Cần làm gì để phát hiện những điểm chưa hợp lý của một văn bản quy phạm pháp luật - Pdf 34

1

Đề bài thảo luận nhóm 4
Cần làm gì để phát hiện những điểm chưa hợp lý
của một văn bản quy phạm pháp luật
Bài làm
Tất cả các mối quan hệ xã hội phát sinh đều được pháp luật điều chỉnh. Hình
thức thể hiện của pháp luật chính là thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
Như vậy, vấn đề đặt ra là, muốn tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân
hiệu quả thì phải giúp họ nhận biết văn bản quy phạm pháp luật là cái gì, tiếp cận
nó từ đâu và áp dụng nó ra sao???
dựa vào kiến thức và kinh nghiệm bản thân, nhóm xin trình bày một số vấn
đề liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật một cách thực tế nhất, gợi mở
thêm một số vấn đề để mọi người cùng thảo luận
A. Cơ sở lý luận
Theo Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (sau đây
gọi chung là Luật năm 2008) định nghĩa về văn bản quy phạm pháp luật như sau:
“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành
hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy
định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt
buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng
thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.”
Từ định nghĩa trên, ta thấy văn bản quy phạm pháp luật có những đặc trưng
sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền ban hành, nghĩa là, không phải mọi văn bản đều có thể gọi là văn bản quy
phạm pháp luật, mà chỉ những văn bản nào được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thi hành bằng các
biện pháp như: tuyên truyền, giáo dục thuyết phục; các biện pháp về tổ chức hành
chính, kinh tế. Trong trường hợp cần thiết thì Nhà nước áp dụng bằng biện pháp
cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với người có hành vi vi phạm
2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. .
Hiện nay, theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002, thì hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật ở nước ta chia làm 2 loại cơ bản : văn bản luật và văn bản dưới luật.
a- Văn bản luật : là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc Hội là cơ quan
quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành theo trình tự và thủ tục được quy định trong
Hiến pháp. Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất. gồm có : Hiến pháp, Luật
(hoặc bộ luật), nghị quyết.


3

- Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, là
nền tảng, cơ sở để ban hành các luật và văn bản dưới luật. Hiến pháp quy định
những vấn đề cơ bản nhất là nhà nước và xã hội như chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, văn hoá xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước.
- Luật hoặc bộ luật: Quốc hội nước ta giữ quyền ban hành hiến pháp, luật và
bộ luật. Luật, bộ luật chứa đựng các quy phạm pháp luật, là những văn bản có hiệu
lực pháp lý sau hiến pháp, phù hợp với hiến pháp; vừa là văn bản cụ thể hóa Hiến
pháp, bảo đảm cho Hiến pháp được thực hiện, vừa là cơ sở cho các cơ quan có
thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm PL để thực hiện quản lý các lĩnh vực
của đời sống XH.
- Pháp lệnh: Do UBTVQH ban hành; Pháp lệnh chỉ quy định những vấn đề
cụ thể do Quốc hội quyết định và giao ủy quyền, trên cơ sở chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh của Quốc Hội. Vì thế, pháp lệnh là văn bản lập pháp ủy quyền,

cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức chính trị - xã hội. Có 3 loại văn bản liên tịch sau:
Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ; Thông
tư liên tịch giữa Tòa án NDTC với Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc giữa các
cơ quan này với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết,
thông tư liên tịch giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương
của tổ chức chính trị - xã hội
3. Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.
Để mỗi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đi vào cuộc sống có thể
phát huy tác dụng, bảo đảm hiệu lực thực tế và hiệu quả điều chỉnh của văn bản, thì
cần phải xác định rõ, chính xác giới hạn hiệu lực của văn bản cả về thời gian,
không gian và đối tượng thi hành. Đó cũng là điều kiện để thiết lập một trật tự thứ
bậc nghiêm ngặt về hiệu lực giữa các văn bản, bảo đảm hình thành được một hệ
thống văn bản quy phạm PL có tính thống nhất cao.
- Hiệu lực về thời gian của mỗi văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn
phạm vi tác động của văn bản về thời gian, được tính thời điểm phát sinh hiệu lực
cho đến khi chấm dứt hiệu lực của văn bản. Thông thường, một văn bản quy phạm
pháp luật có hiệu lực từ ngày công bố và hết hiệu lực khi có văn bản khác thay thế
hoặc hủy bỏ. Một số văn bản ghi rõ thời điểm phát sinh và chấm dứt hiệu lực,
những văn bản này mặc nhiên hết hiệu lực khi đến thời điểm đã ghi trong văn bản.
Cá biệt, một số văn bản quy phạm PL có hiệu lực sau ngày công bố một thời gian,
hoặc có những quy định có hiệu lực trước ngày công bố văn bản (gọi là hiệu lực
hồi tố) và các trường hợp này được được ghi rõ trong văn bản.
- Hiệu lực về không gian của văn bản quy phạm pháp luật là giới hạn phạm
vi tác động của văn bản về mặt không gian, có thể là toàn bộ lãnh thố quốc qua,
một vùng hoặc một địa phương nhất định. Việc xác định hiệu lực không gian có
thể dựa vào căn cứ: Dựa vào điều khoản xác định hiệu lực không gian văn bản; đối
với các văn bản quy phạm pháp luật không có điều khoản xác định hiệu lực không
gian thì phải dựa vào thẩm quyền cơ quan ban hành và nội dung văn bản để xác



a) Có căn cứ pháp lý cho việc ban hành;
b) Những văn bản làm căn cứ pháp lý đó đã được ký ban hành, thông qua
vào thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra.
Căn cứ pháp lý làm cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy
định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra
và xử lý văn bản QPPL là những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý


6

cao hơn đang có hiệu lực hoặc đã được ký ban hành, thông qua tại thời điểm kiểm
tra văn bản. Theo đó những văn bản sử dụng làm căn cứ để ban hành văn bản
QPPL là những văn bản QPPL, có giá trị pháp lý cao, nghĩa là các văn bản hành
chính thông thường như (công văn, tờ trình, kế hoạch, thông báo…) không phải là
căn cứ để ban hành văn bản QPPL.
Căn cứ pháp lý được xem là cơ sở để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính
thống nhât của văn bản. Khi tiến hành kiểm tra một văn bản QPPL, người có thẩm
quyền kiểm tra sẽ xem xét nội dung của văn bản được kiểm tra với những văn bản
là căn cứ pháp lý để ban hành văn bản đó làm cơ sở để đối chiếu, so sánh nhằm xác
định nội dung của văn bản được ban hành có phù hợp với Hiến pháp, Luật và văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên. Trong quá trình kiểm tra
văn bản, căn cứ vào những văn bản làm cơ sở pháp lý người có thẩm quyền kiểm
tra văn bản tìm hiểu xem văn bản được ban hành đó có căn cứ pháp lý cho việc
ban hành không? Trường hợp đối tượng và phạm vi điều chỉnh của văn bản được
kiểm tra không đúng với quy định trong các căn cứ pháp lý để ban hành văn bản,
điều đó có nghĩa rằng việc quy định nội dung đó là không có căn cứ pháp lý. Ví dụ:
Quyết định số…của UBND tỉnh A về việc ban hành quy định về khu dân cư xã,
phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường, cơ sở tôn giáo đạt tiêu
chuẩn.Theo quyết định trên đối tượng điều chỉnh bao gồm: xã, phường, thị trấn, cơ
quan, doanh nghiệp, nhà trường, cơ sở tôn giáo nhưng căn cứ Thông tư số

làm cơ sở pháp lý để kiểm tra nghị quyết đó có quy định khác nhau về cùng một
vấn đề thì áp dụng quy định của pháp lệnh.
Mặt khác trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ
quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định
của văn bản được ban hành sau. Đối với văn bản do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng
văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý nhà nước về ngành,
lĩnh vực liên quan đến vấn đề đó. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật
mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ
hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.
2. Ban hành đúng thẩm quyền.
Thẩm quyền ban hành văn bản bao gồm: thẩm quyền về hình thức và thẩm
quyền về nội dung.
a) Thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành
văn bản theo đúng hình thức đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân.
b) Thẩm quyền về nội dung là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành
văn bản phù hợp với thẩm quyền của mình theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó căn cứ pháp lý còn là cơ sở để xác định việc văn bản đó được
ban hành có đúng thẩm quyền không? Ví dụ: theo quy định tại Thông tư số
02/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 hướng dẫn về phí, lệ phí thuộc thẩm quyền


