A. MỞ ĐẦU
Nằm ở phía bắc của Tổ quốc, Cao Bằng – quê hương em là một tỉnh có
vị trí chiến lược trong công cuộc dựng nước và giữ nước, là quê hương của
cách mạng, từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa đầu tiên
của cả nước. Mặc dù là một tỉnh nghèo và còn gặp rất nhiều khó khăn trong
việc phát triển kinh tế - xã hội nhưng Đảng bộ và nhân dân Cao Bằng luôn
luôn phát huy truyền thống quê hương cách mạng. Với tinh thần đoàn kết,
phấn đấu xây dựng Cao Bằng phát triển về mọi mặt và với sự cần cù, sáng
tạo không ngừng của nhân dân các dân tộc thiểu số, Cao Bằng vẫn vươn
lên và đổi mới từng ngày hòa vào sự phát triển chung của đất nước.
Trường chính trị Hoàng Đình Giong nằm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về
mặt tổ chức và Học viện chính trị - hành chính quốc gia về mặt chuyên
môn với nhiều kinh nghiệm trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã góp
phần nâng cao chất lượng hệ thống chính trị của tỉnh, nhất là cán bộ cơ sở
trong thời kỳ đổi mới đất nước.
Bản thân em là sinh viên năm thứ ba của khoa Lịch sử Đảng - Học Viện
Báo Chí và Tuyên Truyền. Căn cứ vào Quyết định số 830 – QĐ/HVBCTT
ngày 11/04/2012 và Kế hoạch kiến tập số 832 – KH/HVBCTT của Giám
đốc Học Viện về việc cử đoàn sinh viên kiến tập từ ngày 23/04/2012 đến
ngày 18/05/2012, em đã chọn về kiến tập tại trường Chính trị tỉnh nhà trường Chính trị Hoàng Đình Giong. Trong thời gian kiến tập, em đã tham
dự các giờ giảng, tìm hiểu và nắm bắt được tình hình thực tế của địa
phương, cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của trường chính trị
Hoàng Đình Giong cũng như tiếp thu những phương pháp, kỹ năng sư
phạm và rút ra được nhiều kinh nghiệm cho đợt thực tập năm sau.
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
1
Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 322
km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía Nam giáp tỉnh Bắc
Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23 07'12" - 22021'21"
vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện
Bảo Lâm). Theo chiều đông - tây là 170 km, từ 105 016'15" - 106050'25"
kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện
Hạ Lang). Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km 2, là cao
nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát
biên có độ cao từ 600 - 1.300m so với mặt nước biển. Núi non trùng
điệp.Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3
vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền
tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.
Dân số toàn tỉnh là 507.183 người (theo điều tra dân số ngày
01/10/2009). Dân số trung bình năm 2009 là 510.884 người.
Cao Bằng gồm 26 dân tộc chung sống với nhau trong đó chủ yếu là Tày
(chiếm 41,0 % dân số), Nùng (31,1%), H’Mông (10,1%), Dao (10,1%),
Kinh (5,8%), Sán Chỉ (1,4%), Lô Lô, Hoa...Có 11 dân tộc có dân số trên 50
người.
Tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thị xã và 12 huyện: Thị xã Cao Bằng, Huyện
Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hạ Lang, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Phục Hòa,
Quảng Uyên, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh
Cao Bằng có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Thác Bản Giốc,
động Ngườm Ngao, Hồ Thang Hen…là điểm đến du lịch của nhiều du
khách. Cao Bằng là cái nôi, là quê hương cách mạng nên có nhiều di tích
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
3
lịch sử nổi tiếng như: Khu di tích lịch sử Pác Bó (nơi Bác Hồ đặt bước chân
cùng kỳ.
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
4
Do ảnh hưởng rét đậm, rét hại kéo dài và dịch bệnh bùng phát đầu năm
đã làm chết 32 317 con gia súc, trong đó trâu 15 137 con, bò 10 800 con,
ngựa 336 con và dê 6044 con, thiệt hại trên 770 ha lúa vụ Đông – Xuân.
Kết quả trồng rừng đạt thấp.Trồng rừng tập trung được 484/3400 ha.
