BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ BẢO VÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LOÀI VÀ PHƯƠNG THỨC
LÂY NHIỄM KST Perkinsus spp. KÝ SINH TRÊN NHUYỄN
THỂ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:
Nuôi trồng thủy sản
Mã số:
60620301
Quyết định giao đề tài:
989/QĐ-ĐHNT ngày 07/10/2014
Quyết định thành lập HĐ:
1044/QĐ-ĐHNT ngày 10/11/2015
Ngày bảo vệ:
27/11/2015
Người hướng dẫn khoa học:
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Hứa Thị Ngọc Dung – người trực tiếp
giúp đỡ tận tình, quan tâm tôi trong suốt thời gian làm đề tài để tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn cô Đặng thị Đoan Trang, cô Nguyễn Thị
Thùy Giang, thầy Lê Thành Cường và tập thể lãnh đạo, các cán bộ, chuyên viên của
Viện Nuôi trồng thủy sản đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn Trung tâm thí nghiệm và phòng thực hành Bệnh học thủy sản – Đại
học Nha Trang đã tạo điều kiện cơ sở vật chất giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn hai em Kiều Thị Ái Vân và Lương Thị Hải Yến lớp
Nuôi trồng thủy sản khóa 53 đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, các đồng nghiệp và các em ở kí túc xá
K5 giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập.
Cuối cùng tôi xin dành sự biết ơn to lớn đến gia đình, chồng và con gái đã luôn
bên cạnh động viên giúp tôi vượt qua khó khăn trong suốt những năm học vừa qua.
Nha Trang, tháng 10 năm 2015
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Bảo Vân
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................iii
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................................iv
MỤC LỤC..........................................................................................................................v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................................. vii
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................. viii
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................... ix
1.3
Các nghiên cứu về bệnh Perkinsiosis trên nhuyễn thể hai mảnh vỏ ..............11
1.3.1
Bệnh Perkinsiosis ở động vật nhuyễn thể ......................................................11
1.3.2 Những nghiên cứu về bệnh Perkinosis ở nhuyễn thể hai mảnh vỏ ....................14
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................20
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu........................................................20
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu............................................................................21
2.3 Vật liệu nghiên cứu................................................................................................21
v
2.4 Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................22
2.4.1 Xác định mức độ cảm nhiễm KST Perkinsus spp trên nghêu Bến Tre, nghêu lụa,
tu hài và ngao dầu........................................................................................................22
2.4.2
Nghiên cứu sự biến thái của KST Perkinsus..................................................25
2.4.2.1 Khảo sát sự biến thái KST Perkinsus từ thể dinh dưỡng sang bào tử nghỉ trong
điều kiện tương tự tự nhiên .........................................................................................25
2.4.2.2 Khảo sát sự biến thái KST Perkinsus dưới tác động các yếu tố sinh thái......26
2.5
Phương pháp xử lý số liệu..............................................................................27
Đồng bằng sông Cửu Long
FAO
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (Food and
Agriculture Oraganization of the United Nations)
FTM
Fluid Thioglycolate Medium
KST
Kí sinh trùng
OIE
Office International des Epizooties
PBS
Phosphate Buffered Saline
PCR
Polymerase Chain Reaction (Phản ứng khuếch đại gen)
TLCN
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Kí sinh trùng Perkinsus (40x)...............................................................11
Hình 1.2: Vòng đời của kí sinh trùng Perkinsus olseni trên nghêu T. decussatus
..............................................................................................................................12
Hình 1.3: Bản đồ phân bố các loài Perkinsus .......................................................13
