Luận văn thạc sĩ Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhật bản ở việt nam - Pdf 34

MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC
ASEAN
ASEM
BOT
BT
BTO
CNH,HĐH
CNHT
CNXH
FDI
GDP
IMF
JETRO
JICA
NICs
ODA
OECD
TNHH
VJEPA
WTO

Diễn dàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Diễn dàn hợp tác Á - ÂU
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh

giải quyết việc làm và tăng thu nhập, tranh thủ kỹ thuật, công nghệ và phương
pháp quản lý tiên tiến hiện đại, từ đó thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việt Nam cũng không phải là ngoại
lệ, trong số các quốc gia đầu tư vào Việt Nam thì Nhật Bản nổi lên là một nhà
đầu tư lớn.
Năm 2013 là năm kỷ niệm 40 năm thành lập quan hệ ngoại giao hợp
tác Việt Nam - Nhật Bản, đánh dấu một mốc son lớn trong lịch sử quan hệ
ngoại giao giao giữa hai nước. Kể từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay,
quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản đã bước vào một thời kỳ phát
triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Năm 2002, lãnh đạo cấp cao hai nước nhất trí
xây dựng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản theo phương châm đối tác tin cậy, ổn
định lâu dài; Tháng 7/2004 hai bên đã ký Tuyên bố chung Vươn tới tầm cao
mới của quan hệ đối tác bền vững; Tháng 10/2006, xây dựng quan hệ giữa
hai nước hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á;
Tháng 11/2007, tuyên bố chung Làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Nhật
bản và Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược; Tháng
4/2009, với Tuyên bố chung, hai bên chủ trương xây dựng Quan hệ đối tác
chiến lược vì hòa bình và phồn vinh Châu Á.
Xét về lĩnh vực đầu tư, từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế, Nhật Bản là
một trong các quốc gia đầu tiên đầu tư vào Việt Nam và FDI của Nhật Bản


4

luôn được đánh giá cao về chất lượng và tính ổn đinh. Sau khi Việt Nam ban
hành Luật đầu tư nước ngoài (29/12/1987), dòng vốn FDI từ Nhật Bản đầu tư
vào Việt Nam hơn một năm sau có khoảng 1 triệu USD, mở đầu là dự án đầu
tư của công ty Kansai Kyodo trong lĩnh vực chế tạo thiết bị cảng ở Hải Phòng
năm 1989, tiếp đến là dự án xuất khẩu may mặc của công ty Hikosen Kara vào
tháng 3 năm 1990. Sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức

Nội, 2005.
Trần Quang Minh - Phạm Quý Long (Chủ biên), Xây dựng đối tác
chiến lược Việt Nam - Nhật Bản: Nội dung và lộ trình, Nxb Từ điển bách
khoa, Hà Nội, 2011.
Nguyễn Văn Tận, Đóng góp của Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế
của Việt Nam, Lào, Campuchia từ sau chiến tranh lạnh đến nay, Bài trình bày
tại hội thảo khoa học Quan hệ giữa Nhật Bản và các thành viên mới của
ASEAN và hợp tác phát triển hành lang Đông - Tây Đà Nẵng, 2009.
Phan Minh Tuấn, Đầu tư trực tiếp Nhật Bản vào Việt Nam: cơ hội,
thách thức, triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu Đông bắc á, số 2/2007.
Trần Thị Ngọc Quyên, Đầu tư trực tiếp của Nhật bản và phát triển
mạng lưới sản xuất ô tô tại Đông Á, Nxb Công an Nhân dân, 2012.
Phạm Đăng Hưng, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN (2009) Luận văn thạc
sỹ, Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia của Nhật Bản ở Việt Nam.
Nguyễn Huy Hoàng, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN (2012) Luận văn thạc
sỹ, FDI của Nhật bản vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO.
Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn của việc thu hút và sử dụng vốn FDI của Nhật Bản ở Việt Nam.
Đặc biệt với công trình: “Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản và phát triển mạng
lưới sản xuất ô tô tại Đông Á”, TS. Trần Thị Ngọc Quyên đã chỉ ra khá rõ nét