8

quyết định của HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngthì mức phí vệ
sinh, phí qua đò…thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh nhưng UBND tỉnh
lại ban hành quyết định quy định các mức thu phí này. Như vậy việc UBND tỉnh
ban hành quyết định mức thu các loại phí trên là không đúng thẩm quyền theo quy



9

pháp lý làm cơ sở để ban hành văn bản đó. Cụ thể trong quá trình kiểm tra người
có thẩm quyền kiểm tra văn bản xem xét, đối chiếu, xem nội dung của văn bản
được ban hành có phù hợp với quy định pháp luật, quy định của cơ quan nhà nước
cấp trên không? Để từ đó đưa ra kết luận về việc văn bản đó được ban hành có đảm
bảo tính hợp hiến, hợp pháp hay không? Ví dụ: Đối với quyết định, chỉ thị của
UBND để đảm bảo tính hợp hiến hợp pháp thì quyết định, chỉ thị đó phải phù hợp
với Hiến pháp, luật, văn bản cơ quan nhà nước cấp trên ở trung ương và phải phù
hợp với Nghị quyết của HĐND cùng cấp.
4. Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình
bày theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, căn cứ pháp lý còn là cơ sở để xem xét, đánh giá, kiểm tra việc
áp dụng văn bản QPPL trong ban hành văn bản QPPL. Đây là một trong những căn
cứ quan trọng để xác định, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính chính xác của
văn bản, là cơ sở để kết luận việc áp dụng văn bản QPPL đã đúng chưa? đã chính
xác chưa? đã đảm bảo đúng nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL và thứ bậc hiệu lực
pháp lý chưa? Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp
lý để ban hành văn bản QPPL được kiểm tra có quy định khác nhau về cùng một
vấn đề (có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên) thì khi đó người kiểm tra văn bản sẽ căn cứ vào nguyên tắc áp dụng văn bản
QPPL và thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản QPPL để kiểm tra xem văn bản
được kiểm tra đó có áp dụng quy định của văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn
không? Ví dụ, khi kiểm tra một Quyết định của UBND mà thấy giữa nghị định của
Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở pháp lý để kiểm tra
quyết định đó có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng quy định của
nghị định. Khi kiểm tra một nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện mà thấy giữa
quyết định của Thủ tướng Chính phủ và pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Thông thường, văn bản qppl có hiệu lực áp dụng trong khoảng thời gian từ
ngày văn bản có hiệu lực cho đến ngày văn bản hết hiệu lực, trừ một số trường
hợp:
+ Một phần nội dung của văn bản có hiệu lực trở về trước: Phần nội dung có
hiệu lực trở về trước đó sẽ được áp dụng trước thời điểm văn bản có hiệu lực.
+ Hiệu lực của văn bản bị gián đoạn do bị đình chỉ thực hiện trong một
khoảng thời gian
+ Văn bản đặc thù chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian: Cho dù không có
văn bản nào khác thay thế hủy bỏ các văn bản này để đưa nó về tình trạng hết hiệu
lực thì hiệu lực áp dụng của nó cũng chỉ nằm trong khoảng thời gian đã được quy
định.
+ Văn bản bị sửa đổi bổ sung đính chính: mặc dù tình trạng vẫn còn hiệu lực
nhưng những nội dung bị sửa đổi thay thế đính chính thì không còn hiệu lực nữa.
Ngày hết hiệu lực của những nội dung trên là ngày có hiệu lực của văn bản bị sửa
đổi bổ sung đính chính (hoặc quy định ngày cụ thể khác).