Hình 1.4: Bào tử nghỉ KST Perkinsus (40x) ........................................................17
Hình 2.1: Địa điểm thu mẫu..................................................................................20
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu ……………………………………...21
Hình 2.3: Quá trình xử lý mẫu ..............................................................................23
Hình 3.1: Bào tử nghỉ KST Perkinsus sp. (40x)...................................................30
Hình 3.2: Biểu hiện mô bệnh học trên cơ quan mang (400x)...............................36
Hình 3.3: Biểu hiện mô bệnh học ở cơ quan tiêu hóa (400x)...............................37
Hình 3.4: Biểu hiện mô bệnh học ở cơ chân bò (400x) ........................................38
ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ là một trong những loài đóng một vài trò rất quan trọng
trong nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, nghề nuôi nhuyễn thể cũng đang gặp rất nhiều
khó khăn về dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, con giống, thị trường tiêu thụ. Từ đầu
năm 2003 cho đến nay, Việt Nam ghi nhận hiện tượng nhiều loài động vật hai mảnh
vỏ nuôi trong các mô hình bị chết liên tục trên phạm vi cả nước, gây thiệt hại nghiệm
trọng cho kinh tế, xã hội và môi trường của quốc gia. Kí sinh trùng đơn bào Perkinsus
được ghi nhận gây thiệt hại nghiêm trọng nhất như gây ra tỷ lệ chết cao và thường
xuyên cho các loài nhuyễn thể (hào, điệp, bào ngư, nghêu, vẹm, trai ngọc và sò huyết)
nước mặn có giá trị ở tất cả các châu lục. Hiện nay trên thế giới đã có 10 loài
Nguyễn Thị Bảo Vân
Chủ tịch hội đồng
Người hướng dẫn
(Ký và ghi rỗ họ tên)
(Ký và ghi rỗ họ tên)
PGS.TS. LẠI VĂN HÙNG
TS. PHẠM QUỐC HÙNG
xi
MỞ ĐẦU
Cùng với các đối tượng thủy sản chính của nước ta như tôm và cá da trơn,
nhuyễn thể hai mảnh vỏ đóng một vài trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. So
với năm 1998, sản lượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ nuôi của Việt Nam đã tăng 95 lần
đạt mức trên 180 triệu tấn năm 2010 và đứng thứ tám trong 10 nước dẫn đầu thế giới
về sản lượng nhuyễn thể [1]. Nhiều đối tượng chủ lực như nghêu, hàu, trai ngọc, sò
huyết, ốc hương, bào ngư, vẹm, tu hài đã và đang được nuôi rất phổ biến dưới nhiều
hình thức nuôi tại các địa phương trong cả nước.
Tuy nhiên, nghề nuôi nhuyễn thể cũng đang gặp rất nhiều khó khăn về dịch
bệnh, ô nhiễm môi trường, con giống, thị trường tiêu thụ. Đặc biệt, con giống được coi
là yếu tố quan trọng đối với nghề nuôi nhưng phần lớn giống nhuyễn thể 2 mảnh vỏ là
nhập từ Trung Quốc nên khó kiểm soát chất lượng; trong khi, sản xuất giống trong
nước chưa kiểm soát tốt đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nghề nuôi…Từ
con/kg chiếm 40%, kích cỡ 200 - 250 con/kg chiếm 60% phát hiện có sự hiện diện của
KST Perkinsus [5]. Hiện nay, các kết luận về loài Perkinsus kí sinh trên động vật thủy
sản Việt Nam chủ yếu dựa vào các mô tả hình thái và vật chủ, chính vì vậy mà thông
tin chính xác về đặc điểm di truyền của các loài Perkinsus vẫn chưa được khẳng định.
Hệ quả của thực tế này là việc xác định khả năng gây hại, mức độ gây hại của KST
này đối với vật chủ là chưa được biết, gây nên những khó khăn trong công tác phòng
ngừa và điều trị tác nhân này.
Chính vì vây, nghiên cứu xác định thành phần loài, đặc điểm sinh thái, sinh lý,
hình thái và di truyền của mỗi giai đoạn của Perkinsus ở Việt Nam là rất cần thiết. Do
đó, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và ảnh hưởng
của một số yếu tố môi trường lên sự biến thái của kí sinh trùng Perkinsus kí sinh
trên một số loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ ở Việt Nam”.
Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu hình thái và phương thức lây nhiễm của KST
Perkinsus kí sinh trên nhuyễn thể tại Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu về mức độ cảm nhiễm và ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường
lên quá trình biến thái từ thể dinh dưỡng sang giai đoạn bào tử nghỉ của KST
Perkinsus spp. kí sinh trên một số loài nhuyễn thể hai mảnh ỏ ở Việt Nam làm cơ sở
cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn.
2
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu hình thái và mức độ cảm nhiễm KST Perkinsus spp trên nghêu Bến
Tre (Meretrix lyrata), nghêu lụa (Paphia undulata), tu hài (Lutraria rhynchaena) và
ngao dầu (Meretrix meretrix).
