Cần thực hiện giám sát, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật như thế nào để đạt hiệu quả cao - Pdf 34

1

Nhóm 5: Theo anh (chị), cần thực hiện giám sát, kiểm tra việc thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật như thế nào để đạt hiệu quả cao?
A) Một số khái niệm liên quan
1) Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật hay còn gọi là Văn bản pháp quy là một hình
thức pháp luật thành văn (Văn bản pháp) được thể hiện qua các văn bản chứa được
các quy phạm pháp luật do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành để điều
chỉnh các quan hệ xã hội. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2008 của Việt Nam thì Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do
cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức,
trình tự, thủ tục được quy định trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt
buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.


2

2) Cách nhận biết văn bản quy phạm pháp luật


3

3. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. .


4
Hiện nay, theo Hiến pháp năm 2014 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, thì
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta chia làm 2 loại cơ bản : văn bản luật và văn bản dưới
luật.
a- Văn bản luật : là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà nước

chồng chéo, mâu thuẫn với nhau ko.
- Các văn bản cấp dưới có phù hợp với các văn bản cấp trên không? ( ND như
bài nhóm 5)
Công tác kiểm tra, rà soát và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là một hoạt
động quan trọng nhằm rà soát, khắc phục và loại bỏ các văn bản có nội dung sai trái


5

hoặc không phù hợp, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, hợp lý và thống nhất của hệ
thống pháp luật. Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL được Chính phủ xác lập
đầu tiên vào năm 2003 thông qua việc ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP
ngày 14/11/2003 về kiểm tra xử lý văn bản QPPL và sau đó được thay thế bằng
Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010. Đây là những cơ sở pháp lý chủ yếu
và trực tiếp để cơ quan chức năng thực hiện hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản
QPPL. Nhờ đó công tác kiểm tra văn bản thời gian qua đã đạt được một số kết quả
nhất định, từng bước đi vào nề nếp. Số lượng văn bản trái pháp luật ngày càng
giảm, góp phần không nhỏ trong công tác quản lý nhà nước.
Mặc dù vậy, công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của các bộ, ngành và địa
phương trên thực tế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu; chưa được tiến hành
thường xuyên; thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra,
xử lý văn bản QPPL chưa thực sự rõ ràng, rành mạch, chưa theo một cơ chế hoàn
thiện, thống nhất và ổn định. Hơn nữa, những quy định làm cơ sở cho hoạt động
kiểm tra, xử lý văn bản QPPL còn dàn trải. Các luật, điều luật chưa được tổng hợp,
chưa làm rõ bước đi và hình thức thực hiện cơ chế kiểm tra về nội dung cho công
tác kiểm tra văn bản QPPL để hoạt động này mang lại ý nghĩa và hiệu quả thiết
thực.
1.1 Thực trang hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL hiện nay
Theo Báo cáo công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL năm 2014 của Bộ Tư phápvề
tự kiểm tra, xử lý văn bản, các Bộ, cơ quan ngang Bộ (bao gồm cả Bộ Tư pháp) và

văn bản nghiên cứu để xử lý theo quy định.
Bên cạnh đó, một số Bộ như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội… và nhiều địa phương như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Cao Bằng… đã chú trọng tổ chức thực hiện kiểm tra văn bản trực tiếp tại
các cơ quan, đơn vị do mình quản lý và kiểm tra theo chuyên đề, tập trung vào các
lĩnh vực: Tài nguyên - môi trường, thương mại, xây dựng, giáo dục - đào tạo, dân
tộc, văn hóa, y tế… Trên cơ sở đó ra kết luận kiểm tra, thông báo văn bản sai, kiến
nghị xử lý gửi đến cơ quan đã ban hành văn bản và cơ quan có thẩm quyền để chỉ
đạo thực hiện. Đồng thời, từ các nguồn thông tin (các phương tiện thông tin đại
chúng, cơ quan, tổ chức và công dân), Bộ Tư pháp đã triển khai kiểm tra, phát hiện
nội dung không phù hợp với quy định pháp luật của nhiều văn bản được dư luận xã
hội quan tâm để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý kịp thời.


