loại để xây dựng hoà chỉnh một hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Song, điều cần phải thấy rằng, chúng ta vận dụng, kế thừa t tởng không phải
là một cách rập khuôn, sao chép một cách nguyên si. Nhà nớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay với những đặc trng đã cho chúng ta
thấy rằng. Sự tiếp thu kiến thức của toàn nhân loại, kế thừa có chọn lọc, trên cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status