tiểu luận cao học Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đối với xã hội nước ta hiện nay (1) - Pdf 37

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả văn bản quy phạm pháp
luật hành chính trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay.
LỜI MỞ ĐẦU
Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và đời sống cộng
đồng, là sản phẩm của sự phát triển xã hội vừa mang tính khách quan, vừa
mang tính chủ quan. Chính vì vậy, pháp luật có một ý nghĩa và vai trò đặc
biệt quan trọng. Trong bối cảnh xã hội Việt nam hiện nay, Pháp luật là vũ
khí chính trị sắc bén để nhân dân đấu tranh chống lại các lực lượng thù địch,
giữ vững an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội; là cơ sở pháp lý để bộ
máy Nhà nước Việt Nam tổ chức và hoạt động; là công cụ để Nhà nước
quản lý hữu hiệu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; là phương tiện
thiết lập và bảo đảm công bằng, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; là cơ sở
bảo vệ hữu hiệu quyền công dân; đồng thời, pháp luật tạo điều kiện cho
những công cụ quản lý xã hội khác phát triển vì một xã hội công bằng, văn
minh, tốt đẹp hơn.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Nhà nước ta luôn coi xây dựng
pháp luật là một hoạt động cơ bản và quan trọng hàng đầu. Những năm qua,
đặc biệt là khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 ra đời, hoạt
động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
Nhà nước đã gặt hái được những kết quả đáng kích lệ. Góp phần to lớn vào
sự thành công chung đó, phải kể tới hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành công đã đạt được, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương cũng bộc lộ những hạn chế và
bất cập, nhất là vào giai đoạn hiện nay, khi đất nước ta đang trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số
quan hệ xã hội quan trọng vẫn chưa được điều chỉnh; quy trình xây dựng văn


bản quy phạm pháp luật còn chưa được thực hiện nghiêm túc; nội dung
nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, không thống

2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
4. Nghị định của Chính phủ.
5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
6. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,
Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
7. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
9. Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.
10. Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa
Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
11. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ.
12. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân. (1)
2. Quy phạm Pháp luật hành chính
2.1 Khái niệm
Trước hết, quy phạm được hiểu là những quy định chặt chẽ bắt buộc
phải tuân theo, trong đó quy phạm pháp luật được ban hành bởi Nhà nước và
mang tính cưỡng chế. Để thực hiện chức năng quản lí nhà nước các cơ quan


có thẩm quyền ban hành các văn bản quy pham pháp luật (QPPL) để điều
chỉnh hoạt động quản lí hành chính nhà nước. Vậy những QPPL được dùng
để điều chỉnh các quan hệ quản lí hành chính Nhà nước là các QPPL hành
chính. Như vậy, “Quy phạm pháp luật hành chính là một dạng cụ thể của
quy phạm pháp luật, được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát

hành chính có số lượng lớn. Trong đó có những quy phạm có hiệu lực pháp
lí trên phạm vi cả nước và chung cho các nghành, lĩnh vực quản lí nhưng
cũng có những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi một nghành, một
lĩnh vực quản lí hay trong một địa phương nhất định. Theo thống kê từ cơ sở
dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, năm 2009 chỉ riêng chính phủ đã ban
hành đến 3740 văn bản quy phạm pháp luật. Chưa kể đến các bộ, các cơ
quan ngang bộ rồi đến Hội đồng nhân dân, UBND các cấp trên toàn quốc
ban hành.
c. Các quy phạm pháp luật hành chính hợp thành một hệ thống trên cơ sở
các nguyên tắc pháp lí nhất định. Do yêu cầu điều chỉnh thống nhất pháp
luật trong quản lí hành chính nhà nước, các quy phạm phạm pháp luật tuy có
số lượng lớn và hiệu lực pháp lí khác nhau khác nhau song cần hợp thành
một hệ thống.
- Các phạm pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành
phải phù hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan
nhà nước cấp trên ban hành. Ví dụ (VD): UBNH thành phố Hà Nội ban hành
quyết định số 23/QĐ-UB về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải
căn cứ vào luật đất đai năm 2003, nghị định số 88/2009/NĐ-CP của chính
phủ. Nếu không có sự phù hợp sẽ dẫn đến mâu thuẫn, chồng chéo trong giải
quyết vụ việc.


- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước, Chủ
Tịch Nước, Tòa Án nhân dân, viện Kiểm Sát nhân dân ban hành phải phù
hợp với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật do cơ quan quyền lực
nhà nước cùng cấp ban hành. VD: chính phủ ban hành nghị định số
34/2010/NĐ-CP về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ phải căn cứ vào pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính của UBTVQH và
luật giao thông đường bộ của Quốc Hội.
- Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có

lại trong cuộc sống, là kết quả của sự tương tác giữa pháp luật và xã hội, bởi
chức năng chính của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật
hướng cho các chủ thể sống và làm việc một cách hợp tác với nhau, để cùng
nhau đạt được những gì họ muốn, vì lợi ích của tất cả thành viên trong xã
hội.
1. Tính thực tiễn
Việc xem xét, đánh giá một văn bản quy phạm pháp luật không còn
dừng lại ở việc đánh giá nó theo các tiêu chí nội tại. Ý nghĩa của sự tồn tại
một văn bản quy phạm pháp luật còn được xem xét ở một góc độ khác, đó là
tính thực tiễn và hiệu quả của nó, đó là kết quả của sự tác động của các quy
phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội được điều chỉnh, đến các đối tượng
được áp dụng. Ở trên thế giới, hiệu quả của một luật được đánh giá căn cứ
vào mục tiêu mà các nhà làm luật đặt ra. Cụ thể là: một luật có hiệu quả khi
luật đó đạt được các mục tiêu đặt ra. Ở Việt Nam, một khái niệm tương đồng
có thể được tìm thấy trong Từ điển Luật học, đó là “hiệu quả của pháp luật”.
Theo Từ điển Luật học, hiệu quả của pháp luật được hiểu là kết quả cụ thể
của sự tác động pháp luật đến các quan hệ xã hội so với mục tiêu, yêu cầu


đặt ra khi ban hành pháp luật. Hiệu quả của pháp luật có thể được đánh giá
theo từng cấp độ khác nhau: hiệu quả của quy phạm pháp luật, của chế định
pháp luật, của ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật hoặc nếu phân chia
theo hình thức, chúng ta xét đến hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật.
Hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật đề cập đến mối quan hệ
giữa pháp luật và xã hội. Đây không đơn thuần là vấn đề pháp lý, mà bao
trùm cả vấn đề xã hội có liên quan. Pháp luật thuộc phạm trù lý thuyết và xã
hội thuộc phạm trù thực tiễn. Pháp luật được hình thành từ nhu cầu thực tiễn,
nhưng không phải lúc nào cũng phản ánh đúng thực tiễn. Giữa lý thuyết và
thực tiễn luôn tồn tại khoảng cách. Khoảng cách này sẽ ngày càng rộng nếu
pháp luật không xuất phát từ nhu cầu của xã hội, không phản ánh đúng các

Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật tạo ra những tác động không
mong muốn đối với xã hội. Thực tế cho thấy, có những văn bản quy phạm
pháp luật được ban hành không đạt được mục tiêu được các nhà làm luật đề
ra, mà lại dẫn đến một kết quả không mong đợi khác. Ví dụ về quy định cấm
họp chợ ở vỉa hè, lòng đường, cấm họp chợ cóc (Nghị định 34/NĐ-CP ngày
2/4/2010 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ). Quy định này có thể được coi là không hiệu quả
khi vẫn xuất hiện tình trạng bán hàng rong. Đấy là những kết quả không
mong muốn. Hay trong thời gian gần đây, hiệu quả của pháp luật được quan
tâm hơn lúc nào hết qua vụ việc một lái xe tải cố ý cán chết người. Sự việc
xảy ra khi lái xe đâm bị thương một cô gái. Sau đó, lái xe đó đã quyết định
cán chết cô gái đó. Bởi căn cứ vào quy định của pháp luật, cụ thể là của Bộ
luật Dân sự, lái xe gây tai nạn sẽ phải chịu các chi phí bồi thường rất lớn cho
nạn nhận bị thương. Do vậy, người lái xe đã cán chết người bị thương để có


thể giảm thiểu chi phí đền bù cho gia đình nạn nhân (xem Điều 609, 610 Bộ
luật Dân sự).
Từ dẫn chứng trên, có thể thấy rằng, chính các quy định của pháp luật
đã khiến cho người lái xe thay đổi cách xử sự, từ một vụ vô ý gây thương
tích dẫn đến cố ý giết người, bởi trách nhiệm dân sự do gây tai nạn chết
người lại nhỏ hơn nhiều so với trách nhiệm dân sự do gây thương tích.
Trong trường hợp này, hiệu quả của pháp luật dường như đã không được
bảo đảm.
Như vậy, hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật, hay tính khả thi
chính là tiêu chí cần thiết để đánh giá ý nghĩa của sự tồn tại hay giá trị của
văn bản đó. Giá trị của một văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá qua
những tác động cụ thể của nó vào thực tiễn các quan hệ xã hội mà nó điều
chỉnh và những tác động này được xem xét trong mối tương quan với các
mục tiêu đặt ra cho văn bản. Đây là một xu hướng mới trong việc đánh giá

pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức cũng như nội dung.
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng việc phân biệt giữa mặt nội dung
và mặt hình thức chỉ là tương đối, mang giá trị học thuật. Về mặt hình thức,
một quy phạm pháp luật dù được soạn thảo đúng quy trình, thủ tục, nhưng
không bảo đảm kỹ thuật soạn thảo, (ví dụ: không đảm bảo đúng cấu trúc của
quy phạm pháp luật, hoặc không rõ ràng về mặt ngữ nghĩa), sẽ khó có thể
đem lại hiệu lực mong muốn. Ngược lại, những quy phạm được soạn thảo
tốt về mặt kỹ thuật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền ban hành thì
cũng sẽ không có hiệu lực. Do vậy, văn bản quy phạm pháp luật phải đáp
ứng được tính hợp pháp.
Những yêu cầu về mặt nội dung cần phải được hiểu theo nghĩa rộng,
không chỉ là những yêu cầu thuần túy về mặt câu từ, ngữ nghĩa, mà cần phải


hiểu ở việc tiếp nhận văn bản này từ đối tượng mà nó hướng tới, cũng như
tác động của nó đến xã hội. Văn bản quy phạm pháp luật đó cần phải đáp
ứng yêu cầu quản lý nhà nước; phải hợp lòng dân, thể hiện ý chí, lợi ích
chung của người dân. Đó là tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật (2).
Tính hợp lý của một văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở mức độ phù hợp
với thực tiễn hoặc ở mức độ phát sinh các chi phí bất hợp lý cho các đối
tượng áp dụng của văn bản đó. Nếu như tính hợp pháp của văn bản quy
phạm pháp luật là điều kiện quyết định sự tồn tại của văn bản quy phạm
pháp luật, thì tính hợp lý mang lại cho văn bản khả năng thực thi cao. Một
văn bản quy phạm pháp luật có tính hợp lý sẽ giúp cho các chủ thể tuân thủ
một cách nghiêm túc và tự nguyện, bởi nó không chỉ mang lại lợi ích cho
chủ thể mà còn mang lại lợi ích chung cho cả xã hội. Tính hợp lý của văn
bản quy phạm pháp luật tuy không phải là yếu tố quyết định việc tuân thủ
pháp luật của các chủ thể, nhưng không phải vì thế mà mất đi ý nghĩa quan
trọng của nó trong việc đảm bảo tính pháp chế của pháp luật. Trong một đất
nước mà nền pháp chế ngày càng được đề cao, thì tính hợp lý của luật ngày

33/2012/TT-BNNPTNT ngày 20/7/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn quy định điều kiện vệ sinh, đảm bảo an toàn thực phẩm đối với cơ
sở kinh doanh thịt và phụ phẩm ăn được của động vật ở dạng tươi sống dùng
làm thực phẩm. Thông tư này chưa kịp có hiệu lực đã bị thu hồi lại do không
đạt được tính hợp lý. Theo quy định của Thông tư 33, thịt tươi sống chỉ được
bày bán trong vòng 8 giờ đồng hồ kể từ khi giết mổ nếu được bảo quản ở
nhiệt độ thường. Thông tư này bị chỉ trích vì thiếu thực tế, chưa sát với điều
kiện thực tế, cũng như chưa chặt chẽ (không nêu rõ được đơn vị nào sẽ chịu
trách nhiệm kiểm tra, chế tài xử phạt ra sao,...).


Ngoài ra, hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sẽ được nâng cao
nếu như có nội dung thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật khác
trong hệ thống pháp luật. Thực tế cho thấy, có nhiều văn bản quy phạm pháp
luật dù đảm bảo tính hợp pháp trong mối quan hệ dọc với Hiến pháp và các
văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn nhưng lại có những
quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác trong mối
quan hệ ngang. Những mâu thuẫn thậm chí những quy định trái ngược nhau
giữa các văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo nên những xung đột pháp luật
gây cản trở cho việc thực thi văn bản luật. Những xung đột pháp luật này sẽ
làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, việc
bảo đảm tính thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp cho
các văn bản này đạt được hiệu lực cao.
- Nhóm nguyên nhân thứ hai xuất phát từ các yếu tố bên ngoài của văn bản
quy phạm pháp luật: khả năng tổ chức thực thi của các cơ quan thi hành
pháp luật, khả năng tiếp cận pháp luật của các chủ thể, tình trạng tuân thủ
pháp luật của các chủ thể, khả năng được xã hội chấp nhận…. Có thể thấy
rằng, nghiên cứu mặt bên ngoài của một văn bản quy phạm pháp luật là
nghiên cứu ảnh hưởng của văn bản đó đến thái độ của các chủ thể. Một văn
bản quy phạm pháp luật có hiệu lực khi văn bản đó có giá trị bắt buộc thi