- Nghiên cứu sự biến thái từ thể dinh dưỡng sang giai đoạn bào tử nghỉ của KST
Perkinsus spp. kí sinh trên nhuyễn thể ở những điều kiện môi trường khác nhau.
Ý nghĩa thực tiễn và khoa học
km, sông Hàm Luông dài 71 km, sông Ba Lai dài 59 km, sông Mỹ Tho dài 83 km. Hệ
thống sông ngòi ở Bến Tre rất thuận lợi về giao thông đường thủy, nguồn thủy sản
phong phú, nước tưới cho cây trồng ít gặp khó khăn, tuy nhiên cũng gây trở ngại đáng
kể cho giao thông đường bộ, cũng như việc cấp nước vào mùa khô, khi thủy triều biển
Đông đưa mặn vào sâu trong kênh rạch vào mùa gió chướng [6].
Hiện nay, toàn tỉnh Bến Tre có 8 hợp tác xã (HTX) nuôi nghêu gồm: Thạnh Lợi,
Thạnh Phong, Thanh Bình (Thạnh Phú), Tân Thủy, Bảo Thuận, An Thủy (Ba Tri),
Rạng Đông, Đồng Tâm (Bình Đại). Diện tích có khả năng nuôi nghêu toàn tỉnh là
15.000 ha, trong đó diện tích nuôi tính đến năm 2014 là 7.164 ha. Diện tích có nghêu
là 3.043 ha, trong đó nghêu giống 482 ha, nghêu thịt 2.561 ha. Tổng sản lượng đạt
khoảng 4.489 tấn, trong đó nghêu thịt 3.848 tấn, nghêu giống 641 tấn. Hiện tượng
nghêu chết xảy ra cục bộ một số HTX như Bình Minh, Tân Thủy, Đồng Tâm, Rạng
Đông, với tổng thiệt hại khoảng 290 ha. Nghêu chết ở vùng cao triều lên tới 60%,
vùng trung triều chết với tỷ lệ 20%, vùng thấp triều chưa xảy ra hiện tượng chết. Mẫu
nghêu thu được có sự hiện diện của KST đơn bào nội kí sinh Perkinsus sp,
Paramophrys sp và Copepod. Vào khoảng tháng 3/2011, người nuôi nghêu tại các
huyện Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú rất lo bởi tình trạng nghêu chết hàng loạt, làm
thiệt hại về kinh tế và đời sống. Do nhiệt độ và độ mặn tăng cao trong những tháng
4
mùa khô nên nghêu bị thiếu dinh dưỡng và suy yếu dần, tạo điều kiện cho mầm bệnh
ký sinh trùng Perkinsus sp phát triển gây chết nghêu hàng loạt. Nghêu chết hàng loạt
cũng là vấn đề nhức nhối ở huyện Ba Tri, nơi có 100% diện tích nghêu chết vào tháng
Ba và tháng Tư năm 2011. Họ cũng cho rằng nguyên nhân xuất phát từ sự thay đổi
hình thái thời tiết, sự gia tăng nhiệt độ bề mặt nước biển và độ mặn. Hợp tác xã nghêu
An Thủy ở Ba Tri vẫn đang gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn nghêu giống cho các
vụ nuôi tiếp theo. Nghêu chết tập trung ở vùng cao triều là vào thời điểm thủy triều
kém, thời gian phơi bãi trong ngày dài kết hợp với nắng nóng và mật độ tăng cao đột
ngột. Đặc biệt, tỷ lệ nghêu mang trứng và cường độ nhiễm ký sinh trùng Perkinsus sp
phép. Các loài vi khuẩn hiện diện trong các mẫu xét nghiệm không phải là nguyên
nhân gây ra tình trạng nghêu chết hàng loạt, mà chỉ là tác nhân cộng hưởng với các
nguyên nhân khác như: Mật độ nuôi quá dày; chỉ tiêu về độ đục, chỉ tiêu về nhu cầu
oxy hóa học và chỉ tiêu kim loại là sắt đều vượt ngưỡng cho phép, từ đó dẫn đến giảm
khả năng nguồn thức ăn tự nhiên của nghêu, ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của thủy
sinh vật nói chung... Tổng hợp các yếu tố trên cộng với tình hình thời tiết bất lợi, môi
trường biến đổi đột ngột, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm lớn... đã làm cho
nghêu chết hàng loạt và kéo dài trong thời gian qua.