Trong năm xảy ra 19 vụ chặt phá với 20,4 ha rừng bị phá hoại, thiệt hại
khoảng 265,8 triệu đồng. Trong năm cũng xảy ra 198 vụ vi phạm pháp luật
về khai thác bảo vệ rừng, tổng số tiền nộp phạt và bán lâm sản bị tịch thu
trên 4 tỷ đồng.
Các dịch vụ cung ứng vật tư, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
thuốc thú y đảm bảo đầy đủ, kịp thời; công tác chuyển giao khoa học – kỹ
thuật được thực hiện thường xuyên; quan tâm đầu tư phát triển các vùng
sản xuất hàng hóa như: sản xuất lạc giống, thuốc lá, mía xuất khẩu..; cấp
nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn được chú trọng thực hiện.
- Công – thương nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đạt 484,435 tỷ đồng (đạt 69,2%
kế hoạch) tăng 2% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, kinh tế Nhà nước
đạt 67,7 tỷ đồng (đạt 84,4% kế hoạch), kinh tế ngoài Nhà nước đạt 416,7 tỷ
đồng (đạt 67,2% kế hoạch) tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2010.
Lưu thông hàng hóa trên địa bàn thuận lợi, thị trường ổn định; tổng mức
lưu chuyển hàng hóa bán lẻ trên địa bàn đạt trên 4757 tỷ đồng (đạt 119,2%
kế hoạch) tăng 20,5% so với cùng kỳ; các mặt hàng chính sách được cung
ứng kịp thời, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn có chuyển biến tích cực. Tổng
giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh đạt 348,771 triệu USD
so với cùng kỳ năm 2010. GDP bình quân đầu người đạt 668 USD.
Thực hiện tốt việc kiểm soát chi theo luật ngân sách nhà nước và Nghị
quyết số 11- NQ/CP. Tổng chi ngân sách địa phương đạt 3.171,964 tỷ
đồng, bằng 86,6% kế hoạch, tăng 7,7% so với năm 2010.
Triển khai thực hiện các chính sách về tiền tệ, tín dụng và hoạt động
ngân hàng, kịp thời điều chỉnh các mức lãi suất, tạo điều kiện cho các tổ
chức kinh tế, doanh nghiệp vay phát triển sản xuất. Đến 31/12/2011, tổng
nguồn vốn quản lý và huy động đạt 5.682 tỷ đồng, tăng 28%; tổng doanh số
cho vay đạt 4.143 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ; doanh số thu nợ đạt
3.320 tỷ đồng, tăng 46%; tổng dư nợ đạt 4.665 tỷ đồng, tăng 21%, trong đó
nợ xấu chiếm 1% / tổng dư nợ.
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
6
-
Đầu tư – xây dựng
Tỉnh đã tập trung mọi nguồn lực đầu tư phát triển, năm 2011 tổng vốn
đầu tư toàn xã hội trên địa bàn đạt 5 700 tỷ đồng (đạt 100% kế hoạch); ban
hành nhiều văn bản nhằm đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng và giải
ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, năm 2011 đã giải ngân được 1462,739 tỷ
đồng (đạt 83,7% kế hoạch), trong đó vốn ngân sách Nhà nước 246,3 tỷ
đồng (đạt 90,8% kế hoạch), vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu
482 tỷ đồng (đạt 85,9% kế hoạch); vốn vay tín dụng 46,9 tỷ đồng (đạt
93,7% kế hoạch); vốn trái phiếu chính phủ 268,1 tỷ đồng (đạt 91,7% kế
hoạch); nguồn vốn ODA 80 tỷ đồng (đạt 100% kế hoạch); nguồn chương
trình mục tiêu quốc gia 138,3 tỷ đồng (đạt 44,8% kế hoạch) và nguồn kết
Thường xuyên tổ chức kiểm tra, thanh tra hoạt động khoáng sản trên địa
bàn theo kế hoạch định kỳ và đột xuất, xử lý, xử phạt các hoạt động khai
thác trái quy định.
