xây dựng đội ngũ bí thư đảng uỷ cấp xã của tỉnh bạc liêu trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn cách mạng Việt Nam gần 80 năm qua đã chứng minh rằng:
sau khi có đờng lối đúng, cán bộ là nhân tố quyết định thắng lợi của cách
mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc; công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng
ta đã có đợc đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng và bản lĩnh chính trị vững
vàng, có năng lực tổ chức thực tiễn ngang tầm nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ các
cấp đã đa chủ trơng, đờng lối của Đảng thâm nhập vào quần chúng, tổ chức,
lãnh đạo quần chúng vợt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu anh dũng,
làm nên thắng lợi lịch sử của cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lợc, giành độc lập, tự do cho dân tộc,
thống nhất Tổ quốc, đa cả nớc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hai mơi năm qua, đất nớc ta tiến hành công cuộc đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) vì mục tiêu dân giàu, nớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng ta chủ trơng phát triển nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa (XHCN), với nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế; mở rộng dân chủ XHCN, đổi mới hệ thống chính trị;
xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; củng cố
quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, v.v Do có đội ngũ cán bộ
đủ phẩm chất, trình độ, năng lực tổ chức thực tiễn, nên công cuộc đổi mới đất
nớc đã đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nớc có những thuận lợi to lớn, nhng
đồng thời cũng có những nguy cơ và thách thức đan xen. Để nâng cao sự lãnh
đạo của Đảng lên ngang tầm với nhiệm vụ chính trị, chủ động nắm thời cơ, vợt
qua thách thức và nguy cơ, thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lợc và đờng lối
của Đảng đề ra trong giai đoạn hiện nay, công tác xây dựng Đảng đợc xác
định là nhiệm vụ then chốt, công tác cán bộ của Đảng trở thành "khâu then
chốt của vấn đề then chốt".
1

phơng trong những năm qua. Song, so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay và thời
gian tới, đội ngũ cán bộ này còn bất cập về nhiều mặt: trình độ, năng lực tổ
chức thực tiễn, phẩm chất đạo đức Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất những
giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ bí th đảng uỷ xã, phờng, thị trấn trên địa
bàn tỉnh Bạc Liêu hiện nay là vấn đề vừa cần thiết, cấp bách, vừa có ý nghĩa
cơ bản lâu dài.
Là một cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Trờng Chính trị tỉnh, tôi
muốn qua việc nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp: "Xây dựng đội ngũ bí
th đảng uỷ cấp xã của tỉnh Bạc Liêu trong giai đoạn hiện nay" có thể
đóng góp một phần nhỏ công sức của mình cùng với các cấp uỷ đảng ở Bạc
Liêu làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần các nghị
quyết của Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói chung và xây
dựng đội ngũ bí th đảng uỷ cấp cơ sở nói riêng đã đợc các văn kiện của Đảng
đề cập và nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Trong các đề tài và bài viết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đáng chú
ý là các công trình: "Mẫu hình và con đờng hình thành ngời cán bộ lãnh đạo
chính trị chủ chốt cấp cơ sở" của Học viện Nguyễn ái Quốc, Hà Nội, 1992;
Đề tài nhánh KX.05-11-2005: "Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp cơ sở" năm 1993 do TS Phan Văn Tích làm chủ nhiệm; "
Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc", Nxb CTQG, HN, 2001 do PGS,TS
Nguyễn Phú Trọng và PGS,TS Trần Xuân Sầm đồng chủ biên. Các công trình
này đã đi sâu phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mẫu hình ngời cán
bộ lãnh đạo, những yêu cầu mới và những giải pháp mang tính tổng quát nhằm
3
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở trong thời kỳ CNH, HĐH đất nớc.
- Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về chủ đề