1.1.3 Vị trí địa lý thủy văn của Khánh Hòa
Khánh Hòa là một tỉnh ven biển miền Trung và nằm trong khu vực nhiệt đới gió
mùa, trong khoảng 11041’53’’ – 12052’10’’ vĩ độ Bắc và 108040’42’’ – 109030’00’’
kinh Đông. Độ dài bờ biển xấp xỉ 200 km. Khánh Hòa có khoảng 200 hòn đảo với
tổng diện tích khoảng 600 km2. Các vịnh và đầm phá phân bố liên tục và dọc theo
đường bờ biển của Khánh Hòa: Vũng Rô – Đại Lãnh, Vũng Bến Gói – Vịnh Vân
Phong, Vịnh Bình Cang, Đầm Nha Phu và Đầm Thủy Triều – Vịnh Cam Ranh. Hệ
thống vịnh góp phần vào đặc trưng về địa mạo, trầm tích cũng như các yếu tố thủy động
lực làm cho Khánh Hòa phức tạp, đa dạng và phong phú về nguồn lợi sinh vật [8], [9].
Khí hậu Khánh Hòa mang tính gió mùa của Nam Trung Bộ. Mùa mưa chính bắt
đầu từ tháng 9 đến tháng 11 với lượng mưa đạt từ 250 – 350 mm, từ tháng 5 đến tháng
6 là thời kỳ mưa tiểu mãn (lượng mưa đạt từ 60 – 120 mm). Mùa khô kéo dài từ tháng
3 đến tháng 8. Chế độ gió mùa đã ảnh hưởng lớn đến chế độ dòng chảy ở đây. Gió
mùa Tây – Nam từ tháng 6 đến thàng 9 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau [8], [9].
Thành phố Cam Ranh là địa phương có điều kiện thuận lợi để phát triển nghề
nuôi tu hài. Tu hài nuôi tại thành phố Cam Ranh chỉ mất khoảng 4 – 6 tháng là cho thu
hoạch (các địa phương khác mất 8 – 12 tháng mới thu). Tu hài chủ yếu được nuôi tại
6
các phường Cam Nghĩa và Cam Phúc Bắc. Từ năm 2012 đến nay, do môi trường nuôi
tháng. Nguyên nhân của việc ngao chết hàng loạt là do thời tiết nắng nóng gay gắt xuất
hiện sớm; vào thời điểm ngao chết, nhiệt độ môi trường có thể lên đến 40oC, độ mặn
33-37‰; chất lượng môi trường kém, chất rắn lơ lửng nhiều; vi khuẩn Vibrio cũng có
thể liên quan đến hiện tượng ngao chết trong thời gian vừa qua.
7
1.2
Một số đặc điểm về các đối tượng nhuyễn thể hai mảnh vỏ nghiên cứu
1.2.1 Hệ thống phân loại và phân bố
Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Ngành Mollusca
Lớp Bivalvia
Lớp phụ Heterodonta
Bộ Venerida
Họ Veneridae
Giống Meretrix
Loài Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng Anh: Clam
Tên tiếng Việt: Nghêu Bến Tre
- Phân bố
Vùng phân bố của nghêu ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương, từ Đài Loan đến
Việt Nam. Nghêu phân bố ở các vùng cửa sông, vùng eo vịnh, các bãi triều. Vùng
sóng gió nhẹ, nước chảy lưu thông và có lượng nước ngọt nhất định chảy vào.
Phân bố ở vùng có độ mặn từ 7 – 30 ‰, thích hợp 15 - 25‰.
Nhiệt độ từ 15 – 350C, trong đó nhiệt độ thích hợp là từ 20 – 250C.
pH: 7,5 – 8,5
Chất đáy: Cát bùn (cát 60 – 90%), nhiều bùn nghêu dễ bị ngạt, nhiều cát ảnh
Nghêu lụa sống ở vùng đáy cát bùn ven bờ. Khu vực phân bố ở Việt Nam: Hà
Tiên, Rạch Giá (Kiên Giang), quanh đảo Bà Lụa (Bình Thuận).