- Khoa học – công nghệ
Các hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh; thực
hiện tốt công tác phổ biến, thông tin tuyên truyền cơ chế, chính sách và các
quy định về chính sách hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng
suất chất lượng sản phẩm và xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Phát triển doanh nghiệp và kinh tế tập thể
Thực hiện tốt việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước và triển khai
thực hiện luật Hợp tác xã. Năm 2011, toàn tỉnh thành lập mới 110 doanh
nghiệp và 32 hợp tác xã, 06 hợp tác xã và 36 doanh nghiệp dừng hoạt động.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 853 doanh nghiệp và 350 hợp tác xã. Các doanh
nghiệp và hợp tác xã đã giải quyết được việc làm cho nhiều lao động, góp
phần tăng thu ngân sách và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
2.2. Về văn hóa – xã hội
-
Giáo dục – đào tạo
Chỉ đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học 2010-2011; tỷ lệ tốt nghiệp
THCS đạt 98,76%, tốt nghiệp THPT đạt 93,73%, tốt nghiệp giáo dục
thường xuyên THPT đạt 94,18%. Toàn tỉnh hiện có 609 trường học (tăng
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
8
9
- Lao động - Thương binh và Xã hội
Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chính sách, dự án của Chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2011, toàn tỉnh giảm được 5.515 hộ
nghèo với tỷ lệ giảm nghèo 5,08%, đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 38,06%
năm 2010 xuống còn 32,98% năm 2011; mua thẻ bảo hiểm y tế cho
360.388 người nghèo, hỗ trợ tiền điện cho 114.515 lượt hộ nghèo, trợ cấp
khó khăn cho 44.093 hộ nghèo. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 28%, bằng
100% kế hoạch; trong đó, đào tạo nghề 21/21%; giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thị
xã, thị trấn 5,2/5,2%, (đạt 100% kế hoạch); tư vấn việc làm cho 15 110 lượt
người, giải quyết việc làm cho 9 638 lao động. Công tác phòng chống tệ
nạn xã hội, bảo vệ, chăm sóc trẻ em và các chế độ ưu đãi người có công,
gia đình chính sách được quan tâm thực hiện; giải quyết việc làm cho 8 166
lao động (đạt 86,85% kế hoạch). Thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP
của Chính phủ, tỉnh đã triển khai xây dựng 89/141 công trình cơ sở hạ tầng,
tuyển chọn 44 tri thức trẻ có trình độ đại học tăng cường về làm Phó chủ
tịch UBND các xã thuộc 05 huyện nghèo và thu hút 137 trí thức trẻ về công
tác tại các xã; cấp học bổng cho 6.099 học sinh dân tộc thiểu số tại các
trường Dân tộc nội trú...
- Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường; hoạt động văn
hóa nghệ thuật, thông tin, tuyên truyền được đẩy mạnh; phong trào "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được các cấp các ngành tập trung
chỉ đạo: Năm 2011, toàn tỉnh có 88% cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn
hoá; 77% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá; 47% xóm, tổ dân phố đạt tiêu
chuẩn văn hoá; 56,1% số đơn vị cơ sở có nhà văn hoá. Phong trào thể dục thể thao tiếp tục phát triển, chất lượng các giải thi đấu thể thao quần chúng
trong tỉnh từng bước được nâng lên; đã tổ chức 09 giải thể thao cấp tỉnh;
đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân các dự án thuộc Chương trình 135
giai đoạn II được 36.491,788 triệu đồng, bao gồm các dự án: Dự án cơ sở
hạ tầng; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất; Dự án đào tạo; Duy tu bảo dưỡng
công trình; Hỗ trợ học sinh con hộ nghèo các cấp của năm học 2010-2011; Hỗ
trợ di chuyển chuồng trại, làm nhà vệ sinh hợp vệ sinh môi trường. Chương
trình đầu tư xây dựng Trung tâm cụm xã (đầu tư được 15 trung tâm cụm xã
trong đó đầu tư mới 02 trung tâm, 13 trung tâm đầu tư chuyển tiếp).
- Công tác an ninh – quốc phòng:
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
11
+ Công tác quân sự địa phương và An ninh trật tự
Lực lượng vũ trang quán triệt, làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ,
chính quyền triển khai các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ
quốc phòng tại địa phương; tổ chức thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu; thường xuyên nắm chắc tình hình biên giới, nội địa; duy trì
thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa 3 lực lượng theo Nghị định số
77/2010/NĐ-CP, ngày 13/7/2010 của Chính phủ; phối hợp bảo vệ an toàn
cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu HĐND các
cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016. Chỉ đạo xây dựng Đề án xây dựng Khu vực
phòng thủ tỉnh, huyện giai đoạn 2010-2015, đề án thực hiện Luật Dân quân
tự vệ giai đoạn 2011-2015, diễn tập khu vực phòng thủ huyện Trà Lĩnh,
Thạch An; diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Trùng Khánh; diễn
tập chiến đấu trị an xã, cụm xã, phường, thị trấn theo chỉ tiêu; tổ chức thực
hiện tốt công tác tuyển quân, huấn luyện quân dự bị năm 2011 và bồi
dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các đối tượng.