dân, đặc biệt là cán bộ cơ sở, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn
mới.
- "Một số vấn đề quan trọng về công tác tổ chức và cán bộ của Đảng
hiện nay" của Phan Diễn, Tạp chí Cộng sản, số 31, 2002, tr.3-9. Tác giả tổng
kết những đánh giá của Trung ơng về việc thực hiện các nghị quyết Trung ơng
khoá VII, khóa VIII và Kết luận của Hội nghị Trung ơng 6 khoá IX về công
tác tổ chức - cán bộ. Từ đó, tác giả đề nghị các cấp, các ngành tiếp tục quán
triệt sâu sắc, cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả các nghị quyết trong thời
gian tới. Trong đó, tác giả nêu phân tích khá chi tiết những mặt làm đợc và
những mặt yếu kém, hạn chế của các nội dung công tác tổ chức; công tác quy
hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý; công tác luân chuyển cán bộ; vấn đề xây dựng
tổ chức cơ sở đảng. Từ đó, tác giả đa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt
hơn công tác tổ chức cán bộ trong thời gian tới.
- "Nâng cao chất lợng cán bộ cơ sở: những vấn đề lý luận và thực tiễn"
của Hoài Nhân, Tạp chí Tổ chức Nhà nớc, số 12, 2002, tr.39, 52. Tác giả nêu
lên số liệu thống kê của tỉnh Bình Dơng về trình độ mọi mặt của đội ngũ cán
bộ cơ sở, chỉ ra những bất cập cần khắc phục và những trăn trở, băn khoăn của
đội ngũ cán bộ cơ sở trớc những thực trạng đáng báo động về tình hình hoạt
động và chất lợng đội ngũ cán bộ cơ sở. Từ đó, tác giả đa ra những giải pháp
nâng cao chất lợng cán bộ cơ sở nh: chính sách u đãi thu hút nhân tài, kế
hoạch đào tạo và bồi dỡng, các hình thức đào tạo, cải tạo tổ chức Đoàn thanh
niên để tạo nguồn cán bộ trẻ nhằm xây dựng hệ thống chính trị ngày càng
vững mạnh.
- "Xử lý đúng các mối quan hệ trong công tác cán bộ" của Hà Đăng,
Tạp chí Cộng sản, số 3, 2002, tr.21-24. Đây là tham luận tại Hội thảo khoa
5
học "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, huyện" do Tạp chí
Cộng sản phối hợp với Tỉnh ủy Hải Dơng tổ chức tháng 1-2002. Trong bài, tác
giả nêu lên một số mối quan hệ và sự cần thiết phải xử lý đúng các mối quan
hệ đó trong công tác cán bộ: giữa đức và tài, giữa tiêu chuẩn và cơ cấu, giữa

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Nghiên cứu và luận chứng góp phần làm rõ thêm những luận cứ khoa
học về công tác cán bộ của Đảng ở cơ sở; nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân,
kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ bí th đảng uỷ xã,
phờng, thị trấn của tỉnh Bạc Liêu đáp ứng đợc yêu cầu, nhiệm vụ trong giai
đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ bí th đảng uỷ cơ sở nói chung và
đội ngũ bí th đảng uỷ cơ sở ở Bạc Liêu nói riêng trong quá trình CNH, HĐH
đất nớc.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng, tìm nguyên nhân, rút ra kinh
nghiệm, xác định phơng hớng, và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng
đội ngũ bí th đảng uỷ xã, phờng, thị trấn của tỉnh Bạc Liêu ngang tầm nhiệm
vụ mới trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tợng nghiên cứu:
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là đội ngũ bí th đảng uỷ các xã, ph-
ờng, thị trấn của tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu đội ngũ đơng chức, kế cận bí th đảng uỷ
cấp xã và công tác xây dựng đội ngũ bí th đảng uỷ cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu từ
năm 1997 đến nay.
7
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t
tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về cán bộ và công tác cán bộ của
Đảng trong điều kiện có chính quyền.
Luận văn đợc tiến hành trên cơ sở phơng pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng kết hợp các ph-