tổ chức thi hành, giám sát việc thực hiện của các cơ quan thực thi. Vì vậy,
vai trò của các cơ quan thực thi pháp luật là rất quan trọng. văn bản quy
phạm pháp luật sẽ có hiệu lực cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện
một cách nghiêm túc và triệt để. Việc xử lý vi phạm pháp luật được thực
hiện theo ba bước: Phát hiện vi phạm; xem xét, đánh giá; đưa ra phương
hướng xử lý. Mỗi bước trên đều có khả năng làm ảnh hưởng đến hiệu lực
văn bản quy phạm pháp luật. Những hạn chế, trở ngại trong việc thực hiện


pháp luật thường có nguồn gốc, hoặc ít nhất chịu tác động từ phía cơ quan
thực thi pháp luật. Nếu như các cơ quan này không hành động, không triển
khai việc áp dụng; không giám sát việc thi hành, tuân thủ pháp luật thì hiệu
lực của văn bản quy phạm pháp luật sẽ không được bảo đảm. Bên cạnh đó,
những quy định không rõ ràng, chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan
thực thi cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện pháp luật. Ví dụ,
liên quan đến việc kinh doanh thực phẩm trong Luật An toàn thực phẩm, có
tới ba Bộ có trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện các quy định của
Luật. Đó là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công
thương. Thực trạng việc quản lý các thực phẩm trên thị trường hiện nay cho
thấy, việc quy định thẩm quyền cho nhiều cơ quan cùng lúc và không nêu rõ
cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này sẽ dẫn đến khó có thể đưa đến sự
thống nhất giữa các quy định được ban hành, cũng như cơ chế thực thi
chúng.
3.2. Mục tiêu của văn bản quy phạm pháp luật
Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật chỉ có thể được đánh
giá khi so sánh với mục tiêu mà văn bản đó đề ra. Văn bản quy phạm pháp
luật sẽ có hiệu quả khi thực hiện được các mục tiêu của mình. Mục tiêu là
một loạt các hoạt động, kết quả cụ thể cần phải thực hiện được theo kế hoạch
đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được.
Mục tiêu là nền tảng hoạt động của nghiên cứu, là cơ sở cho việc đánh giá

pháp luật không được nêu rõ sẽ gây ra tình trạng văn bản quy phạm pháp
luật bị phản ánh sai lệch trong quá trình thực hiện. Để có thể đánh giá xem
văn bản quy phạm pháp luật có được thực hiện đúng với ý muốn của các nhà
làm luật hay không, chúng ta lại phải làm công việc ngược lại là xác định
mục tiêu của văn bản luật đó căn cứ vào việc xem xét tổng thể các quy phạm


pháp luật được thể hiện trong đó. Tình trạng có thể xảy đến là việc hiểu và
giải thích các quy định của luật sẽ trở nên khó khăn. Thậm chí, có thể xảy ra
tình trạng mâu thuẫn giữa mục tiêu và các quy định trong luật, làm ảnh
hưởng đến hiệu quả của luật. Thực tế hoạt động lập pháp ở Việt Nam cho
thấy, rất nhiều văn bản luật không nêu rõ mục tiêu của mình gây nên tình
trạng các văn bản này bị khúc xạ bởi những văn bản hướng dẫn thuộc quyền
lập quy (5). Tình trạng này xảy ra khi các văn bản lập quy không phản ánh
đúng tinh thần, nội dung của luật, hoặc trái luật. Cụ thể, đó là khi các văn
bản pháp quy vượt quá hoặc thu hẹp phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh.
Hậu quả là ý chí chung của nhân dân, lợi ích chung của xã hội không được
đảm bảo.
Ý muốn của các nhà làm luật, mục tiêu mà văn bản quy phạm pháp
luật phải thực hiện, không chỉ cần được nêu rõ, mà còn cần phải thống nhất.
Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được soạn thảo và ban hành nhằm
thực hiện nhiều mục tiêu nhưng các mục tiêu này cần phải thống nhất với
nhau. Thực tế cho thấy, một luật đa mục tiêu thường có thể dẫn đến tình
trạng xung đột giữa các mục tiêu. Lấy ví dụ về pháp luật cạnh tranh. Pháp
luật cạnh tranh là một ngành luật có mục đích cụ thể, được xây dựng để bảo
vệ và phát triển nền kinh tế thị trường. Mỗi quốc gia sẽ xây dựng hệ thống
pháp luật cạnh tranh phù hợp với những nhu cầu riêng của nước mình, tùy
thuộc vào sự phát triển, hoàn cảnh kinh tế xã hội, nền văn hóa pháp lý và các
ưu tiên của các quốc gia đó. Các quốc gia phát triển trên thế giới cho rằng,
pháp luật cạnh tranh đa mục tiêu có thể dẫn tới xung đột giữa các mục tiêu.

