ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------------
HOÀNG THỊ VÂN
HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM VÀ LOGIC
CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------------
HOÀNG THỊ VÂN
HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM VÀ LOGIC
CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60340412
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. TS. Trịnh Ngọc Thạch
2.2.1. Các nguồn lực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện
Tài chính .......................................................................................................... 40
2.2.2. Tình hình triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài
chính ................................................................................................................. 43
2.3. Thực trạng công tác đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học viện
Tài chính .......................................................................................................... 46
2.3.1. Thực trạng về tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại Học
viện Tài chính................................................................................................... 46
2.3.2. Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu ................................................. 52
2.3.3. Đội ngũ đánh giá ................................................................................... 56
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (TRƢỜNG HỢP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH) ... 63
3.1. Căn cứ để hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu tại Học viện
Tài chính .......................................................................................................... 63
3.2. Hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc
điểm và logic của nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính...................... 70
3.3. Khảo nghiệm hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học tại
Học viện Tài chính ........................................................................................... 77
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 82
KHUYẾN NGHỊ.............................................................................................. 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 86
PHỤ LỤC......................................................................................................... 89
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Tên Bảng
STT
1
8
Bảng 2.7: Thang điểm đánh giá đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
9
Sơ đồ 2.8: Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học của
cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên tại Học viện Tài chính
10
Sơ đồ 2.9: Quy trình đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
sinh viên tại Học viện Tài chính
11
Bảng 2.10: Trình độ chuyên môn của ngƣời tham gia đánh giá kết
quả nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính
12
Bảng 2.11: Số lần các cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên tham gia
đánh giá kết quả nghiên cứu tại Học viện Tài chính
13
Bảng 2.12: Cấp đề tài cao nhất mà các cán bộ, giảng viên, nghiên
cứu viên đã tham gia đánh giá kết quả nghiên cứu
gắng trong nghiên cứu. Tuy nhiên, tôi còn gặp nhiều khó khăn về sức khỏe,
thời gian, và trình độ nên kết quả nghiên cứu không thể tránh khỏi những
thiếu sót và hạn chế nhất định. Rất mong nhận đƣợc sự quan tâm, góp ý chân
thành của Quý thầy/cô giáo và các anh/chị học viên để giúp tôi hoàn thiện
Luận văn của mình.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Hoàng Thị Vân
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, nhu cầu nhận thức và
nhu cầu cải thiện đời sống đã thúc đẩy khoa học phát triển mạnh mẽ. Trong
hoạt động nghiên cứu khoa học, luôn tồn tại nhu cầu bàn thảo, tọa đàm, bình
xét, xem xét về một kết quả nghiên cứu. Đó chính là các khía cạnh của việc
đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học.
“Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học là một công việc hết sức cần
thiết trong tổ chức nghiên cứu khoa học. Điều quan trọng trƣớc hết là cần phải
đánh giá đề hiểu đƣợc giá trị khoa học đích thực của kết quả nghiên cứu”
[4;tr.3]. Đối với mỗi tổ chức nghiên cứu, đơn vị giáo dục - đào tạo, hoạt động
đánh giá kết quả nghiên cứu góp phần nhận dạng đúng chất lƣợng của các
công trình khoa học, chọn lựa đƣợc đúng những nhà nghiên cứu xứng đáng
đƣợc vinh danh và từ đó, góp phần quan trọng phát triển hoạt động nghiên
cứu khoa học của tổ chức, đóng góp những kết quả nghiên cứu chất lƣợng có
ích cho xã hội.
Tuy nhiên, hoạt động đánh giá nghiên cứu khoa học ở nƣớc ta chƣa
giá các chƣơng trình nghiên cứu và triển khai của Cộng đồng Châu Âu) đã
nêu ra một số nguyên tắc chung trong việc đánh giá R&D: Quá trình đánh giá
cần tiến hành trong mối liên hệ đến việc hình thành và triển khai các giai đoạn
của nghiên cứu; có thể có đánh giá trong và đánh giá ngoài. Đánh giá trong
thƣờng đƣợc thực hiện bởi các nhà quản lý dự án, tham gia trong quá trình
thực hiện đề tài. Còn đánh giá ngoài là đánh giá của các chuyên gia bên ngoài
không tham gia vào chƣơng trình nghiên cứu. Tuy nhiên theo ông, việc đánh
giá nên đƣợc tiến hành với các chuyên gia ngoài, những ngƣời không tham
gia vào thực hiện chƣơng trình đó. Tác giả nhấn mạnh cần có cơ chế phản hồi
thƣờng xuyên. Đồng thời, tác giả còn đƣa ra đề xuất hội đồng đánh giá cần
2
dừng lại ở mức tƣơng đối nhỏ (từ 6- 8 ngƣời). Thời gian dành cho việc đánh
giá tối đa là 6 tháng cho đánh giá bằng phƣơng pháp “chuyên gia” và 3 tháng
cho đánh giá bằng phƣơng pháp “hội đồng”.