Mùa vụ khai thác từ tháng 12 năm trước đến tháng 6 năm sau.
Tu hài Lutraria rhynchaena (Jonas, 1844)
Ngành Mollusca
Lớp Bivalvia
Lớp phụ Heterodonta
Bộ Venerida
Họ Mactridae
Giống Lutralia
Loài Lutraria rhynchaena (Jonas, 1844)
Tên tiếng Anh: Clam
Tên tiếng Việt: Tu hài
- Phân bố
Tu hài phân bố ở vùng triều có độ mặn từ 20 - 34‰, nhiệt độ 18 – 330C, chất đáy
là cát, sỏi có pha ít bùn và mảnh động vật thân mềm. Tu hài sống vùi trong đáy, lỗ của
chúng thường sâu 20 – 50 cm. Để tránh kẻ thù ban ngày tu hài thụt ống thoát hút nước
vào bên trong vỏ hoặc chỉ thò 1/3 ra ngoài, ban đêm chúng vươn dài ống thoát hút
nước để hút lọc thức ăn trong môi trường. Ống thoát hút nước tu hài rất nhạy cảm chỉ
cần chạm nhẹ hoặc gặp kẻ thù chúng co ống thoát hút nước lại rất nhanh và chui sâu
vào lỗ. Đây là bản năng tự vệ giúp tu hài tránh được kẻ thù.
Ở Việt Nam, tu hài phân bố tập trung ở miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng), hầu
hết các tỉnh miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, ở Khánh Hòa tu hài phân bố ở
vịnh Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang.
Ngao dầu Meretrix meretrix (Linnaeus, 1758)
Ngành Mollusca
Lớp Bivalvia
9
10
Hệ hô hấp: Các loài này hô hấp chủ yếu bằng mang. Mang nằm trong xoang
mang, gồm các đôi lá mang đối xứng nhau, bao gồm đôi lá mang trong và đôi lá mang
ngoài. Mỗi mang gồm hai tấm mang, trên mỗi tấm mang có nhiều sợi mang, trên sợi
mang có các sợi tiêm mao.
Hệ tiêu hóa: Hệ thống tiêu hóa gồm mang, xúc biện, miệng, thực quản, dạ dày,
manh mang tiêu hóa, sợi keo, ruột…
Hệ sinh dục: Tuyến sinh dục bao gồm túi sinh dục, ống sinh dục, ống dẫn sản
phẩm sinh dục.
Một số đặc điểm sinh học khác
Phương thức dinh dưỡng: Phương thức bắt mồi hoàn toàn bị động, bắt mồi theo
hình thức lọc thức ăn nhiều lần. Thức ăn thay đổi theo giai đoạn phát triển của cơ thể.
Giai đoạn ấu trùng phù du chúng ăn sinh vật phù du kích thước nhỏ. Giai đoạn trưởng
thành, chúng ăn sinh vật phù du. Cơ quan bắt mồi (mang, xúc biện) không có khả năng
lựa chọn chủng loại thức ăn. Tất cả các loại mà vừa miệng đều được nuốt hết, do đó
trong dạ dày ta thường thấy có nhiều vật không tiêu hóa được.
1.3
Các nghiên cứu về bệnh Perkinsiosis trên nhuyễn thể hai mảnh vỏ
1.3.1 Bệnh Perkinsiosis ở động vật nhuyễn thể
Ngành: Perkinsozoa
Lớp: Perkinsea
Bộ: Perkinsida
Họ: Perkinsidae
Giống: Perkinsus
Loài: Perkinsus spp.
Giai đoạn nhân bản vô tính (Vegetative multiplication stage) trong mô vật chủ,
nơi xảy ra sự nhân lên của hàng trăm thể dinh dưỡng (Schizogony), làm suy giảm sức
đề kháng của tế bào vật chủ, dẫn đến sự hình thành của các u nang và u hạt.
Giai đoạn tăng trưởng xảy ra khi vật chủ chết, tạo ra môi trường yếm khí thích
hợp cho sự biến đổi từ thể dinh dưỡng sang giai đoạn tiền bào tử động. Theo như quan
sát, các mô sắp chết cung cấp môi trường ki khí gần tương đồng với những thông số
môi trường trong môi trường FTM.