Tình hình an ninh biên giới cơ bản ổn định, chủ quyền lãnh thổ được
giữ vững, quan hệ hợp tác giữa lực lượng bảo vệ biên giới hai nước Việt
Các ngành trong khối nội chính cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên
môn của ngành đã đề ra. Các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đã phối kết
hợp chặt chẽ trong quá trình tố tụng, ít để xảy ra vụ việc oan sai, hoặc bỏ
lọt tội phạm. Thanh tra các cấp, các ngành đã tiến hành 238 cuộc thanh tra
và kiểm tra về các lĩnh vực hành chính, kinh tế - xã hội, phòng chống tham
nhũng, thanh kiểm tra chuyên ngành. Tăng cường công tác tuyên truyền,
phổ biến, quán triệt pháp luật về phòng, chống tham nhũng tới cán bộ đảng
viên và quần chúng nhân dân. Công tác cải cách các thủ tục hành chính có
nhiều chuyển biến tích cực, công tác phối hợp với các cơ quan chức năng
kiểm tra, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chống sản xuất, buôn bán
hàng giả, buôn lậu và gian lận thương mại được thực hiện tốt. Triển khai có
hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và công tác
xây dựng, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.
+ Ngoại vụ, biên giới
Tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 1326/CT-TTG ngày
27/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai thực hiện
các văn kiện biên giới trên đất liền Việt Nam- Trung Quốc; tổ chức triển
khai các Chỉ thị của Trung ương và của tỉnh về công tác công tác đối ngoại
và quản lý biên giới.Tiếp tục thực hiện tốt công tác ổn định nhân dân biên
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
13
giới sau PGCM và các Hiệp định về Quản lý biên giới, quản lý cửa khẩu
trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; chỉ đạo Đại hội Hội hữu nghị Việt Trung tỉnh Cao Bằng lần thứ II nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đại hội Liên hiệp
các tổ chức Hữu nghị lần thứ I nhiệm kỳ 2011- 2016; Lễ kỷ niệm 61 năm
ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và đón tết cổ truyền hai nước Việt Nam Trung Quốc. Duy trì thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về viện trợ
phi chính phủ nước ngoài tại địa phương.
cao hiệu quả quản lý, hiệu quả đầu tư xây dựng; thực hành tiết kiệm, đấu
tranh chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận
động quần chúng, nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân
dân. Củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững
chắc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tăng cường các
hoạt động giao lưu, hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với nước ngoài, nhất
là với Khu tự trị dân tộc Choang – Quảng Tây, Trung Quốc.
Chỉ đạo tổ chức tốt các sự kiện lớn của tỉnh: Hội nghị lần thứ V, Ủy ban
công tác liên hợp giữa các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà
Giang với khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc; Lễ công bố
quyết định thành lập Thành phố Cao Bằng gắn với chương trình du lịch qua
các miền di sản Việt Bắc.
Các chỉ tiêu chủ yếu
- Tổng sản phẩm (GDP) tăng trên 12,8%. (Trong đó: Nông, lâm, ngư
nghiệp tăng trên 3,5%; Công nghiệp, xây dựng tăng trên 12%; Dịch vụ tăng
trên 16%). Thu nhập bình quân đầu người đạt 15,8 triệu đồng/năm (tương
đương 752USD).
- Tỷ trọng cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP: nông, lâm, ngư nghiệp
26%; công nghiệp, xây dựng 22%; dịch vụ 52%.
- Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 239 ngàn tấn; giá trị sản
xuất nông nghiệp đạt trên 22 triệu đồng/ha.
- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn 227 triệu USD, trong đó
kim ngạch xuất khẩu 155 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu 72 triệu USD.
- Thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 800 tỷ đồng. Trong đó: thu nội
địa 665 tỷ đồng; thu thuế xuất nhập khẩu 135 tỷ đồng.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6.550 tỷ đồng.
- Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 180/199 xã; mỗi huyện,
thị có thêm ít nhất 01 trường đạt chuẩn quốc gia.