Theo GS,TS Hoàng Chí Bảo, "Làng: là một từ Nôm, là tiếng nói dân
dã, là ngôn ngữ đời sống trong dân gian đã ăn sâu vào tâm lý ý thức của ngời
Việt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó không chỉ là một không gian sinh tồn,
một môi trờng kinh tế - sản xuất với nghề trồng lúa nớc cổ truyền mà còn là
một không gian xã hội và cảnh quan văn hoá [2, tr.54]. Nhà nghiên cứu dân
tộc học Trần Từ cho rằng: ""làng" là tế bào sống của xã hội Việt Nam thời cổ,
là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định c và cộng c của ngời Việt trồng
trọt" [65, tr.35].
Cũng theo GS,TS. Hoàng Chí Bảo, "xã" là một từ Hán, là khái niệm
hành chính, là đơn vị cơ sở của quản lý hành chính, đợc thừa nhận khi chính
quyền nhà nớc phong kiến lúc đó thi hành những cải cách hành chính, biến
công xã - làng Việt cổ - thành đơn vị hành chính cấp cơ sở gọi là "xã" [2, tr.54].
Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta, cấp xã giữ vị trí, vai
trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
9
hội và chống ngoại xâm. Xã là nơi cộng đồng dân c sinh sống, liên kết chặt
chẽ với nhau trong quan hệ kinh tế, xóm làng, họ tộc, hội hè, tín ngỡng, giúp
đỡ và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Xã đợc hình thành bởi các làng; mỗi
làng, xã - ngoài những điểm chung về văn hoá, phong tục tập quán - còn có
những nét riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn hoá của xã hội
Việt Nam.
Trong thời kỳ Bắc thuộc và Pháp thuộc, các chính quyền nhà nớc đều
xác định cấp xã là cấp quản lý hành chính ở cơ sở, nằm trong hệ thống quản lý
hành chính lãnh thổ của đất nớc. Bộ máy chính quyền cấp xã là công cụ phục
vụ đắc lực cho chính quyền nhà nớc cấp trên trong việc cai quản nông thôn. Vì
thế, họ luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố bộ máy chính quyền cấp xã, để
nó nắm chắc đợc ruộng đất và dân đinh ở làng xã mình, khai thác đầy đủ, triệt
để các thứ thuế khoá và nghĩa vụ của dân đinh đối với nhà nớc; duy trì và tăng
cờng sự bóc lột của chúng đối với nhân dân ta.
Các triều đại phong kiến ở nớc ta cũng rất đề cao và coi trọng vai trò

phân loại đơn vị hành chính xã, phờng, thị trấn làm căn cứ để Nhà nớc có
chính sách phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định của đơn vị
hành chính cấp xã và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nớc của chính
quyền cơ sở, đồng thời làm cơ sở để xác định số lợng cán bộ, công chức
chuyên trách và không chuyên trách; số lợng thành viên Uỷ ban nhân dân
(UBND); bổ sung chế độ, chính sách hợp lý đối với cán bộ, công chức xã, ph-
ờng, thị trấn. Cũng theo Nghị định này, các xã, phờng, thị trấn đợc chia thành
ba loại sau:
- Xã, phờng, thị trấn loại I: thuộc địa bàn biên giới hải đảo, có từ 221
điểm trở lên.
- Xã, phờng, thị trấn loại II: có từ 141 đến 220 điểm.
- Xã, phờng, thị trấn loại III: có từ 140 điểm trở xuống (cách tính điểm
đợc quy định cụ thể trong Nghị định).
11
Tiêu chí phân loại trên dựa trên các điều kiện: dân số, diện tích và các
yếu tố đặc thù nh dân tộc, tôn giáo, khu vực
Xã, phờng, thị trấn là cấp hành chính thấp nhất. Các tổ chức trong hệ
thống chính trị xã, phờng, thị trấn có hai đặc trng nổi bật: gần dân nhất và là
nơi thực hiện tất cả các nghị quyết, chỉ thị của các tổ chức đảng cấp trên; các
chính sách, pháp luật của Nhà nớc; các chơng trình, kế hoạch của chính quyền
cấp trên; các chủ trơng của các đoàn thể cấp trên, đồng thời xây dựng và tổ
chức thực hiện các nghị quyết, chơng trình công tác của cấp mình.
1.1.2. Những đặc điểm chung của cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu
Ngoài những đặc điểm chung của cấp xã trong cả nớc, cấp xã ở Bạc
Liêu có những nét riêng đáng chú ý.
Về mặt lịch sử, Bạc Liêu là vùng đất mới hình thành (khoảng trên 200
năm). Do điều kiện đất đai, cơ cấu dân c ban đầu không giống các tỉnh miền
Trung, miền Bắc. Dân c Bạc Liêu đa số là dân "xiêu tán", nghèo khổ, "tha ph-
ơng cầu thực". Họ định c rải rác trên các gò đất cao, dọc các bờ sông, các
kênh sáng, từ đó hình thành xóm, ấp, làng, xã. Phong cách ứng xử của ngời