- Tác giả A.M.T Rouban, trong bài viết “Evaluation of R&D
Programmes in France” [24;tr.14-21] (Đánh giá các chƣơng trình R&D của
Pháp) cho rằng mặc dù có thể đƣa ra hệ thống chỉ báo rõ ràng, tuy nhiên khi
tiến hành đánh giá và sử dụng công trình khoa học thì sẽ phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố nhƣ các nhà khoa học, các nhà quản lý, các cơ quan giám sát. Do
vậy, việc đƣa ra một hệ thống chỉ báo có thể áp dụng cho mọi đánh giá vẫn là
vấn đề đang đƣợc bàn cãi.
Các quan niệm của các tác giả kể trên mới chỉ dừng lại ở việc đề ra một
số nguyên tắc, phƣơng pháp chung cho việc đánh giá nghiên cứu và triển
khai.
Ở Việt Nam, bàn về đánh giá nghiên cứu khoa học và tiêu chí đánh giá
nghiên cứu khoa học có nhiều nhà khoa học có công trình nghiên cứu về đánh
giá nghiên cứu khoa học nhƣ tác giả Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn An, Hồ Tú
Bảo,…Trong đó, đặc biệt là tác giả Vũ Cao Đàm với tác phẩm “Đánh giá
ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn. Tác giả đã tìm hiểu về đánh giá nghiên cứu khoa học và xây dựng
tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học áp dụng cho địa chỉ cụ thể là trƣờng
Cao đẳng nghề Hải Dƣơng.
- Lê Ngọc Sơn (2010), “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả
nghiên cứu khoa học của cán bộ trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội”, Luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Trƣờng Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn. Tác giả đã đƣa ra bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng
nghiên cứu khoa học dựa theo 3 bƣớc:
4
+ Bƣớc 1: Tập trung xem xét tính mới dựa trên sự kiện khoa học, vấn
đề khoa học và luận điểm khoa học theo các chỉ tiêu chuẩn mực (40 điểm).
+ Bƣớc 2: Xem xét tính logic của 5 bộ phận: sự kiện khoa học, vấn đề
khoa học, luận điểm khoa học, luận cứ khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu
(35 điểm).
+ Bƣớc 3: Xem xét tổng thể các tiêu chí còn lại nhƣ tiêu chí và mức độ
rõ ràng, tính logic và khoa học của việc luận giải về sự cần thiết nghiên cứu
đề tài; mức độ rõ ràng và khả thi của mục tiêu nghiên cứu; phƣơng pháp
nghiên cứu; tính khoa học, độc đáo, phù hợp của cách tiếp cận; kết cấu , hình
thức theo cấu trúc logic của kết quả nghiên cứu (35 điểm).
- Trần Thị Hồng (2013) “Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả
nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội tại trƣờng Đại học Khoa học, Đại
học Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và
Công nghệ, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tác giả đã nghiên
cứu thực trạng đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học ngành khoa học xã hội
tại trƣờng Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và xây dựng mới một hệ
thống tiêu chí cho việc đánh giá kết quả nghiên cứu ngành khoa học xã hội
về hoàn thiện tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học với các vấn đề
sau:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
+ Khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động đánh giá kết quả nghiên
cứu khoa học của Học viện Tài chính.
+ Nhận diện những hạn chế trong bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên
cứu khoa học của Học viện Tài chính..
+ Đề xuất hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
dựa trên đặc điểm và logic của nghiên cứu khoa học (trƣờng hợp Học viện Tài
chính).
- Phạm vi thời gian: từ năm 2010 – 2014.
6
5. Mẫu khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát:
- Các văn bản quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học; Văn bản
quy định tiêu chí đánh giá nghiên cứu khoa học;
- Các công trình nghiên cứu khoa học; Các luận văn thạc sĩ;
- Giảng viên và nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện các đề tài nghiên
cứu khoa học các cấp tại Học viện Tài chính;
- Các chuyên gia; Cán bộ quản lý, chuyên viên phụ trách hoạt động
nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và
logic của nghiên cứu khoa học cần hoàn thiện nhƣ thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học dựa trên đặc điểm và
logic của nghiên cứu khoa học cần đƣợc hoàn thiện theo hƣớng sau:
+ Xây dựng và bổ xung các tiêu chí dựa trên đặc điểm của nghiên cứu
khoa học hiện nay và hƣớng bổ sung, hoàn thiện các tiêu chí này.