7

Từ thực tiễn bất cập và hạn chế trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản
QPPL có thể rút ra được những nguyên nhân chủ yếu như sau:
Thứ nhất, có quá nhiều chủ thể ban hành văn bản QPPLvới nhiều loại văn bản
khác nhau được quy định trong luật. Hiện nay, có tới 11 loại văn bản do 13 chủ thể
có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành, trong đó có một số chủ thể có
thẩm quyền ban hành từ 2 - 3 loại văn bản QPPL. Số lượng nhiều cũng là nguyên
nhân dễ phát sinh sai phạm, nhất là các văn bản của UBND các cấp trong quá trình
tự kiểm tra.
Thứ hai, thể chế phục vụ công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL còn nhiều khiếm
khuyết, như khái niệm văn bản QPPL còn chưa rõ và chưa thống nhất; chưa có chế
định kiểm tra một số văn bản dưới luật, cụ thể như nghị quyết, nghị định của Chính
phủ. Trên thực tế, không ít văn bản loại này còn sai phạm, mâu thuẫn, chồng
chéo… đặc biệt là nghị định (nghị định về ngành, lĩnh vực này mâu thuẫn với nghị
định về ngành, lĩnh vực khác…) vì các văn bản này đều do bộ, ngành dự thảo trình
Chính phủ, Thủ thủ tướng Chính phủ ban hành do đó không tránh khỏi tình trạng

hợp pháp, tính đồng bộ, minh bạch, công khai của hệ thống pháp luật. Theo đó cần
tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về soạn thảo, ban hành, kiểm tra, xử
lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại các bộ, ngành; kịp thời sửa đổi, bổ
sung những quy định trước đây không còn phù hợp. Hoàn thiện các quy định của
pháp luật về kiểm tra văn bản QPPL cần tập trung hoàn thiện quy định về nguyên
tắc kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật; thẩm quyền kiểm tra văn bản QPPL;
thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật; phạm vi, đối tượng, nội dung kiểm tra và
các quy định của pháp luật về điều kiện bảo đảm cho công tác kiểm tra văn bản.
Hai là, cần có một cơ chế quy định rõ trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền ban hành văn bản QPPL, cũng như tổ chức, cá nhân kiểm tra văn bản,
có như vậy công tác ban hành văn bản mới thật sự được quan tâm, nâng cao ý thức
trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của bộ máy nhà nước. Pháp luật hiện nay đã có nhiều quy định về trách nhiệm


9

của tổ chức, cá nhân ban hành văn bản trái luật dẫn đến thiệt hại do việc áp dụng
văn bản trái luật gây ra như quy định về kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; quy
định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước… Tuy nhiên, trên thực tế việc quy
trách nhiệm đối với cá nhân, tổ chức ban hành văn bản còn hạn chế dẫn tới việc ban
hành văn bản tùy tiện, thiếu trách nhiệm chưa bảo đảm được quyền, lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức.
Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản QPPL theo hướng:
- Về mặt tự kiểm tra: Thực hiện theo nguyên tắc văn bản cấp nào ban hành thì cấp
đó tự kiểm tra và tự chịu trách nhiệm. Ví dụ như: Văn bản của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ thì giao cho Văn phòng Chính phủ tự kiểm tra; văn bản của bộ,
ngành do bộ, ngành tự kiểm tra thông qua vụ pháp chế; văn bản của UBND các cấp
giao cho Văn phòng UBND kiểm tra không thông qua các sở, ngành như hiện nay
mà các sở, ngành chỉ thực hiện việc phản ánh, đề xuất nếu như phát hiện văn bản

trọng, khuyến khích hơn nữa của các cơ quan chức năng để kênh thông tin này phát
huy được hiệu quả cao nhất.
2) Kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
- Việc phổ biến và giải thích các văn bản quy phạm pháp luật đến các đối
tượng áp dụng của văn bản đó để nắm được nội dung.
Hình thức phổ biến:
1. Họp báo, thông cáo báo chí.
3. Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểuVB QP pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu
3. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động;
đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của
cơ quan, tổ chức, khu dân cư.
4. Tổ chức thi tìm hiểu pháp luâât.
5. Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp
lý, hòa giải ở cơ sở.
6. Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị và các đoàn thể, câu lạc bô â, tủ
sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở cơ sở.
7. Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.
8. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại
hiệu quả.


11

- Kiểm tra xem việc phổ biến có đúng hay ko? Các đối tượng áp dụng có biết
về nội dung văn bản hay ko?
- Kiểm tra việc thực hiện các VB quy phạm PL thông qua kiểm tra định kỳ,
cần tăng cường bộ máy thanh, kiểm tra để thời gian kiểm tra ngắn nhưng hiệu
quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status