khác chiếm 0,042% dân số [6, tr.22].
Theo thống kê của Cục Thống kê Bạc Liêu năm 2005, dân số Bạc Liêu
là 813.079 ngời, chiếm gần 1% dân số cả nớc. Hằng năm, trên địa bàn các xã,
phờng, thị trấn ở Bạc Liêu có rất nhiều lễ hội: Ngời Kinh có lễ hội cúng đình,
thờ thần Hoàng Bổn Cảnh có công với nớc đợc triều đình nhà Nguyễn sắc
phong. Ngoài ra còn có đại lễ Kỳ Yên (còn gọi là lễ thợng điền) giữa tháng 5
âm lịch; lễ thắp miếu (còn gọi là lễ hạ điền) vào giữa tháng 12 âm lịch. Đồng
bào Khmer có lễ hội vào năm mới (Chol - Chnam -Thmây) vào giữa tháng 4
dơng lịch, lễ hội chào mặt trăng (Ooc-om-booc) vào ngày 10 âm lịch, lễ hội
Dôn-ta nhằm thực hiện việc xá tội vong nhân theo đạo lý nhà Phật. Đồng bào
ngời Hoa có lễ cúng thanh minh vào tháng 3 âm lịch, lễ thí giàng vào tháng 7
âm lịch.
13
Tóm lại, cấp xã ở Bạc Liêu là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hoá, xã
hội, chính trị phong phú, cần có sự quan tâm, giúp đỡ, điều chỉnh của các cấp
chính quyền và các đảng bộ cơ sở, để các hoạt động đó diễn ra theo hớng tích
cực.
1.1.3. Các đảng bộ xã, phờng, thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu: vị trí, vai
trò, chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra đối với các đảng bộ xã trong
giai đoạn hiện nay
1.1.3.1. Vị trí, vai trò của các cấp đảng bộ xã, phờng, thị trấn
Bạc Liêu hiện có 61 đảng bộ xã, phờng, thị trấn, chiếm 60% trong
tổng số các đảng bộ cơ sở (102 Đảng bộ cơ sở của toàn tỉnh). Do chiếm tỷ lệ
lớn về số lợng tổ chức cơ sở đảng và số lợng đảng viên, nên các đảng bộ cấp
xã có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng. Các đảng bộ này là nền tảng của Đảng ở tất cả các xã, phờng,
thị trấn; là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng; nơi thể
hiện sự gắn bó giữa Đảng và nhân dân, đặc biệt là giai cấp nông dân.
Các đảng bộ xã, phờng, thị trấn là những đơn vị chiến đấu, đại diện
cho lập trờng giai cấp công nhân ở cơ sở, lãnh đạo và định hớng giải quyết