- Giảm tỷ suất sinh 0,2%o; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1%.
trồng, vật nuôi gắn với chế biến, sản xuất hàng hóa được xác định trong
chương trình trọng tâm của tỉnh. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả đề án phòng
chống rét cho trâu bò.
Chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh sản xuất công
nghiệp; tiếp tục triển khai thực hiện các dự án sản xuất công nghiệp trọng
điểm. Tăng cường thu hút đầu tư phát triển, hoàn thiện hạ tầng các khu,
cụm công nghiệp. Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp phục vụ
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
16
phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến,
sản xuất hàng xuất khẩu.
Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng công nghiệp; tiếp tục triển khai thực hiện
các dự án công nghiệp trọng điểm. Tăng cường công tác quản lý nhà nước
về các hoạt động khoáng sản, thẩm định lại công nghệ; rà soát, cân đối,
điều tiết hợp lý nguyên liệu cho các cơ sở chế biến nhằm sử dụng hợp lý và
có hiệu quả nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái và ứng phó với
biến đổi khí hậu. Chỉ đạo các địa phương xử lý, giải tỏa những điểm khai
thác khoáng sản trái phép, nhất là khoáng sản vàng; thực hiện đồng bộ,
hiệu quả quyết định của UBND tỉnh về xử lý tang vật, phương tiện khai
thác khoáng sản trái phép; tăng cường trách nhiệm của các huyện trong
việc giải quyết tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Hiến. Thực hiện tốt cơ
chế phối hợp giữa tỉnh Cao Bằng và tỉnh Bắc Kạn để giải quyết dứt điểm
các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép. Tiếp tục đôn đốc các nhà đầu
tư triển khai các dự án phát triển thủy điện được cấp phép.
Ưu tiên tập trung cao độ nguồn lực và các giải pháp để thực hiện tốt
công tác giải phóng mặt bằng khu đô thị mới Đề Thám; triển khai đồng bộ
nhà công vụ. Tiếp tục phối hợp với trường đại học Quảng Tây – Trung
Quốc đào tạo đại học và sau đại học.
Củng cố và phát triển hệ thống y tế từ tuyến tỉnh đến cơ sở. Thực hiện
có hiệu quả các dự án, Chương trình mục tiêu y tế quốc gia; nâng cao chất
lượng chuẩn đoán, điều trị và phát huy tối đa hiệu quả sử dụng trang thiết
bị y tế; đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế. Thực hiến tốt phân tuyến
chuyên môn kỹ thuật theo từng tuyến để giảm bớt tình trạng quá tải ở tuyến
trên và đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế có
chất lượng.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa” và cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác
Hồ vĩ đại”. Tập trung nâng cao chất lượng tổ, xóm, cơ quan, đơn vị, gia
đình văn hóa. Đầu tư xây dựng một số hạng mục công trình du lịch trọng
điểm. Tăng cường kiểm tra các hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn
hóa, du lịch, các hoạt động quảng cáo trên địa bàn tỉnh.
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án, chính sách hỗ trợ
giảm nghèo tại 05 huyện nghèo của tỉnh theo Nghị quyết 30a của Chính
phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, hạn chế tối đa hiện
tượng tái nghèo. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ ưu đãi người có
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
18
công với nước và các đối tượng bảo trợ xã hội; thực hiện tốt công tác xuất
khẩu lao động, nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với giải quyết việc
làm; tăng cường chỉ đạo thực hiện các Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về công tác bảo hiểm.
Quốc phòng – an ninh, nội chính
1326/CT-TTg ngày 27/07/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức triển
khai thực hiện các văn kiện biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc;
triển khai có hiệu quả các thỏa thuận quốc tế, các hoạt động đối ngoại nhân
dân. Tăng cường mối quan hệ hợp tác hữu nghị với thành phố Sùng Tả,
Bách Sắc, Khu tự trị dân tộc Choang – Quảng Tây, Trung Quốc.
Xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể
Chỉ đạo tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm
2012; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng việc triển khai học tập, quán
triệt các chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của tỉnh; chỉ đạo đẩy mạnh
công tác tuyên truyền, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, động viên
các tầng lớp nhân dân phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và 6 chương trình trọng
tâm của Tỉnh ủy.