11

c) Thời điểm hết hiệu lực
Một văn bản chỉ hết hiệu lực khi có văn bản khác của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thay thế hủy bỏ bãi bỏ hoặc hết thời hạn có hiệu lực được quy định
ngay tại văn bản đó.
Trong thực tế có rất nhiều trường hợp cơ quan ban hành văn bản không biết
được trước đây mình đã ban hành những văn bản, quy định nào cho nên cuối văn
bản thường phòng hờ một đoạn “Những quy định trước đây trái với quy định của
văn bản này đều bị bãi bỏ”
Mặc dù Luật ban hành văn bản quy định rõ phải chỉ định rõ tên văn bản,
điều, khoản, điểm bị thay thế sửa đổi…. Tuy nhiên thực tế áp dụng bạn phải vận
dụng hết kiến thức, kinh nghiệm, sự trợ giúp từ nhiều nguồn để có thể tránh trường

bảo đảm cả tính hợp pháp và tính hợp lý. Mặt khác, để bảo đảm tính hợp pháp và
hợp lý của nội dung và hình thức thì thủ tục xây dựng và ban hành chúng cũng
phải theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với lý luận và thực tiễn, nghĩa là
thủ tục đó cũng phải bảo đảm tính hợp pháp và tính hợp lý. Trong đó, tính hợp
pháp là yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế, còn tính hợp lý là yêu cầu của
nghệ thuật quản lý, của chính cuộc sống [1].
Tính hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật là sự phù hợp của văn bản
đó với thẩm quyền, nội dung, hình thức và phương pháp quản lý của các chủ thể
quản lý trong khuôn khổ pháp luật quy định. Tính hợp pháp đối với thủ tục xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là sự phù hợp của hoạt động xây
dựng và ban hành văn bản đó với các yêu cầu về thủ tục do luật định.
Còn tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật là sự thể hiện phương án
được lựa chọn để điều chỉnh đối tượng quản lý trong văn bản là phương án tốt
nhất. Văn bản đó biểu hiện tính khả thi và hiệu quả cao nhất về kinh tế - chính trị,
xã hội; được sự đồng thuận của mọi người.
Sẽ là lý tưởng nếu văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đáp ứng tốt
các yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý. Sự hài hòa giữa tính hợp pháp và tính
hợp lý là rất quan trọng và cần thiết vì không có gì làm phiền lòng người dân hơn
tình cảnh: Hành động hợp lý thì không hợp pháp, mà hợp pháp thì không hợp
lý [2]. Do đó, khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật không thể tách rời tính
hợp pháp với tính hợp lý mà phải luôn tính đến tính hợp pháp bên cạnh tính hợp lý,
tính khả thi của các biện pháp được đề ra trong văn bản đó.
Tính hợp pháp và tính hợp lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng
không thể đồng nhất với nhau. Việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật đáp
ứng yêu cầu hợp pháp đơn giản hơn đối với yêu cầu về tính hợp lý vì tính hợp pháp
có những tiêu chí định lượng rõ ràng; trong khi đó, tính hợp lý lại phụ thuộc nhiều
vào tiêu chí định tính. Những biểu hiện của tính hợp pháp được pháp luật quy định
khá cụ thể nên dễ nhận biệt. Trong khi đó, thước đo của tính hợp lý đều được rút ra
từ những nguyên tắc chung của pháp luật lẫn các quy tắc chung của cuộc sống nên
phần nhiều phụ thuộc vào quan điểm cá nhân của mỗi người. Do đó, việc đánh giá

hết các văn bản này vẫn còn hiệu lực, nó sẽ không đảm bảo tính hợp lý.
Ngoài ra, trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ
hiện hành, việc quy định mức phạt như nhau cho các địa phương không giống nhau
là việc làm cần phải xem xét lại. Trong khi mỗi địa phương mỗi khác, miền núi
khác miền xuôi, nông thôn khác thành thị về địa lý, điều kiện kinh tế, tập quán,
thói quen, ý thức pháp luật khác nhau. Vì thế, một số thành phố trực thuộc trung
ương đã đề xuất Chính phủ cho phép tăng mức xử phạt vi phạm hành chính trong