6

các hoạt động đầu tư FDI của các doanh nghiệp ô tô Nhật Bản tại Việt Nam,
cũng như thực tiễn tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào mạng lưới sản
xuất ô tô của Nhật Bản tại Đông Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng; với
công trình này tác giả luận văn đã kế thừa được một số tài liệu quí giá phục
vụ cho việc thực hiện đề tài này. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên
cứu vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam

năm hợp tác kinh tế và văn hóa Việt Nam - Nhật Bản đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, đồng thời sử dụng
tổng hợp các phương pháp: hệ thống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh
để rút ra các kết luận cần thiết làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp sơ đồ, bảng biểu, mô hình
hóa… để nghiên cứu đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề thu hút và sử
dụng vốn FDI của Nhật Bản ở Việt Nam.
- Góp phần tổng kết 40 năm đầu tư vốn FDI của Nhật Bản ở Việt Nam.
- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định cơ chế, chính
sách của Nhà nước về thu hút và sử dụng vốn FDI nói chung và FDI từ Nhật
Bản ở Việt Nam nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương
Chương 1. Cơ sở lý luận về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp của
Nhật Bản ở Việt Nam.
Chương 2. Tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp của Nhật
Bản ở Việt Nam.
Chương 3. Quan điểm và giải pháp thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực
tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam.


8


9



10

doanh nghiệp”. Theo khái niệm này, có thể thấy FDI gắn liền với hai yếu tố:
lợi ích lâu dài và quyền quản lý thực sự đối với doanh nghiệp. Lợi ích lâu dài
chính là mối quan tâm lâu dài của nhà đầu tư khi tiến hành đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác. Để đạt được mục tiêu này
đòi hỏi phải có mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp
nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với
việc quản lý doanh nghiệp này. Quyền quản lý thực sự doanh nghiệp chính là
quyền kiểm soát doanh nghiệp. Cùng với quyền kiểm soát doanh nghiệp, các
nhà đầu tư có thể tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua chiến lược hoạt động
của công ty, thông qua, phê chuẩn kế hoạch hành động do người quản lý hàng
ngày của doanh nghiệp lập ra, quyết định việc phân chia lợi nhuận doanh
nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên.
Theo khái niệm do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD đưa ra
thì: “FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ
kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại
khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng
cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc
toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham
gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm), nắm quyền
kiểm soát (nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên)”.
Khái niệm của OECD về cơ bản giống như khái niệm của IMF, cũng nhấn
mạnh đến hai yếu tố cấu thành nên đặc trưng của FDI là mối quan hệ lâu dài
và tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm
này chỉ ra cụ thể hơn các cách thức để nhà đầu tư tạo ảnh hưởng đối với hoạt
động quản lý doanh, đó là hoặc “thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp

khẩu sang nước thứ ba; Phát triển các cơ sở sản xuất ở nước ngoài; Đảm bảo
nguồn cung cấp các linh kiện cho các cơ sở chế tạo, lắp ráp (bao gồm cả các
cơ sở sản xuất của Nhật Bản ở nước ngoài); Tránh rủi ro về hối đoái.


12

Theo kết quả của cuộc điều tra của Ngân hàng xuất nhập khẩu (Exim
Bank), đối với một số lượng lớn các công ty Nhật Bản có tham gia vào hoạt
động FDI ở khu vực này cho thấy, hoạt động đầu tư của Nhật Bản tập trung
chủ yếu vào việc khai thác nguồn lao động rẻ của Việt Nam (65,3%), phát
triển thị trường mới (61,1%) và xuất khẩu sản phẩm sang nước thứ ba
(28,4%), trong khi đó lý do phổ biến nhất hiện nay cho hoạt động FDI của
Nhật Bản đầu tư vào khu vực Đông Nam Á thì thứ tự tầm quan trọng lại là:
duy trì và mở rộng thị phần (64,5%); tiếp theo là xuất khẩu sản phẩm sang
nước thứ ba (42,6%); và tiếp đó mới là đảm bảo khai thác nguồn lao động rẻ
(40,1%) ở khu vực này
1.1.2.2. Về nguyên tắc đầu tư
FDI của Nhật Bản nói chung thường được thực hiện theo nguyên tắc cơ
bản là đầu tư vào lĩnh vực khai thác đối với những nước giàu tài nguyên thiên
nhiên; đầu tư vào ngành chế tạo ở những nước có cả nguồn tài nguyên thiên
nhiên và nhân lực dồi dào; đầu tư vào lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ đối
với những nước có nền công nghiệp phát triển cao hơn. Nguyên tắc này về
thực chất phản ánh đặc điểm cơ cấu đầu tư theo mô hình đầu tư theo ngành
của Nhật Bản. Phần lớn FDI của Nhật Bản ở khu vực Đông Nam Á nói chung
và Việt Nam nói riêng là đầu tư vào ngành chế tạo để tận dụng và khai thác
triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn lao động ở khu vực
này. Thời kỳ từ 1951 - 1990, FDI của Nhật Bản vào ngành chế tạo ở khu vực
này chiếm 46,8% tổng FDI của Nhật Bản trên toàn khu vực. Từ đầu thập kỷ
90 đến nay, tuy tỷ phần của ngành chế tạo trong tổng đầu tư của Nhật Bản vào