chủ trơng, nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo có hiệu quả.
- Xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, t tởng
và tổ chức, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, nâng cao chất lợng
sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cờng
sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, thờng xuyên giáo dục, rèn luyện và quản
lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu,
trình độ kiến thức năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch,
vững mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân.
15
- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất tinh thần
và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, lãnh đạo nhân dân tham gia xây
dựng thực hiện đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc.
- Kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các Nghị quyết, Chỉ thị của
Đảng và pháp luật của Nhà nớc đợc chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ
chức đảng, đảng viên chấp hành điều lệ Đảng.
Tùy lúc, tùy nơi, các đảng bộ cơ sở có những yêu cầu nhiệm vụ
riêng, song về cơ bản, các tổ chức cơ sở đảng nói chung và các đảng bộ xã,
phờng, thị trấn nói riêng, phải lấy những nhiệm vụ trên làm nền tảng.
Những nhiệm vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Do đó,
trong hoạt động thực tiễn, không đợc xem nhẹ nhiệm vụ nào. Căn cứ những
đặc điểm riêng của từng đơn vị cơ sở, các đảng bộ cần quán triệt và vận
dụng sáng tạo quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng
cơ sở, xác định các vấn đề trọng tâm, tập trung chỉ đạo có kết quả để thúc
đẩy phát triển toàn diện.
Ngày 3-3-2004, Ban Bí th Trung ơng Đảng khóa IX đã ban hành các
Quy định số 94-QĐ-TW và 95-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng
bộ, chi bộ cơ sở xã, phờng, thị trấn, trong đó nêu rõ: Tổ chức cơ sở đảng ở

cấp uỷ với chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND), chủ tịch UBND, chủ tịch
MTTQ và những ngời đứng đầu các đoàn thể nhân dân để bàn và giải quyết
kịp thời những công việc quan trọng, bức xúc trên địa bàn, những vấn đề
lớn, có quan hệ tới cuộc sống, quyền lợi của đông đảo nhân dân địa phơng.
- Tăng cờng và nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác giáo dục
chính trị, lãnh đạo t tởng, kiên quyết đấu tranh khắc phục sự suy thoái về t
tởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Triển khai sâu
rộng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên mà
nội dung cơ bản là học tập và làm theo t tởng, đạo đức, tác phong của Chủ
17
tịch Hồ Chí Minh. Tạo d luận xã hội rộng lớn trong toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân phê phán chủ nghĩa cá nhân; đề cao cần, kiệm, liêm, chính, chí
công, vô t; nêu gơng ngời tốt, việc tốt. Kiên quyết đấu tranh chống quan
liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, t tởng cá nhân, cơ hội, thực dụng, cục
bộ địa phơng trong cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cán bộ, đảng
viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nớc. Tiếp tục thực hiện
có kết quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xác định rõ tiêu
chuẩn, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, cần xây dựng và những biểu
hiện tiêu cực, việc làm sai trái thờng gặp trong từng ngành, địa phơng cần
đấu tranh, ngăn chặn, khắc phục, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên
tham nhũng, tiêu cực và những ngời bao che hành vi tham nhũng, bất cứ ng-
ời đó là ai, ở cơng vị nào. Để xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở đảng, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ:
Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các quy định về chức
năng, nhiệm vụ, phơng thức hoạt động của các loại hình tổ chức
cơ sở đảng; thực hiện tốt nguyên tắc dựa vào nhân dân để xây
dựng Đảng từ cơ sở. Có cơ chế để nhân dân tham gia ý kiến vào
việc xây dựng các nghị quyết của Đảng bộ, chi bộ, các quyết định
của tổ chức đảng, chính quyền cơ sở trực tiếp liên quan đến quyền
lợi và nghĩa vụ của nhân dân; vào việc bố trí cán bộ chủ chốt của