14

một số lĩnh vực là việc làm xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn tuy còn có những
tranh luận khác nhau nhưng cũng có nhiều ý kiến ủng hộ quan điểm này [3].
3. Sự tác động trở lại của tính hợp lý đối với tính hợp pháp
Năm 2004, khi Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết
định số 210/2004/QĐ-UBND về quy định thủ tục xử phạt qua hình ảnh một số
hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại Thành phố, tại
thời điểm đó, Quyết định đó được cho là có dấu hiệu trái luật vì không phù hợp với
các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (Cục Kiểm tra văn
bản QPPL của Bộ Tư pháp đã có Công văn thông báo cho Ủy ban nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh về vụ việc này). Tuy nhiên, cho rằng đây là thủ tục xử phạt được
cho là rất mới mẻ, mang tính cách mạng và rất hiện đại nên UBND TP. Hồ Chí
Minh đề nghị giữ nguyên hiệu lực của văn bản này. Bởi lẽ, trong quyết định,
UBND TP. Hồ Chí Minh không tạo ra các hành vi hành chính, mà chỉ thu thập,
củng cố chứng cứ cho vững chắc để xử lý vi phạm thông qua hình ảnh.
Sau đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 238/2006/QĐ-TTg
ngày 24/10/2006 quy định về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ
của lực lượng cảnh sát nhân dân trong hoạt động tuần tra, kiểm soát về trật tự, an
toàn giao thông được coi là một giải pháp đúng đắn nhằm đáp ứng nhu cầu khách
quan trên. Sau đó, Bộ Công an ban hành Thông tư số 11/2007/TT-BCA ngày

bản đó hợp pháp, hợp lý nhưng phải hợp cả lòng dân nữa.
Thứ ba, soạn thảo, ban hành văn bản là một hoạt động đặc thù. Những người
tham gia công tác này đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn và pháp lý vững vàng,
kinh nghiệm tốt trong quản lý và phải nắm vững kỹ năng soạn thảo văn bản. Bởi
vì, văn bản quy phạm pháp luật có những yêu cầu rất cụ thể, rõ ràng về tính hợp
pháp và trong nhiều trường hợp là cả tính hợp lý. Hiện nay, trình độ chuyên môn,
trình độ tham mưu của các cơ quan soạn thảo còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu
cầu đặt ra. Do vậy, tình trạng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật không hợp
pháp và hợp lý là điều khó tránh khỏi [4]. Do đó, cần phải tiếp tục kiện toàn và
nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức thực tiễn lẫn trình độ pháp lý cho đội ngũ
cán bộ, công chức, phát huy vai trò của chuyên gia và khả năng tham mưu của đội
ngũ này khi tham gia vào việc soạn thảo, ban hành, thi hành văn bản quy phạm
pháp luật. Bên cạnh đó, phải có cơ chế huy động trí tuệ tập thể, đánh giá một cách
toàn diện những ưu và khuyết điểm của mỗi phương án để từ đó tìm ra phương án
khả thi, hợp lý nhất.
Thứ tư, cấp trung ương cần mạnh dạn phân cấp quản lý cho địa phương,
nhằm đề cao tính chủ động sáng tạo của địa phương trong hoạt động chấp hành điều hành, hạn chế hiện tượng “xé rào” khá phổ biến và tình trạng mâu thuẫn,
chồng chéo của các văn bản. Vì rằng, mỗi cấp quản lý có mục tiêu, nhiệm vụ riêng
cũng như có những công cụ, phương tiện cần thiết để thực hiện một cách tốt nhất
những mục tiêu, nhiệm vụ đó.