Giai đoạn tăng sinh trong nước biển là nơi mà các tiền bào tử động trưởng thành
và tiến hành nguyên phân, dẫn đến sự giải phóng của hàng trăm bào tử động thông qua
ống phóng.
Giai đoạn lây nhiễm xảy ra khi các bào tử động tự do di chuyển trong nước bằng
2 roi. Các con nghêu khỏe có thể bị lây nhiễm trong quá trình lọc thức ăn từ nước biển
khi ăn phải các bào tử động này, chúng sẽ biến thành các thể dinh dưỡng và lặp lại chu
kì sống.
Phân bố
Châu Âu: Bồ Đào Nha, Galicia (Tây Bắc Tây Ban Nha), bờ biển Huelva và biển
Địa Trung Hải (Tây Nam Tây Ban Nha).
Châu Á: Bờ biển phía Tây và Nam Hàn Quốc; Quận Kumamoto và Hiroshima
(Nhật Bản); dọc bờ biển phía Bắc Trung Quốc; Việt Nam.
Châu Mỹ: Virginia, Maryland (vịnh Chesapeake), Mỹ.
Châu Úc: Giải đá ngầm, phía Nam Úc.
Hình 1.3: Bản đồ phân bố các loài Perkinsus [11]
13
Bệnh Perkinosis
Dấu hiệu bệnh lý
14
huyết và trai ngọc) nước mặn có giá trị ở tất cả các châu lục [14]. Cho đến nay, 10 loài
Perkinsus khác nhau đã được công bố, tuy nhiên chỉ có 7 loài là có giá trị và được
chấp nhận do sự khác biệt một số đặc điểm chính như: cấu trúc di truyền, độc lực, sự
biến đổi vòng đời, phạm vi địa lý phân bố của KST và các dạng vật chủ [15]. Do
những nguy cơ nghiêm trọng cho thương mại thủy sản toàn cầu, Perkinsus marinus và
P. olseni là hai tác nhân đã được tổ chức Thú y Thế giới đưa vào danh mục các bệnh
bắt buộc phải công bố và kiểm dịch trên nhuyễn thể xuất [16].
Perkinsus olseni (=Perkinsus atlanticus) là kí sinh gây bệnh trên nhiều loài
nhuyễn thể nhất với hơn 40 loài đã được báo cáo cảm nhiễm tự nhiên và nhân tạo với
tác nhân này. So với các loài trong cùng một giống, P.olseni có phân bố địa lý rộng
lớn nhất bao gồm các vịnh thuộc cả châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ và Châu Đại Dương
[16]. Chính vì vậy tác nhân này được cho là đã gây ra sự sụt giảm sản lượng và thiệt
hại kinh tế nghiêm trọng cho nền công nghiệp nuôi trồng thủy sản hai mảnh vỏ của
nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Australia, những nốt sần trên cơ làm giảm giá trị
thương mại và gây chết trên diện rộng cho bào ngư môi đen Haliotis ruber, H.
laevigata và nghêu Tridacna crocea được xác định do sự cảm nhiễm bởi P. olseni
[17]. Tại Hàn Quốc, Park và Choi (2001) cũng cho rằng dịch bệnh do P.olseni là
nguyên nhân gây sụt giảm 80% sản lượng nghêu Ruditapes philippinarum trong những
năm 1990. Tác nhân này cũng được phát hiện kí sinh và trong nhiều trường hợp gây
nên các dịch bệnh cho nhiều loài nhuyễn thể ở các quốc gia châu Á khác như Nhật
Bản, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam.
Blackbourn, Bower và Meyer (1998) đã mô tả loài Perkinsus thứ ba, P. qugwadi
gây hại chủ yếu cho loài điệp Patinopecten yessoensis phân bố tại vùng British
Columbia-Canada với tỷ lệ gây chết cho điệp dưới 1 tuổi và trên 2 tuổi lần lượt là
100% và 60%. Tuy nhiên, các loài điệp khác như Chlamys rublda và C. hastata sống
cùng khu vực với điệp P.yessoensi lại không cho thấy bị nhiễm KST này ngay cả khi
bị cảm nhiễm nhân tạo. Điều này cho thấy tính đặc thù về vật chủ cao của P. qugwadi.