nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị xã, thị trấn của tỉnh cà mau trong giai đoạn hiện nay - Pdf 34

học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

đỗ trung tín

nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ
trí tuệ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ
thống chính trị xã, thị trấn của tỉnh cà
mau trong giai đoạn hiện nay
Chuyên ngành
Mã số

: Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam
: 60 31 23

luận văn thạc sĩ khoa học chính trị
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS,ts đỗ ngọc ninh

hà nội - 2009


1

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả trình bày
trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Kết luận
khoa học của luận văn cha từng đợc công bố trong
bất cứ công trình khoa học nào.
Tác giả luận văn


tuệ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống
chính trị xã, thị trấn của tỉnh cà mau trong
thời gian qua thực trạng, nguyên nhân và
kinh nghiệm

45

2.1. Thực trạng hoạt động nâng cao bản lĩnh chính trị và trình
độ trí tuệ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị
xã, thị trấn của tỉnh
2.2. Nguyên nhân, kinh nghiệm

45
71

Chơng 3:

Phơng hớng và những giải pháp chủ yếu tiếp
tục nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ
trí tuệ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ
thống chính trị xã, thị trấn của tỉnh Cà Mau
đến năm 2015

3.1. Dự báo thuận lợi, khó khăn, thách thức và mục tiêu, phơng hớng tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ
trí tuệ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị tại
xã, thị trấn
3.2. Những giải pháp chủ yếu tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính
trị và trình độ trí tuệ của đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ
thống chính trị xã, thị trấn
Kết luận


CBCC

:

Cán bộ chủ chốt

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

HTCT

:

Hệ thống chính trị


UBMTTQ

:

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

M U


5
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để luôn xứng đáng với vị trí, vai trò và trọng trách là đội tiên phong của
giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của
dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân
dân lao động và của dân tộc, Đảng ta khẳng định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng là: “Nâng cao bản lĩnh chính trị và TĐTT của Đảng” [21, tr.131].
Hiện nay, Đảng ta đang lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) với tốc độ và quy mô lớn hơn
để “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại” [21, tr.76].
Nhận thức đầy đủ và sâu sắc trọng trách trước đất nước, trước dân tộc,
tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định:

trọng. Họ là những người gần dân nhất, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; là nhân tố quyết định việc hiện
thực hoá sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt đời sống xã
hội ở cơ sở.
Để mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng và
đạt hiệu quả cao, đòi hỏi đội ngũ CBCC HTCT cơ sở phải có bản lĩnh chính
trị (BLCT) vững vàng và có trình độ trí tuệ (TĐTT) khá toàn diện đến mức
cần thiết. Nhất là trong điều kiện hiện nay, thể chế kinh tế thị trường (KTTT)
định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta được xác lập, chúng ta chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề mới nảy sinh tại cơ
sở, có cả mặt tích cực và tiêu cực đan xen, đòi hỏi phải được giải quyết đúng
đắn, kịp thời. Vì thế, nâng cao BLCT và TĐTT của đội ngũ cán bộ này hiện
nay thực sự là vấn đề rất cần thiết và cấp bách.
Qua hơn 22 năm đổi mới, đội ngũ cán bộ HTCT của tỉnh Cà Mau, trong
đó có đội ngũ CBCC HTCT xã, thị trấn đã có bước trưởng thành đáng kể:


7
trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực
quản lý, lãnh đạo được nâng lên một bước. Đại bộ phận cán bộ nhất trí cao
với đường lối đổi mới của Đảng; tích cực thực hiện đường lối đổi mới, góp
phần tạo nên những thành tựu quan trọng của tỉnh trong thời gian qua.
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CBCC HTCT xã, thị trấn bộc lộ những
mặt hạn chế, yếu kém: suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống;
nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hoài nghi
công cuộc đổi mới và con đường XHCN; quan liêu, tham nhũng, lãng phí có
chiều hướng gia tăng. Một số CBCC HTCT xã, thị trấn không nghiêm túc tự
phê bình và phê bình, tính chiến đấu giảm sút, năng lực lãnh đạo, quản lý còn
nhiều hạn chế, nhất là quản lý kinh tế - xã hội; giải quyết những vấn đề nảy
sinh ở cơ sở chưa tốt gây phức tạp, có nơi trở thành điểm nóng. Nhiều cán bộ