Chỉ đạo tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ ở các cấp, các
ngành; phát triển đảng viên mới, tăng xóm có chi bộ; làm tốt công tác quy
hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ.
Chỉ đạo triển khai có hiệu quả công tác xây dựng mô hình “Dân vận
khéo”, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng về Công
tác dân vận; các Chỉ thị, Nghị quyết, Kết luận của Bộ Chính trị, Ban bí thư
về công tác vận động quần chúng; Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) của
Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo; thông báo 160-TB/TW “về chủ trương
công tác đối với đạo Tin lành”, sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của
Trung ương, của tỉnh về công tác dân vận, công tác vận động quần chúng.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung chỉ đạo đẩy mạnh phong
trào thi đua lao động, sản xuất, tăng cường tuyên truyền các phong trào thi
đua yêu nước. Chỉ đạo Đại hội Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
tỉnh Cao Bằng; Đại hội Hội Cựu chiến binh tỉnh nhiệm kỳ 2012 – 2017;
củng cố, kiện toàn các tổ chức Hội, Hội đặc thù. Tiếp tục tuyên truyển chỉ
đạo thực hiện 06 chương trình công tác trọng tâm của Tỉnh ủy; Tích cực
huyện Hoà An, nay thuộc thị xã Cao Bằng; là người dân tộc Tày. Với lòng
yêu nước nồng nàn, đồng chí đã sớm tham gia cách mạng trước những năm
30 của thế kỷ 20. Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng năm 1935 tại Ma - Cao
(Trung Quốc), đồng chí được bầu vào BCHTƯ Đảng khoá I. Sau cách
mạng tháng 8-1945, Đồng chí được Bác Hồ đặt tên là Vũ Đức, và đồng chí
Võ Nguyên Giáp giao cho chức vụ “tư lệnh quân Nam Tiến”. Đồng chí
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
21
Hoàng Đình Giong hy sinh ngày 17-3-1947 tại tỉnh Ninh Thuận.Sau khi
miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, đất nước thống nhất, hài cốt
của đồng chí được cải táng về nghĩa trang Mai Dịch (Hà Nội) ngày
31/8/1980.
2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ
Vị trí: Trường Chính Trị Hoàng Đình Giong tỉnh Cao Bằng là đơn vị sự
nghiệp trực thuộc Tỉnh uỷ, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên
của Ban thường vụ tỉnh uỷ.
Cổng chính Trường chính trị Hoàng Đình Giong – tỉnh Cao Bằng
Chức năng: Tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ
thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ công chức ở địa phương về lý luận chính
trị- hành chính, đường lối, nghị quyết của Đảng; pháp luật của Nhà
nước,kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, kiến thức về pháp
luật và quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác.
Nhiệm vụ:
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
với đặc điểm của trường, bảo đảm hoạt động đồng bộ, thực hiện tốt các
nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.
3.2.
Tổ chức bộ máy
Thực hiện Quyết định số 88 – QĐ/TW ngày 03/09/1998 và Quyết định
số 184 – QĐ/TW ngày 03/09/2008 của Ban bí thư Trung ương Đảng về
chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành
Trương Quốc Đạt - Lịch sử Đảng K29
23
phố trực thuộc Trung ương; đến quý II/2011 bộ máy tổ chức của nhà
trường được hoàn thiện bao gồm đủ 04 khoa và 03 phòng như quy định.
Đến nay (quý II/2012) biên chế của nhà trường có 42 người, giảng dạy có
29 người và hành chính phục vụ có 13 người (Phòng Tổ chức – Hành chính
– Quản trị có 11 cán bộ, nhân viên; Phòng Khoa học – Thông tin – Tư liệu
có 02 nhân viên). Về trình độ: thạc sỹ có 09 người, đại học có 24 người
được bố trí ở các bộ như sau:
- Ban giám hiệu: 03 người, Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng phụ
trách các mảng công việc chính là giảng dạy – đào tạo, hành chính và
nghiên cứu khoa học.
- Các phòng: 03 phòng, cụ thể:
+ Phòng Đào tạo: 04, Trưởng phòng và o3 giảng viên, trong đó 01 giảng
viên đang đi học cao học ở nước ngoài theo chương trình 165 của Ban Tổ
chức Trung ương.
+ Phòng Khoa học – Thông tin – Tư liệu: 03 người, Trưởng phòng và
02 cán bộ.