ở xã, phờng, thị trấn.
Các đảng bộ cần đổi mới nội dung và phơng thức lãnh đạo của cấp
uỷ, hớng vào mục tiêu phục vụ cuộc sống và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, tạo điều kiện phát triển các hình thức tự quản của cộng đồng dân
c đi đôi với việc xây dựng nếp sống văn hoá mới (xây dựng làng xã, ấp, gia
đình văn hoá), sống và làm việc theo pháp luật, bảo đảm trật tự an ninh, đẩy
lùi các tệ nạn xã hội: cờ bạc, đá gà, số đề, mại dâm trên địa bàn xã, phờng,
thị trấn.
19
Bên cạnh đó, các đảng bộ cần làm cho các tổ chức trong hệ thống
chính trị ở xã, phờng, thị trấn thấy đợc vai trò của mình trong việc tiếp xúc
với dân, chịu sự giám sát trực tiếp của dân, đồng thời tổ chức và vận động
nhân dân thực hiện đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc,
phát huy mọi khả năng nội, ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức
cuộc sống dân c.
Các đảng bộ xã thực chất là lực lợng lãnh đạo, gắn kết và phát huy
sức mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị, ở cơ sở, khơi dậy trí tuệ
và nguồn lực của dân xây dựng thôn, xóm, xã, phờng, qua đó xây dựng
Đảng, bồi dỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên.
Kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong Đảng
bộ, tình trạng cán bộ sách nhiễu dân, lạm dụng của công, nhất là trong thực
hiện chính sách đất đai, trợ cấp xã hội, sử dụng vốn đầu t từ nguồn ngân
sách và đóng góp của nhân dân. Kịp thời phát hiện, động viên những tấm g-
ơng, những điển hình tiên tiến trong Đảng bộ và trong nhân dân.
1.1.4. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của bí th đảng ủy xã, phờng,
thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu
1.1.4.1. Vai trò của bí th đảng ủy xã, phờng, thị trấn
Cũng nh cấp xã của cả nớc, cấp xã ở Bạc Liêu có vai trò đặc biệt
quan trọng. Đây là nơi cụ thể hóa đờng lối, chủ trơng của Đảng thành hiện
thực; là nơi kiểm nghiệm, đánh giá và góp phần hoàn thiện những đờng lối,

vị cơ sở mình một cách sát thực và đúng hớng, trọng tâm là khai thác đợc
tiềm năng, thế mạnh của xã, phờng, thị trấn nơi mình phụ trách, lãnh đạo
việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế; tìm "đầu ra" cho các sản phẩm của nông
dân; ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất; tích cực xoá đói, giảm
nghèo Đi đôi với việc phát triển kinh tế, phải quan tâm lãnh đạo tốt việc
phát triển y tế, giáo dục, các vấn đề văn hoá - xã hội, xây dựng xóm, ấp văn
21
hoá, kiên quyết xoá bỏ các tệ nạn, điều chỉnh các tập tục lỗi thời, xóa bỏ mê
tín dị đoan, giữ vững ổn định về an ninh, quốc phòng ở nông thôn.
Bí th đảng ủy xã, phờng, thị trấn có trách nhiệm trực tiếp chăm lo
xây dựng và chỉnh đốn Đảng ở ngay tại đảng bộ của mình: xây dựng đảng
bộ trong sạch, vững mạnh về t tởng, chính trị và tổ chức; đổi mới và nâng
cao chất lợng nội dung sinh hoạt và hoạt động của cấp uỷ, của đảng bộ, của
các chi bộ; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện
tốt chế độ tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong cấp
ủy và trong đảng bộ; nâng cao chất lợng đảng viên; củng cố, kiện toàn tổ
chức bộ máy, chăm lo, xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán
bộ, trớc hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở; lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức
kiểm tra và phối hợp hoạt động chặt chẽ với các tổ chức, các cơ quan trên
địa bàn xã; xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy cơ sở; gần
gũi, lắng nghe ý kiến đóng góp của quần chúng; chỉ đạo việc tổ chức cho
các đoàn thể tham gia phê bình cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và tham gia
vào công tác xây dựng Đảng.
Có thể nói rằng, ngời bí th đảng ủy cấp xã là ngời chủ trì, điều khiển
tất cả mọi mặt công tác, các lĩnh vực hoạt động của đảng bộ, đảng ủy xã,
phờng, thị trấn; trực tiếp nắm và chỉ đạo thực hiện các vấn đề trọng yếu, các
khâu trung tâm của nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh,
quốc phòng, chăm lo xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị
ở cơ sở trong sạch, vững mạnh. Ngoài ra, trong công tác và sinh hoạt hàng
ngày, họ phải giải quyết nhiều mối quan hệ rất phức tạp. Đó là quan hệ