mà tiêu biểu là các dây chuyền lắp ráp xe máy và ô tô hay các thiết bị điện tử
phục vụ sinh hoạt như TV, Casset, hoặc các dây chuyền cắt may quần áo
Một khía cạnh khác về phương thức thực hiện FDI của Nhật Bản ở Việt
Nam tương tự như ở Trung quốc và các nước khác trong khu vực châu á, là
nhằm mục đích mở rộng thêm thị trường mới, FDI của các công ty Nhật Bản


14

ở Đông Nam Á thường là “hình thành các cơ sở sản xuất mới” và “mở rộng
các sơ sở sản xuất sẵn có”. Khác với ở Mỹ, Canada và các nước thuộc khối
EU, một số lượng lớn FDI của Nhật Bản ở đây thường được thực hiện theo
phương thức là “mở rộng các cơ sở sản xuất sẵn có” và tiếp theo là “phát triển
các cơ sở tiêu thụ”, đây cũng là lý do giải thích cho hoạt động FDI của Nhật
Bản ở các nước này thường thấy ít xuất hiện các cơ sở sản xuất mới
Riêng ở Việt Nam cũng như những nước thuộc ASEAN thì ngay cả
việc “mở rộng các cơ sở sản xuất sẵn có” cũng chủ yếu là thông qua việc hình
thành thêm các cơ sở sản xuất mới của các công ty mẹ ở nước sở tại.
Trong liên doanh hoặc hợp doanh với các đối tác địa phương, các công
ty Nhật Bản thường đầu tư theo phương thức tập thể gồm mấy công ty con mà
nòng cốt của nó là một công ty “mẹ”, một công ty đa quốc gia hay một công
ty thương mại tổng hợp, hơn là thực hiện FDI theo phương thức một công ty
đơn độc nhằm mục đích tối thiểu hoá, hay chia sẻ rủi ro trong kinh doanh ở
nước ngoài.
1.1.2.4. Về phương pháp tạo vốn FDI của Nhật Bản
Thực tế qua điều tra về dòng FDI của Nhật Bản ở khu vực Đông Nam
Á nói chung và Việt Nam nói riêng cho thấy, các nguồn vốn FDI của các
hãng Nhật Bản để đầu tư ở nước ngoài không phải là hoàn toàn xuất phát từ
nguồn vốn nội bộ của công ty “mẹ” trong nước mà chủ yếu là nguồn cung cấp
do gây vốn từ bên ngoài. Theo quan điểm của các công ty đa quốc gia của

các công ty (ngân hàng) thương mại của Nhật Bản tham gia vào đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài cùng với các hãng sản xuất là chiến lược quản lý quốc tế
khá độc đáo của Nhật Bản. Các công ty chế tạo tại Nhật Bản thường tiến hành
FDI cùng với các nước sở tại thường được chế tạo ra với thế “3 người 4 chân”
có nghĩa là gồm hãng đầu tư, công ty, ngân hàng thương mại và đối tác địa
phương. Trong thực tế tỷ lệ đầu tư của các ngân hàng thương mại này thường
xê dịch từ 10 - 20%. Chính sự kết hợp đầu tư này đã tạo ra được sự quản lý,