các văn bản lập quy cũng cần được nâng cao về mặt chất lượng. Để làm
được việc này, bên cạnh việc chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực, bộ
phận pháp chế của các Bộ, ngành cần phải chủ động phối hợp với nhau và có


sự tham khảo ý kiến của đa số quần chúng nhân dân trước khi ban hành một
văn bản dưới luật cụ thể.
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật cần phải đảm bảo được khả năng tiếp
cận của quần chúng nhân dân. Để đảm bảo cho công dân được chủ động tiếp
cận thông tin, cơ quan nhà nước phải chủ động công bố công khai những
trình tự thủ tục rõ ràng thuận tiện để người dân có thể dễ dàng tiếp cận được
thông tin khi có nhu cầu. Ngoài ra, người dân có thể tiếp cận được thông tin
ngay cả khi không có nhu cầu bằng việc cơ quan nhà nước chủ động công
khai thông tin trên các trang thông tin điện tử của cơ quan hoặc thông qua
các kênh phổ biến kiến thức khác để đông đảo quần chúng được biết mà
không cần phải yêu cầu.
Thứ ba, liên quan đến các cơ quan thực thi pháp luật. Văn bản quy phạm
pháp luật sẽ có hiệu lực cao khi được các cơ quan thực thi thực hiện một
cách nghiêm túc và triệt để việc áp dụng luật. Các cơ quan này cần phải
được trang bị không chỉ về cơ sở pháp lý, mà còn cả cơ sở vật chất cũng như
nguồn nhân sự để đảm bảo việc thực hiện pháp luật ở mọi cấp độ. Các văn
bản quy phạm pháp luật cần phải nêu rõ thẩm quyền của các cơ quan có liên
quan cũng như nêu rõ các cơ quan đầu mối cùng cơ chế phối hợp giữa các
cơ quan đó. Cơ chế phối hợp này nên được thiết lập theo hướng sắp xếp về
mặt cơ cấu, thủ tục sao cho công tác kiểm tra, giám sát, xử lý các hành vi vi
phạm pháp luật cạnh tranh được thực hiện một cách thống nhất. Có thể áp
dụng cơ chế theo dõi chung và theo dõi riêng giữa các cơ quan này. Theo đó,
cơ quan đầu mối sẽ được phân thẩm quyền theo dõi chung việc thi hành các
quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó. Các Bộ, ngành được Chính
phủ phân công chủ trì soạn thảo văn bản pháp luật chuyên ngành có trách

quả của các văn bản quy phạm pháp luật, từ đó đi tìm các giải pháp tương


ứng nhằm nâng cao hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật của Việt
Nam hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
(1). Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội khóa XII kỳ
họp thứ III ban hành ngày 03/06/2008.
(2) Nguyễn Minh Đoan, “Vấn đề hiệu quả của pháp luật”, Nhà nước và
Pháp luật số 3/2001, tr. 3
(3) Nguyễn Đức Lam, “Tính cạnh tranh của nền pháp luật”, trích dẫn từ
http://chungta.com/

Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luat-

Phap/Tinh_canh_tranh_cua_nen_phap_luat/, 2005
(5) PGS. TS. Hoàng Thị Kim Quế, “Chế độ pháp chế thống nhất, hợp lý và
áp dụng chung”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, Số 9 (162) 2005, trang 11-12.
Xem thêm:
(6) Tham khảo một số tài liệu khác

Mục lục
Tên đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả văn bản quy
phạm pháp luật hành chính trong quản lý xã hội ở nước ta hiện nay
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Tìm hiểu về văn bản quy phạm pháp luật
1. Văn bản quy phạm pháp luật là gì.
2. Quy phạm Pháp luật hành chính
2.1 Khái niệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status