bên ngoài, thông tin đa dạng, nhanh, phức tạp và nhiều chiều nh hiện nay,
cán bộ các cấp nói chung và bí th đảng ủy xã nói riêng phải có khả năng
nắm bắt, phân tích, xử lý, chọn lựa thông tin để hình thành quyết định.
Công cuộc đổi mới của đất nớc ta diễn ra trong hoàn cảnh chế độ XHCN ở
23
các nớc Đông Âu và Liên Xô bị sụp đổ, các thế lực thù địch đang tìm mọi
cách tấn công, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và đ-
ờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nớc ta; xuyên tạc lịch sử và sự nghiệp
đổi mới ở nớc ta. Không có đợc trình độ và năng lực nêu trên, ngời bí th đảng
uỷ xã không thể tự làm tốt công tác t tởng của mình, cho tổ chức đảng và cho
quần chúng, không thể xây dựng đợc niềm tin cho quần chúng vào con đờng
cách mạng XHCN và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Nông thôn Bạc Liêu chiếm trên 90% diện tích đất đai, nông dân
chiếm trên 80% dân số toàn tỉnh. Song, phần lớn dân c nông thôn hiện nay,
nhất là các vùng sâu, vùng xa trung tâm tỉnh lỵ, vẫn trong tình trạng nghèo
nàn, đời sống khó khăn; hầu hết diện tích đất nông nghiệp còn độc canh cây
lúa, t liệu sản xuất còn lạc hậu; bình quân ruộng đất trên đầu ngời ngày
càng giảm, lại phân tán, manh mún Mặc dù ở một số nơi trong tỉnh nông
dân đã rất cố gắng sản xuất từ 2 đến 3 vụ lúa - màu trong năm, vòng quay
của đất tăng nhanh, kết hợp trồng trọt và chăn nuôi với các mô hình mới
nh VAR (vờn, ao, ruộng),VAC (vờn,ao,chuồng), các trang trại quy mô nhỏ,
đa cây màu xuống ruộng , nh ng đời sống nông dân vẫn còn nhiều khó
khăn, tụt hậu ngày càng xa so với các tỉnh, thành phố trong vùng. Ngời lao
động thiếu việc làm, dân trí thấp, đội ngũ trí thức trực tiếp thực hiện CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn rất ít; kết cấu hạ tầng kém, hiệu quả sử dụng
đất đai, năng suất lao động thấp; một bộ phận nông dân không có đất sản
xuất phải đi làm thuê, làm mớn, tiếp tục cực nhọc và nghèo khổ. Mặt khác,
ở nhiều nơi trong tỉnh hiện nay còn tồn tại các tệ nạn nh: số đề, đá gà, mại
dâm và các tập tục lạc hậu nh: mê tín dị đoan, bói toán, cầu hồn, lên đồng;
những vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh nh: lấy chồng ngoại, xuất khẩu lao

cấp xã đủ về số lợng, đảm bảo về chất lợng, đáp ứng yêu cầu thực hiện
CNH, HĐH trên địa bàn xã, phờng, thị trấn ở tỉnh Bạc Liêu là vấn đề hết
sức cần thiết và cấp bách.
25

Trích đoạn Về công tác đào tạo, bồi dỡng Về đánh giá cán bộ Nguyên nhân củ au điểm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status