16

thế ràng buộc vững chắc giữa các bên đầu tư và tiếp nhận đầu tư, thúc đẩy các
bên phải tích cực hợp tác có hiệu quả. Tuy nhiên, khi đã tích luỹ đủ vốn và
kinh nghiệm trong hoạt động đầu tư tại nước sở tại, các công ty chế tạo Nhật
Bản thường có xu hướng tách khỏi các ngân hàng thương mại để giành quyền
chủ động trong điều hành và quản lý hoạt động tài chính của bản thân công ty
họ và liên doanh.
Trong chính sách tài chính của Nhật Bản đối với FDI, chính phủ cũng
lập quỹ dự trữ để bảo hiểm cho các công ty thực hiện hoạt động đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài, ưu tiên cho các công ty đầu tư trong khu vực có rủi ro cao
như ở Đông Nam Á. Chính sách này cũng đã khuyến khích các nhà đầu tư
Nhật Bản yên tâm hơn khi thực hiện đầu tư ở khu vực này.
1.1.2.5. Về quy mô các dự án đầu tư
Tuy tổng vốn của FDI của Nhật Bản ở Việt Nam ngày càng tăng lên,
nhưng xét về quy mô đầu tư của từng dự án của Nhật Bản thường ở mức trung
bình trên khía cạnh vốn đầu tư, mặc dù số dự án đầu tư là tương đối nhiều hơn so
với các nhà đầu tư khác. Điều này cũng tương tự như các nước trong khu vực.
Thái Lan là một thí dụ, theo số liệu thống kê cho thấy Nhật Bản thường
sử dụng 12% tổng số vốn đầu tư vào các dự án lớn, 34% vào các dự án cỡ
vừa. Điều này có thể giải thích là một phần do Nhật Bản thường đầu tư vào

dịch vụ kèm theo để đảm bảo được tính cạnh tranh của sản phẩm. Như vậy có
thể thấy chi phí bỏ ra để bắt đầu dự án đầu tư vào thời kỳ này trong vòng đời
của sản phẩm là không lớn, nó chỉ bao gồm những chi phí về cải tiến kỹ thuật
và dịch vụ mà lợi nhuận thu được lại cao do tận dụng được lợi thế về thị
trường sẵn có của sản phẩm.
Hơn nữa xét về yếu tố thời gian bỏ vốn đầu tư, đây cũng là thời kỳ kéo
dài nhất trong chu kỳ vòng đời của sản phẩm.
1.1.2.6. Về phong cách quản lý của Nhật Bản trong thực hiện các dự án FDI
Như đã đề cập ở phần trên, tuy FDI dưới dạng 100% vốn của Nhật Bản
ngày càng có xu hướng tăng lên trong khu vực nhưng cho đến thơì điểm hiện


18

nay thì liên doanh vẫn chiếm tỷ lệ cao. Một vài đặc điểm trong phong cách
quản lý kiểu Nhật Bản trong thực hiện các dự án liên doanh FDI với các đôí
tác địa phương cần được đề cập:
Trong các liên doanh, FDI thường đi cùng với kiểu quản lý của Nhật Bản
trong thời gian dài, tốc độ chuyển giao công nghệ cũng như bí quyết quản lý
chậm. Mặt khác các công ty Nhật Bản thường tiến hành hoạt động R & D tại chỗ
là không đáng để. Điều này có thế giải thích thông qua các lý do sau:
-

Do mục đích đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là để xây dựng và phát triển các cơ
sở tận dụng các yếu tố thuận lợi có lợi thế so sánh “tĩnh” ở nước này.

-

Các sản phẩm và quy trình sản xuất đưa vào Việt Nam cũng như các nước trong
khu vực, nhất là thời kỳ trước năm 1995 đều không phải là những sản phẩm quá

trong tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý của các chuyên gia phía đối tác
cũng là một trong những điều kiện quan trọng góp phần vào quyết định FDI
của Nhật Bản.
1.1.3. Các hình thức đầu tư vốn trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam
Cũng như các quốc gia khác, Nhật Bản sử dụng các hình thức sau đây
trong việc đầu tư vốn FDI vào Việt Nam:
Thứ nhất: Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Theo qui định điều 7 nghị điịnh 12/CP. Hợp đồng hợp tác kinh doanh là
văn bản ký kết của 2 bên hay nhiều bên qui định trách nhiệm và phân chia kết
quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà
không cần thành lập pháp nhân.
Hình thức này có đặc điểm: Không ra đời một pháp nhân mới. Cơ sở
của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh. Trong hợp đồng nội dung
chính phản ánh trách nhiệm quyền lợi giữa các bên với nhau (không cần đề
cập đến việc góp vốn). Thời hạn cần thiết của hợp đồng cho các bên thoả
thuận phù hợp với tính chất, mục tiêu kinh doanh và được các cơ quan cấp
giấy phép kinh doanh chuẩn y. Hợp đồng phải do đại diện có thẩm quyền của


20

các bên ký. trong quá trình hợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư cách
pháp nhân của mình.
Thứ hai: Doanh nghiệp liên doanh
Theo 2 điều khoản 2 luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam qui
định: "Doanh nghiệp liên doanh là do hai bên hay nhiều bên hợp tác thành lập tại
Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ
Cộng hoà XHCN Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp
liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.