16

Sau gần 20 năm thi hành Luật năm 1996, 10 năm thi hành Luật năm 2004 và
6 năm thi hành Luật năm 2008, Nhà nước ta đã xây dựng được một hệ thống pháp
luật đồ sộ (xin xem Báo cáo tổng kết thi hành hai Luật kèm theo), góp phần vào
thành tựu chung của gần 30 năm Đổi mới, phục vụ đắc lực cho sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước; ý thức pháp quyền được nâng lên rõ rệt,
tạo điều kiện cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.


nghiệm trong việc triển khai thực hiện, có việc còn lúng túng. Đất nước ta đang
trong quá trình chuyển đổi, nhiều quan hệ xã hội mới được định hình, tính ổn định
chưa cao; quá trình hội nhập quốc tế nhanh, sâu rộng đặt ra nhiều yêu cầu mới và
áp lực lớn đối với việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp
luật.
Về nguyên nhân chủ quan:
Một là, tư duy về xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật chưa theo kịp đòi
hỏi của nền kinh tế thị trường, chưa phù hợp với nguyên tắc pháp quyền trong quản
lý xã hội; đặc biệt là nhận thức chưa đầy đủ và đầu tư chưa đúng mức cho việc xây
dựng chính sách pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật.
Hai là, sự tồn tại song song hai Luật cùng điều chỉnh về việc ban hành văn
bản pháp luật trong một thời gian dài là trái với bản chất thống nhất của hệ thống
pháp luật trong một nhà nước đơn nhất; việc phân cấp, phân quyền giữa trung ương
và địa phương không rõ.
Ba là, còn nhiều bất cập của chính các quy định của hai Luật hiện hành như
khái niệm quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật không rõ, dẫn đến một số văn
bản chỉ đạo, điều hành, thậm chí áp dụng pháp luật lại được đưa vào hệ thống văn
bản pháp luật, ngược lại có văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật lại được xây
dựng, ban hành không theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản pháp luật; chưa tách
bạch quy trình xây dựng, thông qua chính sách với quy trình soạn thảo văn bản,
dẫn đến có tình trạng “vừa thiết kế vừa thi công” trong xây dựng, ban hành văn bản
pháp luật, kể cả các luật; quy định chưa hợp lý về trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân trình dự án luật, pháp lệnh trong việc bảo vệ các chính sách do mình
đề xuất; chưa có quy định cụ thể về cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội trong việc thực
hiện quyền sáng kiến lập pháp và soạn thảo luật, pháp lệnh; chưa quy định rõ trách
nhiệm của các cơ quan, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan đối với việc chậm ban
hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh hoặc ban hành văn bản pháp
luật trái với văn bản của cấp trên, gây thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp...
Để khắc phục những nguyên nhân của bất cập, hạn chế nêu trên, đồng thời

quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; tăng cường vai trò chủ động của Chính phủ
trong đề xuất, xây dựng chính sách và tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật; thẩm
quyền ban hành văn bản pháp luật của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, của
chính quyền địa phương phù hợp với nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
phạm vi phân cấp, phân quyền; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con
người, quyền công dân; phát huy dân chủ, tăng cường tính minh bạch, công khai
trong trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm sự đồng bộ
với các nội dung liên quan của các dự án luật về tổ chức bộ máy nhà nước đang
được sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới theo quy định của Hiến pháp.
Thứ ba, kế thừa những nội dung còn phù hợp của Luật năm 2008, Luật năm
2004, một số quy định của Luật năm 1996, đồng thời đổi mới quy trình xây dựng,
ban hành văn bản pháp luật, trọng tâm là đổi mới giai đoạn phân tích và đánh giá
tác động của chính sách pháp luật; xác định trách nhiệm liên tục của Chính phủ và


19

các chủ thể khác trình dự án luật, pháp lệnh trong suốt quy trình Quốc hội, Ủy ban
thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh; đơn giản hóa quy
trình xây dựng một số loại văn bản, bổ sung một số trường hợp ban hành văn bản
pháp luật theo quy trình rút gọn. Những nội dung đổi mới quy trình xây dựng, ban
hành văn bản pháp luật là nhằm vừa tạo sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng, vừa
bảo đảm tính kịp thời trong ban hành văn bản pháp luật




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status