Thông tin thu thập đƣợc từ việc phát phiếu điều tra có cả thông tin định
tính và thông tin định lƣợng. Các thông tin định tính đƣợc tiến hành xử lý
logic để thấy đƣợc bản chất của vấn đề. Các thông tin định lƣợng đƣợc xử lý
theo phƣơng pháp toán học và hệ thống bằng các bảng số liệu.
Sau khi đề xuất hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu
khoa học, tác giả tiếp tục gửi đi 10 phiếu trƣng cầu ý kiến về bộ tiêu chí đánh
giá mới này.
+ Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Có những thông tin, quan điểm có thể không đƣợc thể hiện qua phiếu
điều tra bảng hỏi, do đó, tác giả tiếp tục tiến hành phỏng vấn sâu với mục đích
8
nhằm thu thập đƣợc những thông tin sâu hơn liên quan đến vấn đề nghiên
cứu. Tác giả tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giảng viên và nghiên
cứu viên với tƣ cách là ngƣời tham gia hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu
khoa học, chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học, cụ thể nhƣ sau:
- Phỏng vấn 02 cán bộ (01 Phó Ban Quản lý Khoa học và 01 chuyên
viên trong Ban quản lý Khoa học).
- Phỏng vấn 03 nghiên cứu viên và 02 giảng viên là chủ nhiệm các đề
tài nghiên cứu khoa học thuộc các cấp nhƣ cấp Khoa; cấp Viện, cấp Học viện
và cấp Bộ.
- Phỏng vấn 05 cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên đã tham gia chấm
đề tài nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính).
+ Phương pháp quan sát
Tác giả đã sử dụng phƣơng pháp quan sát để quan sát quy trình nghiệm
thu một đề tài nghiên cứu khoa học; quan sát cách thức quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của Học viện Tài chính; quan sát quá trình làm việc của
hội đồng nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học để có đƣợc cái nhìn tổng
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1. Khái niệm khoa học và nghiên cứu khoa học
1.1.1. Khoa học
Khái niệm “khoa học” từ lâu đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong các lĩnh
vực của cuộc sống. Tuy nhiên để trả lời cho câu hỏi “khoa học là gì?” vẫn còn
rất nhiều cách hiểu về khái niệm này xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau.
Trong Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm,
tác giả đƣa ra 4 định nghĩa về khoa học từ các góc độ: (1) Khoa học là một hệ
thống tri thức; (2) Khoa học là một hoạt động xã hội; (3) Khoa học là một
hình thái ý thức xã hội; (4) Khoa học là một thiết chế xã hội.
1.1.1.1. Khoa học là một hệ thống tri thức
Theo định nghĩa của UNESCO (United Nations Educational Scientific
and Cultural Organization: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của liên
hợp quốc) khoa học là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và
sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.
Ở đây, hệ thống tri thức đƣợc hiểu là hệ thống tri thức khoa học. “Khoa
học, trong trƣờng hợp này, đƣợc hiểu nhƣ một hệ thống tĩnh tại các tri thức,
xem khoa học nhƣ một sản phẩm trí tuệ đƣợc tích lũy từ trong hoat động tìm
tòi, sáng tạo của nhân loại.” [6; tr.12]. Hệ thống tri thức này hình thành trong
lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Cần phân biệt tri
thức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm:
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết đƣợc tích lũy qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con
ngƣời với thiên nhiên. Từ khi đƣợc sinh ra cho đến trƣởng thành và mất đi,
con ngƣời luôn cảm nhận thế giới xung quanh và chịu những tác động trở lại
12
khoa học ngày nay đã trở nên một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp với
mức độ xã hội hóa cao. Đây là hoạt động sản xuất tinh thần rất đặc biệt, đầy
gian khổ và rủi ro. Sản phẩm của hoạt động khoa học ngày càng tham gia
mạnh mẽ vào mọi mặt của đời sống.
Hoạt động khoa học diễn ra với mục tiêu nhận thức về thế giới để thích
nghi với môi trƣờng sống và cải tạo thế giới nhằm tồn tại và phát triển thông
qua việc:
- Tìm tòi, khám phá, phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức
về thế giới
.