điều kiện cho nguồn vốn Nhà nước tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ưu
tiên như cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội…Nguồn vốn này cũng
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước.


23

Thứ hai, FDI góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa
xã hội, cấu thành cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội, bao gồm hệ thống kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, hiện đại, nhất
là các tập đoàn, tổng công ty… Đó là những công trình, dự án đòi hỏi vốn lớn
nhưng tốc độ thu hồi vốn chậm, hơn nữa Việt Nam chưa có nhiều kinh
nghiệm quản lý, vì thế thu hút vốn FDI là giải pháp hiệu quả nhất để đáp ứng
nhu cầu trên đây.
Thứ ba, Góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Việt
Nam. Vốn FDI vừa là đầu tư vốn, vừa chuyển giao công nghệ, đào tạo công
nhân, nâng cao trình độ tổ chức quản lý, chuyên môn kỹ thuật cho người lao
động. Vốn đầu tư là cơ sở để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, xây mới các
khu công nghiệp, nhà máy, cung cấp máy móc, thiết bị cho nền kinh tế. Đầu
tư nước ngoài thúc đẩy việc cải tạo, phát triển các ngành công nghiệp, nông
nghiệp truyền thống. Các ngành khác cũng phát triển theo như: công nghiệp
phụ trợ, giao thông vận tải, năng lượng, sản xuất vật liệu xây dựng, các loại
dich vụ thương mại, ngân hàng, bảo hiểm...., mở rộng ngành nghề và quy mô
sản xuất để đáp ứng nhu cầu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, Xuất
nhập khẩu gia tăng nguồn lực làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế.
Thứ tư, Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước do
Đảng ta khởi xướng được bắt đầu từ CNH,HĐH trong lĩnh vực kinh tế. Đó
là tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP, và cũng tương tự đối với tỷ trọng lao động giữa các

năng giải quyết nhiều việc làm cho nước ta do nhu cầu lao động lớn.. Bên
cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao
động. Các doanh nghiệp có vốn FDI có đội ngũ công nhân, nhân viên lành
nghề, có tác phong công nghệp, có kỷ luật cao. Phần lớn lao động trong các
dự án FDI đều được tham gia đào tạo, huấn luyện ở trong và ngoài nước,


25

được tiếp thu những kinh nghiệm quản lý điều hành của các nhà kinh doanh
nước ngoài. Bộ phận lao động trong khu vực FDI sẽ tác động lan truyền sang
các bộ phận lao động khác trong nước. Các cán bộ quản lý và kỹ thuật trong
nước được kích thích nâng cao trình độ khi giao dịch với các đối tác nước
ngoài. Người lao động, nhất là lực lượng lao động trẻ, mong muốn tìm việc
làm trong các doanh nghiệp có vốn FDI để được thử sức trong một môi
trường năng động hơn và có thu nhập cao hơn, từ đó luôn quan tâm hơn đến
việc rèn luyện nâng cao trình độ và tay nghề.
Thứ bảy, Góp phần tích cực vào việc đảm bảo các cán cân đối lớn của
nền kinh tế. Các cân đối lớn của nền kinh tế như cung cầu hàng hóa trong
nước, xuất nhập khẩu, thu chi ngân sách đều thay đổi theo chiều hướng tích
cực nhờ sự đóng góp của FDI. Trong giai đoạn đầu mới phát triển, do trình độ
phát triển thấp, công nghệ, máy móc thiết bị lạc hậu, thiếu vốn…nên năng lực
sản xuất của khu vực kinh tế trong nước của các nước ta còn yếu kém, không
đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào
nhập khẩu. Nguồn vốn FDI sẽ giúp các nước giải quyết được khó khăn trên.
Khu vực có vốn FDI đáp ứng một phần nhu cầu hàng hóa trong nước, làm
giảm căng thẳng cung cầu, giảm sự phụ thuộc hàng nhập khẩu. Không chỉ đáp
ứng nhu cầu nội địa, FDI ngày càng hướng mạnh vào xuất khẩu. Nguồn ngoại
tệ đáng kể từ xuất khẩu sẽ giúp các nước đang phát triển cải thiện cán cân
thương mại. Do nhu cầu hàng hóa trong nước được đáp ứng tốt hơn và có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status