- Phạm Ngọc Quang, “Hồ Chí Minh với việc xây dựng Đảng ta về trí
tuệ”; Nxb CTQG, Hà Nội, 1994.
- PGS, TS Tô Huy Rứa - PGS, TS Trần Khắc Việt (đồng chủ biên); “Làm
người cộng sản trong giai đoạn hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, trong đó
có một phần về xây dựng đội ngũ đảng viên về BLCT và trình độ mọi mặt.
- Nâng tầm tư tưởng và trí tuệ của Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Đề tài khoa học cấp Nhà nước mã số
KX.03.03 do TS Nguyễn Văn Hoà làm chủ nhiệm (2005) đã nghiệm thu.
- Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng trong giai
đoạn hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Viện Xây dựng Đảng, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức (2007).
- “Bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ khoa học Viện Khoa học xã
hội Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tố Uyên, (2008), bảo vệ tại
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
* Các bài đăng trên các báo, tạp chí
- Văn Quân; “Bản lĩnh chính trị của thanh niên trí thức” (2005), Diễn
đàn các trường Đại học ở Hà Nội.


9
- Đinh Xuân Lâm, Bùi Đình Phong, “Cuộc hành trình của trí tuệ và
bản lĩnh Đảng ta”; Tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 1/2005.
- Trần Thị Anh Đào; “Giữ vững và nâng cao Bản lĩnh chính trị của cán
bộ, đảng viên”; Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền; số 6/2005.
- PGS, TS Đỗ Ngọc Ninh, “Không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị
và trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng”; Tạp chí Công an Nhân dân, số 10/2006.
- Nguyễn Minh Triết, “Bản lĩnh chính trị sẽ vượt qua thách thức”’
VietNam Net, ngày 29/1/2007.
- Nguyễn Minh Triết; “Bản lĩnh và trí tuệ giải quyết sự thành công”,

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu BLCT, TĐTT và việc nâng cao BLCT và TĐTT của
đội ngũ CBCC HTCT xã, thị trấn của tỉnh Cà Mau, đề xuất các giải pháp tiếp tục
nâng cao BLCT và TĐTT của đội ngũ cán bộ này trong những năm tới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu những CBCC đương chức của HTCT xã, thị trấn
và những cán bộ dự nguồn của các chức danh đó, gồm các chức danh CBCC
của tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân xã, thị trấn thuộc HTCT.
- Thời gian nghiên cứu khảo sát thực tiễn chủ yếu từ sau Đại hội XII
Đảng bộ tỉnh Cà Mau và Đại hội IX của Đảng đến nay. Phương hướng và các
giải pháp đề cập trong luận văn có giá trị đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm đổi mới của
Đảng ta về cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo chủ chốt HTCT cơ sở nói
riêng, được thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII,


11
VIII, IX, X và các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung
ương như: Nghị quyết Trung ương ba (khoá VII) về một số nhiệm vụ đổi mới
và chỉnh đốn Đảng; Nghị quyết Trung ương sáu lần 2 (khoá VIII) về một số vấn
đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết
Trung ương năm (khoá IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở
xã, phường, thị trấn; Nghị quyết Trung ương sáu (khoá X) về nâng cao NLLĐ và
SCĐ của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; …
Cơ sở thực tiễn của luận văn là thực trạng BLCT, TĐTT và hoạt động

CHÍNH TRỊ XÃ, THỊ TRẤN CỦA TỈNH CÀ MAU

1.1.1. Xã, thị trấn và hệ thống chính trị xã, thị trấn của tỉnh
1.1.1.1. Xã, thị trấn
* Khái quát về tỉnh Cà Mau:
Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc (mốc toạ độ số 0) được hình
thành cách đây trên 200 năm, là địa danh đặc biệt quan trọng về lịch sử, kinh
tế và chính trị. Cà Mau là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long và
nằm trọn trên bán đảo Cà Mau. Tỉnh được tách ra từ tỉnh Minh Hải từ ngày 01
tháng 01 năm 1997, có 3 mặt tiếp giáp biển. Phía Bắc, tiếp giáp với tỉnh Kiên
Giang và Bạc Liêu; Phía Nam và phía Đông, tiếp giáp với biển Đông; Phía
Tây, tiếp giáp với Vịnh Thái Lan.
Tỉnh được phân chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm các
huyện: Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi,
Năm Căn, Ngọc Hiển và thành phố Cà Mau.
Cà Mau nằm trong tiểu vùng Cà Mau - Cần Thơ - An Giang - Kiên
Giang, là một trong 4 tiểu vùng kinh tế của vùng đồng đồng bằng sông Cửu
Long, là địa bàn đang được quy hoạch xây dựng thành vùng kinh tế động lực.
Tỉnh Cà Mau là điểm đến của một số tuyến quốc lộ và tuyến đường
thuỷ quan trọng như: Quốc lộ 1A từ thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Bạc
Liêu - Cà Mau - Năm Căn - Đất Mũi (Ngọc Hiển); Quốc lộ 63 (Cà Mau Kiên Giang); Tuyến đường Quản Lộ - Phụng Hiệp; Tuyến đường thuỷ Cà
Mau - Thành phố Hồ Chí Minh.