- Dựa vào những hiểu biết về quy luật của các sự vật để đƣa ra những
dự báo về quá trình phát triển của sự vật, lựa chọn các cách ứng xử, hƣớng đi
đúng đắn, tránh hoặc giảm thiểu rủi ro.
- Sáng tạo ra các phƣơng pháp kỹ thuật, sự vật mới phục vụ cho cuộc
sống.
1.1.1.3. Khoa học là một hình thái ý thức xã hội
Dƣới tiếp cận Triết học, theo quan điểm triết học Mác, khoa học đƣợc
hiểu là một hình thái ý thức xã hội.
Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính
độc lập tƣơng đối với các hình thức ý thức xã hội khác. Khoa học phân biệt
với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tƣợng và hình thức phản ánh và
mang một chức năng xã hội riêng biệt. Đây là nhận thức quan trọng trong việc
xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội
khác. Trong lịch sử khoa học, mối một phát hiện mới về bản chất sự vật, quy
luật hay sáng tạo giải pháp mới đều có thể dẫn đến những tranh luận, bất đồng
hiểu theo góc độ khoa học là một hệ thống tri thức.
14
1.1.2. Nghiên cứu khoa học
Theo Từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam: Nghiên cứu khoa học là
quá trình hoạt động nhằm thu nhận tri thức khoa học.
Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ Wikipedia, nghiên cứu khoa học là
hoạt động chủ động, tích cực và có hệ thống của con ngƣời nhằm khám phá,
giải thích thế giới xung quanh.
Tuy nhiên, các định nghĩa trên nói đến nghiên cứu khoa học mới dừng
lại ở khía cạnh khám phá và giải thích, hay nói khác đi là nhận thức thế giới,
chứ chƣa đề cập đến khía cạnh sáng tạo, cải tạo thế giới.
Có thể hiểu nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét,
điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt
đƣợc từ các thí nghiệm để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về
thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ
thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
Nhƣ vậy “Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự
vật và sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục
đích sử dụng. Nói cho cùng, nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội
nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức thế giới và cải tạo thế giới” [8; tr.19].
Trong khuôn khổ nội dung của luận văn, khái niệm nghiên cứu khoa
học đƣợc hiểu là quá trình tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật và sáng tạo
các giải pháp tác động trở lại sự vật nhằm biến đổi sự vật phục vụ mục tiêu
hoạt động của con ngƣời.
1.2. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Đặc điểm là nét riêng biệt, dùng để phân biệt sự vật, hiện tƣợng này với
sự vật, hiện tƣợng khác.
nhau: một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, những giải pháp mới
16
trong công nghệ, mô hình tổ chức và quản lý, những vật mẫu mới sau quá
trình thực nghiệm,...
Bản chất của sản phẩm nghiên cứu khoa học là thông tin. “Đó là những
thông tin về quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ và
các thông số đi kèm quy trình đó” [8;18] .Và thông tin đó đƣợc truyền tải qua
các vật mang thông tin khác nhau nhƣ: các báo cáo khoa học; bản mô tả quy
trình, công thức; băng đĩa ghi âm, ghi hình; vật mẫu...
Đặc điểm này đã phân biệt sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa
học với sản phẩm của các hoạt động lao động khác. Hiểu đƣợc đặc điểm này
cũng giúp ngƣời đánh giá kết quả nghiên cứu có sự xem xét, nhận định, đánh
giá một cách tỷ mỷ, kỹ lƣỡng đối với lƣợng thông tin mà mỗi kết quả nghiên
cứu tạo ra thể hiện trên mỗi trang báo cáo, mỗi mô hình, mỗi chi tiết của sản
phẩm…
1.2.4. Tính khách quan
Tính khách quan vừa là một đặc tính của hoạt động khoa học, vừa là
một phẩm chất của ngƣời làm khoa học. Mọi nhận định, kết luận dựa trên cảm
tính, thiếu xác nhận bằng những kiểm chứng từ các phƣơng pháp khoa học
đều đƣợc xem là chƣa khách quan, hay chƣa thể là một phản ánh khách quan
về bản chất của sự vật, hiện tƣợng.
Để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động nghiên cứu khoa học,
ngƣời làm khoa học cần giữ chuẩn mực “hoài nghi” – một trong những chuẩn
mực đạo đức của cộng đồng khoa học. Khi đứng trƣớc một kết luận, ngƣời
nghiên cứu cần đặt các loại câu hỏi ngƣợc lại:
- Kết quả đó có là duy nhất hay không?
- Còn phƣơng pháp nào khác để cho ra kết quả đó hay không?