13
Diện tích phần đất liền 5.329,16 km 2 (bằng 13,13% diện tích đồng bằng
sông Cửu Long và bằng 1,58 % diện tích cả nước). Cà Mau có 254 km bờ
biển. Vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000 km 2, thuận lợi cho giao lưu, hợp tác
kinh tế, khai thác dầu khí và các tài nguyên khác. Tỉnh có các đảo Hòn Khoai,
Hòn Chuối và Hòn Đá Bạc, diện tích các đảo xấp xỉ 5 km 2. Tỉnh có lợi thế so

vấn thấp, trình độ, kỹ năng lao động hầu như không có, chủ yếu lao động giản
đơn. Ở nông thôn dân cư sống phân tán, rải rác, chỉ tập trung chủ yếu ở các
trung tâm xã, đầu mối giao thông và dọc theo các trục kênh chính.
Tỉnh có nhiều tôn giáo và giáo phái gồm: Cao Đài Minh Chơn đạo,
Tiên Thiên, Tây Ninh, Thiền Lâm, Tịnh độ cư sĩ, Khất sĩ, Ni giới Việt Nam.
Hai tôn giáo ra đời sớm nhất, có tín đồ đông nhất là Đạo phật và Thiên chúa.
Các Tôn giáo khác ra đời chậm hơn như Cao đài, Tin lành.
Nhân dân Cà Mau có truyền thống cách mạng kiên cường trong đấu
tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù, năng động, sáng tạo trong lao động sản
xuất, xây dựng quê hương, đất nước. Khá đông đội ngũ cán bộ, đảng viên được
rèn luyện, thử thách và trưởng thành trong đấu tranh cách mạng, có BLCT vững
vàng, tâm huyết với việc kiến thiết xây dựng quê hương, đất nước.
Sau hơn 10 năm được tái lập, đảng bộ và nhân dân Cà Mau đã ra sức
khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế - xã hội giành được những thành quả
rất quan trọng và khá toàn diện.Tăng trưởng GDP của tỉnh đạt khá, tăng dần
qua hàng năm (bình quân từ năm 1997 - 2007 đạt trên 10,57%; trong đó giai
đoạn 2001-2007 tăng 12,45%). Năm 2005, GDP tính theo giá hiện hành đạt
khoảng 11.262 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 9,2 triệu đồng (tương đương
580 USD), cao hơn GDP bình quân đầu người vùng đồng bằng sông Cửu
Long (khoảng 520 USD) nhưng thấp hơn bình quân cả nước (640 USD); năm
2007 ước đạt 785 USD/người (bình quân cả nước năm 2007 ước đạt khoảng
835 USD/người). Kết cấu hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đời sống phát triển
khá nhanh, nhất là hệ thống giao thông bộ. Đến nay, đã có đường ô tô đến 7
huyện và 63 xã, thị trấn. Việc thu hút đầu tư ngoài tỉnh có nhiều triển vọng,
khu công nghiệp khí - điện - đạm đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới. Tình hình an ninh chính


15
trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. HTCT từ tỉnh đến xã được củng cố,

16
12.339 người tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên (trong đó có trên 50% được
đào tạo chính quy tập trung, 4 tiến sĩ, 142 thạc sĩ, 6 chuyên khoa II, 29 chuyên
khoa I). So với cả nước và trong vùng đồng bằng sông Cửu Long về số người có
trình độ học vấn từ cử nhân trở lên so với một vạn dân, thì tỷ lệ này của tỉnh là
rất thấp (cả nước là 210 người trên một vạn dân, đồng bằng sông Cửu Long là
127 người trên một vạn dân, trong khi đó Cà Mau chỉ có 85 người trên một vạn
dân). Có thể nói Cà Mau vẫn còn là "vùng trũng" về trình độ dân trí.
1.1.1.2. Hệ thống chính trị xã, thị trấn của tỉnh
Xã, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở trong hệ thống hành chính bốn
cấp của Nhà nước ta, là nơi trực tiếp quản lý và tổ chức mọi hoạt động sản xuất,
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; nơi tập trung đông dân cư để
phát triển các ngành nghề: nông nghiệp, dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp,
đánh bắt, khai thác thuỷ hải sản biển và xây dựng, phát triển văn hoá nông thôn.
Ở các xã, thị trấn có đầy đủ các tổ chức của HTCT cơ sở, có các tổ
chức kinh tế, xã hội, nghề nghiệp dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tổ chức cơ sở
đảng, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, đảm bảo cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội phát triển. Có thể
nói, xã là hình ảnh thu nhỏ của một xã hội, là cơ sở, nền tảng của xã hội ta.
Xã mạnh thì huyện mạnh, huyện mạnh thì tỉnh, thành phố mạnh và nước
mạnh. Ngược lại, xã yếu kém, nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, nhất là những
điểm nóng thì huyện, tỉnh, Trung ương đáng lo ngại, phải tập trung cao độ để
củng cố tạo sự ổn định, phát triển. Các điểm nóng trong cả nước và ở đồng
bằng sông Cửu Long là những ví dụ điển hình.
Các tổ chức của HTCT cấp cơ sở (HTCT cấp xã) là một bộ phận rất
quan trọng tạo nên HTCT ở nước ta. HTCT cấp xã mạnh thì HTCT của quốc
gia mạnh, ngược lại, HTCT cấp xã yếu kém thì HTCT đất nước sẽ khó đứng
vững. Thực tế của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trước đây đã
khẳng định điều đó. Các tổ chức của HTCT cấp xã vững mạnh, hoạt động có




18
Qua nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi khác nhau, sau
ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh Minh Hải được thành lập và tỉnh
Cà Mau là một bộ phận quan trọng của tỉnh Minh Hải.
Ngày 6/11/1996, kỳ họp thứ 10 Quốc Hội khoá 9 đã ra Nghị quyết phê
chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải ra thành 2 tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà
Mau, thực hiện từ ngày 01/01/1997.
Như vậy, qua mỗi thời kỳ cách mạng, nhất là trong kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, HTCT ở các xã, thị trấn của tỉnh có
vị trí, vai trò rất to lớn, góp phần quan trọng vào chiến thắng vĩ đại của dân
tộc, thống nhất đất nước, cùng cả nước đi lên CNXH. Trong công cuộc đổi
mới, HTCT cấp xã của tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng trong
kháng chiến để trở thành nhân tố quyết định sự phát triển về kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh ở địa phương; góp phần to lớn vào thành tựu phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh và cả nước.Trong sự nghiệp đấu tranh chống giặc
ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, toàn tỉnh có 6 huyện, thành phố Cà Mau và 30 xã,
phường, thị trấn được Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
phong tặng là đơn vị anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Trong quá trình
xây dựng và phát triển đến nay, tỉnh có 42/101 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn
xã văn hoá (bằng 41,6%). Hiện có 101/101 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn
quốc gia về phổ cập trung học cơ sở (bằng 100%); 79/101 xã, phường, thị trấn
đạt chuẩn quốc gia về y tế (bằng 78,2 %).
1.1.2. Đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống chính trị xã, thị trấn của
tỉnh - Quan niệm, vai trò và đặc điểm
1.1.2.1. Quan niệm và vai trò đội ngũ cán bộ chủ chốt hệ thống chính
trị xã, thị trấn của tỉnh
* Quan niệm về CBCC HTCT xã, thị trấn
Quan niệm về "cán bộ”

Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung
và chất lượng, kết quả hoạt động của họ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" đã đưa ra
định nghĩa đúng đắn, khái quát về "Cán bộ". Người viết: “Cán bộ là người


20
đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu
rõ để đặt chính sách cho đúng” [35, tr.269].
Như vậy, nói theo nghĩa chung nhất, cán bộ là những người lãnh đạo,
quản lý hoặc nhà chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm
việc, hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác,
họ được hình thành từ bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt và phân công
công việc.
Cán bộ chủ chốt:
Thuật ngữ CBCC mới xuất hiện trong lịch sử đương đại gắn với sự xuất
hiện của đảng chính trị. Hiện nay, thuật ngữ này được dùng đồng nghĩa với
người đứng đầu - thủ lĩnh chính trị, người lãnh đạo, nhà chính trị…của một
quốc gia, dân tộc, một tổ chức.
Từ những vấn đề trình bày ở trên, cùng với sự nghiên cứu các văn kiện,
tài liệu của Đảng và Nhà nước, có thể quan niệm: CBCC là những người có
chức vụ, được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản
lý, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đó; chịu trách nhiệm cao
nhất trước tập thể và cấp trên về nhiệm vụ được giao trên cương vị ở mỗi cấp
và lĩnh vực khác nhau mà họ đảm nhiệm.
CBCC là người giữ trọng trách việc hoạch định chiến lược, xác định
mục tiêu, phương pháp, đề ra các quyết định, chủ trương, giải pháp để tổ chức
thực hiện tốt các nhiệm vụ của cấp mình và của cấp trên giao phó. Kiểm tra,
giám sát, uốn nắn kịp thời những lệch lạc trong tổ chức, đơn vị, bổ sung, điều

Cựu chiến binh, Bí thư Đoàn Thanh niên và Chủ tịch Hội Nông dân của các
xã, thị trấn của tỉnh.
* Vai trò đội ngũ CBCC HTCT xã, thị trấn (cấp xã).
Khi nói về vị trí, vai trò của cán bộ lãnh đạo đối với sự nghiệp cách
mạng, C.Mác và Ph.Ăngghen là người đầu tiên nêu ra quan điểm khoa học về
vai trò của cán bộ. Các ông coi cán bộ là những người sử dụng lực lượng thực
tiễn và khẳng định vai trò của họ. C.Mác viết: “Muốn thực hiện tư tưởng thì


22
cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [31, tr.181]. Như vậy,
cán bộ là những người tiêu biểu cho phong trào cách mạng; có tri thức và
trình độ nhận thức cao, biết kết hợp, vận dụng lý luận cách mạng với thực tiễn
để tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng. Họ là những người trung
thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn
thể dân tộc, có trách nhiệm cao với nhiệm vụ cách mạng và chịu sự giám sát
của quần chúng, do đó được quần chúng tin yêu.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về cán bộ
V.I.Lênin đã đề ra những quan điểm về cán bộ. Những quan điểm đó có ý
nghĩa về lý luận và thực tiễn đối với hoạt động của Đảng Công nhân Dân chủ
- Xã hội Nga, một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản
Liên Xô trong suốt thời gian dài. Theo V.I.Lênin, cán bộ nhất là các lãnh tụ
chính trị, CBCC là người quyết định để Đảng Cộng sản giành chính quyền,
trở thành đảng cầm quyền. Người viết: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai
cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng
ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có khả năng
tổ chức và lãnh đạo phong trào” [27, tr.473]. V.I.Lênin là lãnh tụ chính trị
thiên tài và là tấm gương sáng về hoạt động lý luận và thực tiễn đã lãnh đạo,
tổ chức phong trào vô sản giành thắng lợi to lớn. Trở thành cầm quyền, lãnh
đạo xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, cán bộ lại càng có vai trò quan

Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ sở. Họ là người trực tiếp gần gũi, gắn bó
với nhân dân; sống, làm việc và quan hệ thường ngày với nhân dân, cùng
“đồng cam cộng khổ” với nhân dân, họ là những người “miệng nói, tay làm"
lắng nghe ý kiến của nhân dân. Bằng nhiệt huyết cách mạng, tài năng, trí tuệ, sự
năng động, sáng tạo, họ cụ thể hoá các chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước phù hợp với địa phương; tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân
và gương mẫu thực hiện. Đội ngũ CBCC HTCT ở các xã, thị trấn của tỉnh là cầu
nối trực tiếp giữa Đảng với dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng
với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của


Trích đoạn Đặc điểm của đội ngũ cỏn bộ chủ chốt hệ thống chớnh trị xó, thị trấn của tỉnh Quan niệm về bản lĩnh chớnh trị và trỡnh độ trớ tuệ Những yếu tố cấu thành bản lĩnh chớnh trị và trỡnh độ trớ tuệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status